Bản án 98/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 98/2018/HS-ST NGÀY 25/10/2018 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:85/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 theo  Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố 101/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

 Vũ Đình S, sinh năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 8, xã M, Hện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình S (đã chết) và bà Đỗ Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 6 năm 2018; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 2000; nơi cư trú: khu 3, phường C thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu cá nhân nên ngày 27 tháng 9 năm 2017 Đỗ Đ Đ và Vũ Đình S đã đăng bài viết giả vờ rao bán chiếc xe mô tô Exciter màu xanh (không có biển kiểm soát) của Đỗ Đ Đ với giá rẻ là 6.000.000 đồng lên mạng xã hội Facebook. Khi có người mua xe, Đ và S sẽ liên lạc và dẫn về khu vực vắng người giả vờ thỏa thuận trao đổi mua bán xe, khách hàng giao tiền, không giao xe mà bỏ chạy để chiếm đoạt tiền mua xe. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 9 năm 2017, anh Nguyễn Quốc Đ sinh năm 2000 ở khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thấy tên Facekook Nguyễn Trung A đăng bài viết với nội dung bán xe như trên nên đã liên hệ đặt vấn đề mua chiếc xe trên. S và Đ hẹn anh Đ đến khu vực xã Lưu Kiếm, Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng để giao tiền, nhận xe. Anh Đ rủ bạn là Phạm H Đ sinh năm 2000 ở phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đi cùng.

Khoảng 13 giờ cùng ngày S và Đ đến nhà Bùi Doãn H. Tại đây, Đ nói với H: “Có hai thằng ở Hạ Long mua xe, tý nữa nó đến, anh em mình lấy tiền của nó”. H đồng ý. S bảo rủ thêm Lê Bá K và Nguyễn Văn Q tham gia cùng. S Đ khiển xe Exciter biển kiểm soát 34K8-6051 (là xe của Đ) chở Đ, H đến nhà Q. Tại nhà Q, S, Đ, H gặp Đỗ Đ T. S và Đ nói với cả nhóm: “Có hai thằng ở Quảng Ninh mua xe, dẫn nó về đây lấy tiền mua xe của nó”. Q, T đều đồng ý. Q gọi điện rủ Lê Bá K đi cùng, hẹn K ở đường xã Liên Khê - Lưu Kiếm. K đi xe mô tô biển kiểm soát 16N1-6135 ra ngoài đường quốc lộ 10 thì gặp Q, S, H, Đ và T. Sau đó cả nhóm đi ra khu vực rặng cây bạch đàn thuộc đường liên xã Lưu Kiếm, Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Tại đây, S và Đ nói với K, H, Q, T: “Tý nữa dẫn hai thằng ở Hạ Long mua xe đến đây, anh em sẽ lấy tiền và lấy lại xe”. Cả nhóm đều hiểu việc mua bán xe chỉ là giả. Khi hai người ở Hạ Long tin tưởng giao tiền sẽ không giao xe mà bỏ chạy để chiếm đoạt tiền. Sau đó, cả nhóm thống nhất K và S sẽ đi đón hai người mua xe dẫn vào khu vực chân núi xã Lưu Kiếm giả cho xem xe và chiếm đoạt số tiền mua xe tại đây, còn Q, Đ, H, T sẽ đứng chờ ở ngã ba đường Quốc lộ 10 với đường liên xã Lưu Kiếm - Liên Khê để hỗ trợ S và K nếu hai người mua xe đuổi theo.

