Quyết định 03/2004/HĐTP-HS ngày 23/02/2004 về vụ án Hồ Trần Lập phạm tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH 03/2004/HĐTP-HS NGÀY 23/02/2004 VỀ VỤ ÁN HỒ TRẦN LẬP
PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Tại phiên toà ngày 23-02-2004 xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo:

1Hồ Trần Lập, sinh năm 1955 tại Hà Nam; trú tại số 33 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; nghề nghiệp: nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Hoàng Hà; con ông Hồ Ngọc Nhân và bà Hồ Thị Nhã; có vợ có 2 con; ngày 22-08-2001 Toà án quân sự Quân khu 7 xử phạt 5 năm tù về tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; bị tạm giam ngày 16-01-2002.

2- Đinh Sơn Tùng, sinh năm 1976 tại Đà Nẵng; trú tại số 212 Nguyễn Thái Bình, phường 12, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh; con ông Đinh Sơn Tú và bà Thái Phú Châu; chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giam ngày 24-04-2001.

Trong vụ án còn có bị cáo Lương Đình Chiến sinh năm 1952; trú tại số 375 Trần Hưng Đạo B, phường 10, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Sau khi lắp đặt trạm viễn thông kết nối với các máy thuê bao cố định (bị phát hiện vào tháng 04-2000), Hồ Trần Lập tiếp tục quan hệ với Nguyễn Trường Giang, Wilson Jeffery Dale (thường gọi là Jeff - Việt kiều ở Mỹ) để lắp đặt hệ thống viễn thông kết nối với máy điện thoại di động. Phía Jeff chịu trách nhiệm đưa thiết bị viễn thông vào lắp đặt tại nhà 357A/ 27 Nguyễn Trọng Tuyển, phường l , quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (do Hồ Trần Lập ký hợp đồng thuê). Khi hệ thống bắt đầu hoạt động, cứ sau 15 ngày phía Jeff. lại chuyển tiền về Việt Nam. Hồ Trần Lập đã tìm gặp Lương Đình Chiến và Phạm Vinh Cam (có hộ khẩu ở thành phố Hồ Chí Minh), mua simcard. Chiến đã mua được 256 simcard, Cam mua được 34 simcard, tổng cộng Chiến, Cam mua được 290 simcard. Khi hệ thống đã 1ắp đặt hoàn chỉnh Hồ Trần Lập thuê Đinh Sơn Tùng (biết tiếng Anh) trông coi, theo dõi sự hoạt động của hệ thống, thay simcard vào các máy điện thoại và nhận tiền từ Mỹ gửi về. Đến tháng 03-2001 chúng đã sử dụng 72 máy điện thoại chuyên dùng với simcard điện thoại di động kết nối với hệ thống viễn thông. Đến đầu tháng 04-2001 hệ thống viễn thông này bị hỏng, bên phía Jeff cử kỹ sư tin học sang sửa chữa thì bị công an phát hiện bắt quả tang.

Trong thời gian hệ thống viễn thông hoạt động phía Jeff đã 12 lần chuyển 442.843 USD cho Hồ Trần Lập, Lập đã sử dụng tiền này để thanh toán tiền mua simcard, trả tiền thù lao, tiền cước phí... Còn 150.816,7 USD Lập khai đã đưa trả lại cho Jeff. Đinh Sơn Tùng được trả lương 200 USD/ tháng.

Hội đồng giám định Tổng cục Bưu điện kết luận, thời gian các cuộc gọi từ nước ngoài về Việt Nam thông qua hệ thống viễn thông này từ tháng 01-2001 đến tháng 04-2001 là 1.522.811 phút, tiền cước điện thoại quốc tế Nhà nước bị thiệt hại 9.848.633.971 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 421/HSST ngày 31-03-2003 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 4 Điều 138, các điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 3 Điều 51 Bộ 1uật Hình sự xử phạt Hồ Trần Lập 14 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 5 năm tù tại bản án số 15/HSST ngày 22-08-2001 của Toà án quân sự Quân khu 7, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 1à 19 năm tù.

Áp dụng khoản 4 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Đinh Sơn Tùng 08 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 4 Điều 138; các điểm p, s khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Lương Đình Chiến 5 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ 1uật Hình sự buộc các bị cáo phải bồi thường 8.449.225.568 đồng (Lập 7 tỷ đồng, Tùng 1 tỷ đồng, Chiến 449.225.568 đồng)...

