Bản số 155/2018/HSST ngày 21/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN SỐ 155/2018/HSST NGÀY 21/06/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21/6/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 152/2018/HSST ngày 28/5/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:156 /2018/QĐXXST-HS ngày 08 /6/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc N. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1971. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 4, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 3/12.

Con ông:Trần Văn D, sinh năm 1930(đã chết). Mẹ đẻ: Lê Thị C, sinh năm 1941. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Bị cáo có vợ: TrầnThị M, sinh năm 1980. Tiền án, có một tiền án; Tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 26/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 36 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 24/01/2017 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương sinh sống. Hiện bản án này chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/3/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/3/2018, Trần Ngọc N đi bộ từ nhà ở đội 4A, xã T, huyện Đ đem theo 100.000đ đến đội 6 xã T, huyện Đ mục đích tìm mua heroine để sửdụng cho bản thân. Khi  đến nơi, N gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi, Năm đã mua được của người đàn ông đó 02 gói heroine bên ngoài gói bằng nilon màu trắng với giá 100.000đ. Sau khi mua được heoine N cầm 02 gói heroine ở tay trái và đi về nhà. Hồi 18 giờ 40 phút cùng ngày, khi N đi đến đội 7, xã T thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay trái của N 02 gói heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 26/3/2018 đã xác định:

Toàn bộ số cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Trần Ngọc N có khối lượng là 0,34 gam, trích 0,02gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 361/GĐ-PC54 ngày 02/4/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Trần Ngọc N là chất ma túy loại heroine.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSĐB ngày 28/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Trần Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều

249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Ngọc N từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[2].Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Ngọc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

 [3].Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Trần Ngọc N là đối tượng nghiện chất ma túy bị cáo đã đi từ nhà ra đội 6, xã T, huyện Đ mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã gặp một người đàn ông dân tộc thái khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ tại đội 6, xã T và mua được của người đó 02 gói heroine, với giá 100.000đ cầm trên tay trái đi bộ về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc đội 7, xã T thì bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trên người 0,34 gam heroine.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,34 gam, kết luận giám định là heroine. Với hành vi tàng trữ 0,34 gam heroine mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy:

Ngày 26/01/ 2015 bị cáo đã bị Tòa án nhân huyện Đ, xử phạt 36 tháng tù về tội: ''Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 24/01/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sịnh sống hiện bản án chưa được xóa án tích, đến ngày 25/3/2018 bị cáo lại phạm tội mới với lỗi cố ý trực tiếp nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS. Điều này cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, coi thường pháp luật liên tiếp phạm tội, bị cáo mắc nghiện ma túy lại không có ý thức rèn luyện bản thân, HĐXX xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cải sửa lỗi lầm của mình. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/ BLHS đối với bị cáo. [6]. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS. 

Còn người đàn ông dân tộc Thái bị cáo đã gặp tại đội 6, xã T theo bị cáo khai đã bán heroine cho bị cáo, do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

 [7]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 0,34 gam heroine đã trích 0,02 gam gửi giám định không hoàn lại.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017);

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc N 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (25/3/2018).

3. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 0,34 gam heroine đã trích 0,02 gam gửi giám định không hoàn lại.Vật chứng còn lại: 0,32gam (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 29/5/2018).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Trần Ngọc N phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2018).


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản số 155/2018/HSST ngày 21/06/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:155/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về