Khoảng 14 giờ cùng ngày anh Nguyễn Quốc Đ, Phạm H Đ đi xe mô tô biển kiểm soát 29T4-4845 đến khu vực cây xăng qua cầu Đá Bạc thì thấy S và K đi xe mô tô Exciter biển kiểm soát 34K8-6051 (giống với chiếc xe đăng trên Facebook) ra hiệu để Đ và Đ đi theo. S, K dẫn anh Đ và Đ đến khu vực đường liên xã Lưu Kiếm - Liên Khê, rẽ vào đường đất vòng sát chân núi (gần khu vực nghĩa trang xã Lưu Kiếm) được khoảng 200m thì dừng lại. Quan sát thấy xung quanh vắng người, để anh Đ, Đ tin tưởng giao tiền S bảo anh Đ và Đ kiểm tra xe. Sau khi kiểm tra xe, anh Đ đồng ý mua và đưa tiền cho K 4.000.000 đồng. Do thiếu tiền nên Đ gọi điện thoại cho người quen để mượn thêm tiền. Lợi dụng lúc anh Đ và Đ sơ hở, K Đ khiển xe Exciter chở S bỏ chạy ra Quốc lộ 10. Khi qua đoạn Q, Đ, H, T đang đứng đợi thì K bảo mọi người chặn xe của Đ và Đ lại. Vừa lúc đó, thấy xe của Đ và Đ đuổi theo xe của K và S thì Đ chở H bằng xe mô tô biển kiểm soát 16N1-6135 vượt lên trước xe của anh Đ lạng lách, đánh võng trước xe của anh Đ để anh Đ không đuổi được K và S. Tiếp đó Đỗ Đ T Đ khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1- 59.333 chở Nguyễn Văn Q phía sau. T áp sát xe của anh Đ và Đ giải vờ hỏi cHện mục đích để S và K có thời gian chạy thoát. Anh Đ, Đ nói với T, Q bị lừa mất tiền. T đã nói dối anh Đ, Đ là nhìn thấy hai thanh niên bỏ chạy về hướng cầu Đá Bạc. Anh Đ và Đ tin tưởng đuổi theo về hướng cầu Đá Bạc. S, K đi ngược về hướng cầu Giá vào đường liên xã về nhà Đỗ Đ Đ ở thôn 5, xã Minh Tân, Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Sau đó, cả nhóm tập trung tại nhà Đ, K đưa cho Q số tiền 4.000.000 đồng là số tiền vừa chiếm đoạt được. Q cầm tiền đưa cho Đ 1.600.000đồng, cho bà Nguyễn Thị Minh H sinh năm 1971 ở xã Minh Tân (là mẹ đẻ của Đ)  200.000 đồng. Tiếp đó, cả nhóm về nhà S, Q đưa cho S 400.000 đồng và đưa cho K 1.000.000 đồng. Q và K cùng đi sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua 500.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết. K giữ lại số tiền 350.000 đồng, K đưa lại cho Q 150.000 đồng. Khoảng 15 giờ cùng ngày cả nhóm ra nhà nghỉ Anh Ngọc ở xã Kênh Giang, Hện Thủy Nguyên thuê phòng để cả nhóm sử dụng ma túy. Tại đây, Q đưa cho T và H mỗi người 100.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên đã xử phạt: Lê Bá K 18 tháng tù, Nguyễn Văn Q 15 tháng tù, Đỗ Đ Đ 15 tháng tù và Bùi Doãn H 06 tháng tù cùng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Vũ Đình S bỏ trốn. Ngày 22 tháng 6 năm 2018 S đã đến Cơ quan Cảnh sát Đ tra Công an Hện Thủy Nguyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTN ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Đình S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Đ 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015

- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy Nguyên luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Đình S như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Đ 174; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Đ 51; Đ 38; khoản 3 Đ 7; Đ 17; Đ 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội xử phạt bị cáo Vũ Đình S từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự đã giải quyết xong tại giai đoạn Đ tra. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Vũ Đình S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Thủy Nguyên. Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi bị cáo đã thực hiện, do bị rủ rê, lôi kéo nên bị cáo mới vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về pháp luật áp dụng: Hành vi của Vũ Đình S xảy ra trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 (ngày có hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, căn cứ điểm b khoản 1 Đ 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và khoản 3 Đ 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các Đ khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội phạm, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ mới và các quy định khác có lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó đang bị Đ tra, truy tố, xét xử.

 [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.

 [3] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình S khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan Đ tra, phù hợp với lời khai bị hại, lời khai của những người khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 27 tháng 9 năm 2017, Vũ Đình S cùng với Đỗ Đ Đ, Lê Bá K, Nguyễn Văn Q, Bùi

Doãn H và Đỗ Đ T bằng thủ đoạn gian dối giả bán xe mô tô Exciter biển kiểm soát 34K8-6051 của Đỗ Đ Đ cho anh Nguyễn Quốc Đ, chiếm đoạt của anh Nguyễn Quốc Đ số tiền 4.000.000 đồng đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Đ 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như truy tố và đề nghị kết tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đối với bị cáo Vũ Đình S là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

 [4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

 [5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1; khoản 2 Đ 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

 [6] Về hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm nên cần thiết phải phân hóa vai trò của bị cáo làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt. Trong vụ án này, Vũ Đình S, Đỗ Đ Đ là người đề xuất, trực tiếp thực hiện tội phạm nên giữ vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên, Đỗ Đ Đ thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với bị cáo Vũ Đình S. Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Đ Đ, Lê Bá K, Nguyễn Văn Q và Bùi Doãn H đã được xử phạt tại bản án số 75/2018/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân Hện Thủy Nguyên. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo Vũ Đình S phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Đ 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo Vũ Đình S có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [7] Về dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn Đ tra nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [8] Về án phí: Bị cáo Vũ Đình S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [9] Trong vụ án này, Đỗ Đ T sau khi thực hiện hành vi đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát Đ tra Công an Hện Thủy Nguyên đã ra quyết định truy nã, tách vụ án đối với phần liên quan đến bị can T và quyết định tạm đình chỉ Đ tra bị can đối với Đỗ Đ T. Việc Lê Bá K, Nguyễn Văn Q, Bùi Doãn H, Đỗ Đ Đ, Vũ Đình S khai dùng một phần số tiền chiếm đoạt được để mua ma túy sử dụng tại nhà nghỉ Anh Ngọc. Tuy nhiên, tài liệu Đ tra chưa đủ cơ sở kết luận, hiện tại Đỗ Đ T bỏ trốn nên Cơ quan Đ tra tách ra để Đ tra, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Đ 174; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Đ 51; Đ 38, khoản 3 Đ 7; Đ 17; Đ 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, xử phạt: Vũ Đình S 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Đình S không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Đ 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Đình S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống Đ hoặc bản án được niêm yết.


42
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về