Bản án phúc thẩm 02/2005/TLPT-DS ngày 09/09/2005 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN PHÚC THẨM 02/2005/TLPT-DS NGÀY 09/9/2005 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 09 tháng 09 năm 2005 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2005/TLPT-DS ngày 21 tháng 07 năm 2005 về tranh chấp Hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 542 /QĐXX-PT ngày 09 tháng 08 năm 2005 giữa các đương sự 

1. Nguyên đơn : Công ty TNHH TM Trần Nhi

Trụ sở K63 đường 6 B Bình Hưng, huyện Bình Chánh

Người đại diện theo uỷ quyền : Ông Trần Minh Thuận

Địa chỉ cư trú : 593 Ba Đình Phường 9 Quận 8 TP.HCM

( Văn bản uỷ quyền ngày 10-8- 2005)

2. Bị đơn : Công ty TNHH ABC

Trụ sở 43 hẽm chợ phường 12, Quận Tân Bình

Người dại diện theo pháp luật : Ông Trần văn Khải – Giám đốc

Địa chỉ cư trú : 43 hẽm chợ phường 12, Quận Tân Bình TP.HCM

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Xuân Trung ( Văn phòng Luật sư Sao Mai thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn kiện ngày 11-4-2005 nguyên đơn trình bày ngày 04-8-2004 Cty TNHH TM Trần Nhi và Cty TNHH ABC có ký hợp đồng mua bán số 01-0408/ABC-TN v/v mua bán mặt hàng bánh tráng xuất khẩu, với trị giá là 193.600.000 đ, công ty ABC ứng trước 30% trị giá hợp đồng, phần còn lại sẽ thanh toán sau 20 ngày kể từ ngày nhận hàng. Ngày 4-9-2004 Công ty Trần Nhi đã giao số hàng trị giá là 149.600.000 đồng, phía Công ty ABC thanh toán được 127.000.000 đồng, còn lại 22.600.000 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ không thanh toán tiền hàng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại và tiền lãi suất nợ qúa hạn của ngân hàng từ ngày 27-11-2004 đến 27-3-2005 là 994.400 đồng.

Tại biên bản lời khai và đối chất ngày 6-5-2005 bị đơn trình bày : Do công ty TNHH TM Trần Nhi vi phạm hợp đồng về số lượng giao không đủ và thời gian giao hàng không đúng hạn nên công ty ABC bị thiệt hại gồm : chi phí bốc xếp phân bổ cao vì thuê nhân công bốc xếp lô hàng thiệt hại 350.000 đồng ; do container rỗng thiếu 6m3 hàng nên phía đốc tác bồi thường phí vận chuyển 7.101.000 đồng , chi phí bốc xếp cho 6m3 hàng thiếu tại cảng nước ngoài (nơi hàng đến) 2.035.000 đồng và Công ty TNHH TM Trần Nhi hứa hổ trợ quảng cáo là 1.500.000 đồng. Tổng cộng các khoản trên là 10.968.000 đồng, nay công ty ABC đồng ý thanh toán số tiền còn lại sau khi cấn trừ các khỏan trên

Trong qúa trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng không thành và đưa vụ án ra xét xử theo luật định

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/DSST ngày 29/06/2005 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình đã tuyên xử :

- Chấp nhận 1 phần yêu cầu của nguyên đơn : Buộc công ty TNHH ABC thanh toán cho Cty TNHH TM Trần Nhi 11.620.207 đồng trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự quận Tân Bình

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, bị đơn phải chịu lãi các khỏan chưa thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án

Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo luật định.

Ngày 07-07-2005 nguyên đơn có đơn kháng cáo

Tại phiên Tòa phúc thẩm :

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn yêu cầu y án sơ thẩm

- Luật sư phía nguyên đơn trình bày ý kiến cho rằng :

+ Về thủ tục tố tụng cấp sơ thẩm không cho đóng án phí tạm nộp đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là vi phạm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét theo luật định.

+ Về nội dung thể hiện bị đơn không khiếu nại theo luật định nên nguyên đơn không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Đồng thời, các bên không thỏa thuận mức phạt 10% khi vi phạm về số lượng hàng không đủ và bị đơn không có yêu cầu đòi nguyên đơn chịu phạt nhưng cấp sơ thẩm vẫn xem xét là không đúng pháp luật và không khách quan, vì vậy yêu cầu Tòa chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

I. Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.

II. Về tố tụng : Căn cứ nội dung kháng cáo của nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm vì đã vi phạm thủ tục tố tụng do không đề xuất cho bị đơn đóng tạm ứng án phí khi có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Về yêu cầu này HĐXX phúc thẩm xét thấy trong quá trình thu thập chứng cứ liên quan vụ án bị đơn có yều cầu phản tố đối với nguyên đơn để yêu cầu cấn trừ các khỏan tổng cộng là 10.968.000 đồng, nhưng cấp sơ thẩm chưa đề xuất cho bị đơn đóng tạm ứng án phí trước khi xét xử là có vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên, xét thấy việc vi phạm này là chưa nghiêm trọng nên không cần thiết phải huỷ án, tuy nhiên, cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm với thiếu sót nêu trên.

III. Về nội dung : Xét, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cho rằng hai bên đã thống nhất về thời gian giao hàng và số lượng hàng hoá nên yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 22.600.000 đồng là có cơ sở , bởi lẽ, bị đơn đã thừa nhận còn nợ tiền mua hàng như nguyên đơn trình bày.