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09-04-2003 Hồ Trần Lập kháng cáo kêu oan; ngày 03-04-2003 Đinh Sơn Tùng xin giảm hình phạt và xin giảm bồi thường; ngày 11-4-2003 Lương Đình Chiến xin xem xét lại phần bồi thường.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 995/HSPT ngày 19-06-2003 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 4 Điều 138; các điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Hồ Trần Lập 7 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 5 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15 ngày 22-08-2001 của Toà án quân sự Quân khu 7, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 12 năm tù; Lương Đình Chiến 05 năm tù; Đinh Sơn Tùng 03 năm tù đều về tội trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Hồ Trần Lập phải bồi thường 08 tỷ đồng; Lương Đình Chiến 449.225.568 đồng; Đinh Sơn Tùng không phải bồi thường thiệt hại.

Tại Quyết định kháng nghị số 46/HS-TK ngày 07-1l-2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên đối với Hồ Trần Lập và Đinh Sơn Tùng; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 421/HSST ngày 31-03-2003 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với Hồ Trần Lập và Đinh Sơn Tùng.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Hồ Trần Lập cùng với Đinh Sơn Tùng móc nối với người nước ngoài, lắp đặt hệ thống viễn thông trái phép, gây thiệt hại cho Nhà nước 9.848.633.971 đồng 1à thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; riêng đối với Hồ Trần Lập thực hiện tội phạm trong thời gian đang chờ Toà án quân sự Quân khu 7 xét xử về hành vi tương tự.

Trong vụ án này cần xem xét đến bản chất, tính đặc thù của hành vi trộm cắp cũng như bản chất của thiệt hại cho Nhà nước để cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, nhằm áp dụng hình phạt đúng mức đối với Hồ Trần Lập và Đinh Sơn Tùng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Hồ Trần Lập bồi thường 60 triệu đồng cần được xem xét giảm nhẹ nhưng Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Hồ Trần Lập từ 14 năm tù xuống còn 7 năm tù là chưa thoả đáng, mức hình phạt này là quá nhẹ cần được xem xét lại. Đối với Đinh Sơn Tùng là người được Lập thuê và trả công 200USD/1 tháng, cần được xem xét về vai trò và trách nhiệm trong vụ án này, nhưng việc Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Tùng từ  08 năm tù xuống 03 năm tù cũng là quá nhẹ, chưa thoả đáng. Mặt khác, Toà án cấp phúc thẩm xác định vụ án có 02 nguyên đơn dân sự nhưng không nói rõ nguyên đơn dân sự là ai. Khi buộc Hồ Trần Lập và Lương Đình Chiến phải bồi thường nhưng không quyết định bồi thường cho ai là không đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 254, Điều 256 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988

QUYẾT ĐỊNH

- Huỷ phần quyết định về hình phạt đối với Hồ Trần Lập và Đinh Sơn Tùng và phần trách nhiệm bồi thường của các bị cáo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 995/HSPT ngày 19-06-2003 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh  xét xử phúc thẩm lại các phần bị huỷ nói trên theo đúng qui định của pháp luật.

- Các quyết định khác của Bản án hình sự phúc thẩm nói trên không có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

- Tiếp tục tạm giam các bị cáo Hồ Trần Lập, Đinh Sơn Tùng cho đến khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.

Lý do huỷ phần quyết định về hình phạt của Bản án phúc thẩm:

- Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Hồ Trần Lập từ 14 năm tù xuống còn 07 năm là chưa thoả đáng vì quá nhẹ.

- Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Đinh Sơn Tùng  từ 08 năm xuống còn 03 năm cũng là quá nhẹ, chưa thoả đáng.

- Toà án cấp phúc thẩm xác định vụ án có 02 nguyên đơn nhưng không xác định rõ nguyên đơn là ai là không đúng.

- Toà án cấp phúc thẩm xác định Hồ Trần Lập và Lương Đình Chiến phải bồi thường nhưng bồi thường cho ai thì đã không xác định rõ vì vậy là không đúng pháp luật.


77
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
        Bản án/Quyết định đang xem

        Quyết định 03/2004/HĐTP-HS ngày 23/02/2004 về vụ án Hồ Trần Lập phạm tội trộm cắp tài sản

        Số hiệu:03/2004/HĐTP-HS
        Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
        Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
        Lĩnh vực:Hình sự
        Ngày ban hành:23/02/2004
        Là nguồn của án lệ
          Bản án/Quyết định sơ thẩm
            Án lệ được căn cứ
               
              Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
                Bản án/Quyết định phúc thẩm
                  Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về