Bản án 99/2019/HS-PT ngày 29/03/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP 

BẢN ÁN 99/2019/HS-PT NGÀY 29/03/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 78/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Trương Văn Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2019/HS-ST ngày 24/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn Tr, sinh năm 1995 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trương Văn Ph và bà Lê Thị Th; có vợ và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 11/12/2018; Tạm giam ngày 20/12/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 11 tháng 12 năm 2018, Võ Bích Ng (tên thường gọi B), sinh năm 1989, ngụ khóm C, phường A, thị xã H điện thoại hỏi mua của Trương Văn Tr 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng và kêu Tr giao ma túy tại nhà trọ TP, thuộc khóm 5, phường A, thị xã H. Tr đồng ý rồi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 61F7-190x đến nhà trọ TP bán ma túy cho Ng, khi đến nơi Tr lấy một bịch ma túy được cất giấu trong túi quần bên trái bán cho Ng nhưng chưa bán được thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thị xã H, tỉnh Đồng Tháp bắt quả tang cùng tang vật.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 (Một) bịch ni-long màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp chưa xác định trọng lượng);

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh;

- 01 (Một) xe mô tô mang BKS 61F7-190x hiệu Honda màu xanh;

- Tiền Việt Nam 360.000đồng;

Khám xét khẩn cấp nhà (chỗ ở) của Trương Văn Tr thu giữ

- 01 (Một) hộp bằng kim loại màu bạc;

- 02 (Hai) cây kéo bằng kim loại màu trắng;

- 02 (Hai) cái bật lửa. (01 màu vàng và 01 màu tím);

- 02 (Hai) đoạn ống mũ nhựa được cắt nhọn một đầu, một cái màu xanh sọc trắng, một cái màu trắng sọc tím, xanh;

- 03 (Ba) bịch nilong bị cắt một đầu.

Qua điều tra Tr khai nhận số ma túy và những đồ vật dùng để sử dụng ma túy thu giữ là của Tr. Ma túy có được là do Tr mua của một người thanh niên tên “Q Bắc Kỳ” không biết họ tên và chỉ biết ở chợ cũ thị xã H. Ma túy Tr mua về với mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác. Ngoài mua ma túy của đối tượng tên Q Bắc Kỳ, Tr còn mua ma túy của Đ1, Nh, Th (không rõ họ và địa chỉ cụ thể).

Tại bản kết luận giám định số: 886/KL-KTHS ngày 14/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: "Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch ni long hàn kín được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,182 gam, loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra, Trương Văn Tr khai nhận khi có đối tượng mua ma túy điện thoại cho Tr, Tr đồng ý và điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 61F7-190x đến bán cho các đối tượng mỗi bịch ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng.

Ngoài lần bán trái phép chất ma túy cho Võ Bích Ng bị bắt quả tang, trước đó Tr còn bán ma túy cho Ng 02 lần. Cụ thể như sau:

+ Lần 1: Vào khoảng cuối tháng 11/2018 bán 01 bịch ma túy với giá 200.000đồng tại Cây Xăng gần phường A, thị xã H.

+ Lần 2: Không nhớ rõ thời gian cụ thể trong năm 2018 bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng gần nhà Ngọc tại Khóm C, phường A, thị xã H.

Ngoài ra Tr còn bán ma túy cho nhiều người khác như:

- Bán ma túy cho Phan Thị Kim Ph (M) 02 lần;

+ Lần 1: Vào trước ngày bị bắt phạm tội quả tang 01 tháng, bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, tại Cơ sở Massage H thuộc ấp AP, xã AB, thị xã H.

+ Lần 2: Cách lần thứ 1 khoảng ½ tháng, trong khoảng tháng 11/2018 bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, tại Cơ sở Massage H thuộc ấp AP, xã AB, thị xã H.

- Bán cho Mai Văn Ch 02 lần:

+ Lần 1: Vào buổi tối cuối tháng 11/2018 bán 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng tại quán BP, thuộc phường A, thị xã H;

+ Lần 2: Không nhớ rõ ngày tháng cụ thể trong năm 2018 bán 01 bịch với giá 200.000 đồng.

- Bán cho Trần Văn C 02 lần:

+ Lần 1: Không nhớ rõ ngày tháng cụ thể trong năm 2018 bán 01 bịch với giá 200.000 đồng tại ấp PX, xã PĐ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

+ Lần 2: Không nhớ rõ ngày tháng cụ thể trong năm 2018 bán 01 bịch với giá 200.000 đồng tại nhà trọ Cây Nh thuộc ấp AT, xã AB, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bán ma túy cho Ph1 (Trống mái) (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) 02 lần: không nhớ rõ thời gian cụ thể trong năm 2018. Địa điểm mua bán tại xã A, huyện T.

Như vậy, Trương Văn Tr đã bán trái phép chất ma túy tổng cộng 11 lần cho 05 đối tượng.

Quá trình điều tra, bị cáo Trương Văn Tr đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án sơ thẩm số 02/2019/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn Tr 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11 tháng 12 năm 2018.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28 tháng 01 năm 2019, bị cáo Trương Văn Tr có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Trương Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức án 09 (Chín) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo không cung cấp thêm tình tiết nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn Tr.

Trong phần tranh luận, bị cáo Tr không ý kiến tranh luận chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Văn Tr đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 11/12/2018, bị cáo Trương Văn Tr điều khiển xe mô tô đến nhà trọ TP thuộc khóm 5, phường A, thị xã H giao ma túy cho Võ Bích Ng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang và thu giữ tang vật là 01 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng. Qua giám định kết luận tinh thể rắn màu trắng trong bịch nylon thu giữ là chất ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 0,182 gam. Ngoài lần bị bắt quả tang, bị cáo còn khai nhận đã 10 lần bán ma túy cho các đối tượng B, Ng, Ph, Ch, C và Ph1.

[3] Đối với hành vi của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo phải nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác trong xã hội. Do đó, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiêm cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy để bảo vệ sức khỏe cho con người, đảm bảo môi trường xã hội phát triển lành mạnh, không còn vấn nạn ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, mức án 9 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới để Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

[6] Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trương Văn Tr, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trương Văn Tr. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Tr 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2018.

Về án phí: Bị cáo Trương Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


43
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 99/2019/HS-PT ngày 29/03/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

      Số hiệu:99/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:29/03/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về