Xét, nguyên đơn đồng ý hổ trợ cho bị đơn chi phí xếp dỡ là 341.793 đồng và chi phí quảng cáo hàng là 1.500.000 đồng, tổng cộng 1.841.793 đồng và đồng ý cấn trừ vào tiền hàng còn thiếu, vì vậy, số tiền nợ mua hàng phía bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn là 20.758.207 đồng.

Xét ý kiến của bị đơn nại ra rằng do nguyên đơn vi phạm thời gian giao hàng và số lượng hàng giao không đủ như thỏa thuận trong hợp đồng vì vậy yêu cầu nguyên đơn cấn trừ các khoản bồi thường gồm : 7.101.000 đồng do container rỗng thiếu 6m3 hàng nên phía đốc tác bồi thường phí vận chuyển và 2.035.000 đồng là chi phí bốc xếp cho 6m3 hàng thiếu tại cảng nước ngoài (nơi hàng đến). Tổng cộng các khoản trên là 9.136.000 đồng là không có cơ sở để xem xét, bởi lẽ, căn cứ vào điều 75 và 241 Luật thương mại thì thời hạn khiếu nại được quy định là 03 tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hoá, tuy nhiên, xét thấy, bị đơn xác nhận nguyên đơn giao hàng ngày 04-9 –2004, ngày 7-9-2004 bị đơn giao hàng hoá đã nhận trên cho đối tác và đến ngày 25-09-2004 bị đơn đã nhận văn bản của Vietnam Express Company về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng đến ngày 11-10-2004 và 27-11-2004 phía bị đơn vẫn thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn, ngoài ra, còn thỏa thuận số tiền còn lại sẽ được thanh toán ngay sau khi thanh lý hợp đồng mà không có khiếu nại về việc nguyên đơn vi phạm về hàng giao chậm và thiếu số lượng, tại phiên toà phúc thẩm bị đơn cho rằng có email cho nguyên đơn biết về việc này nhưng không chứng minh được vì vậy không có cơ sở để ghi nhận , do đó, căn cứ vào bản tự khai của bị đơn vào ngày 10- 06-2005 thì thời điểm bị đơn nại ra việc thiệt hại trên để yêu cầu nguyên đơn phải chịu trách nhiệm bồi thường là đã qúa thời hạn khiếu nại, do đó, phía bị đơn đã mất quyền khởi kiện, vì vậy, Toà không xét yêu cầu phản tố trên của bị đơn. Cấp sơ thẩm xem xét yêu cầu trên của bị đơn trong vụ án này là không đúng.

Xét, cấp sơ thẩm nhận định cho rằng do nguyên đơn vi phạm thời gian giao hàng chậm và số lượng hàng không đủ nên áp dụng điều V và điều VII của hợp đồng trên để cho rằng lẽ ra nguyên đơn phải chịu tiền phạt là 30.976.000 đồng nhưng do bị đơn chỉ đòi số tiền bồi thường thấp hơn từ đó chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng pháp luật như đã phân tích trên, vì vậy, nghĩ nên sửa án sơ thẩm cho phù hợp.

Xét, ý kiến của Luật sư trình bày bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đề nghị là phù hợp một phần với nhận định trên.

Về thời gian thi hành án : nguyên đơn yêu cầu thi hành trong hạn 1 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự Quận Tân Bình là tạo điều kiện cho bị đơn thi hành, nghĩ nên ghi nhận

Về án phí KTST : bị đơn phải chịu trên số tiền phải trả, nguyên đơn được nhận lại án phí KTST

Về án phí KTPT: theo quy định tiền tạm nộp án phí kháng cáo là 200.000 đồng nhưng cấp sơ thẩm chỉ đề xuất thu 50.000 đồng là có thiếu sót cần phải rút kinh nghiệm . Do sửa án sơ thẩm nên nguyên đơn không phải chịu án phí KTPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 258, 263, 275, 276 Bộ Luật tố tụng dân sự : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; sửa án sơ thẩm

Ap dụng điều 71, 75 và 241 Luật thương mại và khoản 2 điều 15, khỏan 1 điều 19, khoản 2 điều 20 Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định về án phí Tòa án. Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của TATC-VKSNDTC-BTC-BTP hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản. Tuyên xử :

1- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

- Công Ty TNHH ABC có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH Trần Nhi số tiền mua hàng còn thiếu là 20.758.207 đồng ( Hai mươi triệu bảy trăm năm mươi tám ngàn hai trăm lẽ bảy đồng )

- Ghi nhận sự tự nguyện của Cty TNHH Trần Nhi đồng ý cho Cty TNHH ABC thanh toán số nợ trên trong hạn một tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án dân sự Quận Tân Bình

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chưa chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức nợ quá hạn tương ứng với thời gian chưa thi hành án

2- Về án phí KTST: Công ty TNHH ABC phải chịu là 1.037.500 đồng, Công ty TNHH Trần Nhi không phải chịu án phí KTST, được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 590.000 đồng theo BL số 0030 ngày 18-4-2005 của cơ quan thi hành án dân sự Quận Tân Bình

3- Về án phí KTPT: Công ty TNHH Trần Nhi không phải chịu, được nhận lại tiền tạm ứng kháng cáo là 50.000 đồng theo BL số 0360 ngày 11-7-2005 của cơ quan thi hành án dân sự Quận Tân Bình

Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về