Quyết định 17/2003/HĐTP-DS ngày 30/5/2003 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu ghe đánh cá

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH 17/2003/HĐTP-DS NGÀY 30/5/2003 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU GHE ĐÁNH CÁ

Tại phiên toà ngày 30-05-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án tranh chấp quyền sở hữu ghe đánh cá giữa các đương sự:

Nguyên đơnÔng Hiệp Văn Tiền (còn gọi là Tiền Văn Hiệp), là Việt kiều Quốc tịch Mỹ; Uỷ quyền cho ông Tiền Văn Hùng (tức Súa), sinh năm 1959; trú tại nhà số 6, Bạch Đằng, khu phố 1, phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang;

Bị đơnBà Tiền Thị Mùi, sinh năm 1956; trú tại nhà số 3/2 Mạc Thiên Tích, khu phố 1, phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanÔng Thiều Minh Khương (chồng bà Mùi) trú cùng địa chỉ với bà Mùi.

NHẬN THẤY

Tháng 04-1994, ông Hiệp Văn Tiền hùn vốn với chị ruột là bà Tiền Thị Mùi đóng chiếc ghe biển số KG-8622 BTS để khai thác hải sản, giấy tờ ghe do bà Mùi đứng tên. Theo ông Hiệp Văn Tiền, chiếc ghe đóng hết số vốn 33,9 lượng vàng, ông đã đưa bà Tiền Thị Mùi 30,9 lượng vàng ngay lúc đóng ghe, còn lại 3 lượng vàng ông đã đồng ý để bà Mùi trừ vào phần lợi nhuận của ông được hưởng trong quá trình ghe hoạt động và tính đến nay đã khấu trừ xong. Nay, ông Hiệp Văn Tiền yêu cầu Toà án công nhận chiếc ghe là tài sản thuộc sở hữu của ông Tiền và sau khi lấy được ghe, ông Tiền sẽ giao lại ghe cho ông Tiền Văn Hùng quản lý khai thác để nuôi sống cha mẹ.

Lúc đầu, bà Tiền Thị Mùi chỉ thừa nhận ông Hiệp Văn Tiền mới góp vốn 20,6 lượng vàng, còn lại là của bà Mùi, nhưng tại phiên toà sơ thẩm, bà Mùi thừa nhận ông Hiệp Văn Tiền đã góp 30,9 lượng vàng, nên bà Mùi chỉ yêu cầu ông Tiền phải trả lại bà Mùi 3 lượng vàng và công sức quản lý bảo quản chiếc ghe.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/DSST ngày 22-10-1999, Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu đòi quyền sở hữu chiếc ghe biển số KG- 8622 BTS của ông Hiệp Văn Tiền; công nhận chiếc ghe biển số KG- 8622BTS công suất 56 CV do bà Tiền Thị Mùi đứng tên đăng ký thuộc quyền sở hữu của ông Hiệp Văn Tiền. Ông Tiền Văn Hùng được quyền quản lý, đứng tên đăng ký, sử dụng khai thác chiếc ghe 8622BTS theo sự ủy quyền của ông Hiệp Văn Tiền ngày 21-04-1999. Bác yêu cầu của bà Tiền Thị Mùi đòi phần hùn chiếc ghe 8622 BTS là 13,3 lượng vàng. Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí.

Sau xét xử sơ thẩm, bà Tiền Thị Mùi kháng cáo với nội dung đề nghị được sở hữu ghe và tính toán công sức bảo quản ghe của bà Mùi.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Tiền Văn Hùng (người được ông Hiệp Văn Tiền uỷ quyền tham gia tố tụng) đã đồng ý giao chiếc ghe và ngư lưới  cho bà Mùi, đổi lại, bà Mùi sẽ thanh toán cho ông Hùng 75.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 115/DSPT ngày 21-04-2000, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Công nhận sự thoả thuận giữa các bên đương sự như sau: bà Tiền Thị Mùi được sở hữu chiếc ghe biển số KG- 8622 BTS công suất 56 CV và ngư lưới trị giá toàn bộ 1à 87.820.250 đồng. Ông Hiệp Văn Tiền (do anh Tiền Văn Hùng đại diện) có nghĩa vụ giao chiếc ghe nói trên cho bà Tiền Thị Mùi sở hữu. Bà Tiền Thị Mùi có nghĩa vụ thanh toán tiền giá trị chiếc ghe biển số KG-8622 BTS và ngư lưới cho ông Hiệp Văn Tiền (Tiền Văn Hiệp) do ông Tiền Văn Hùng đại diện với số tiền 75.000.000 đồng. Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm ông Hiệp Văn Tiền có đơn khiếu nại với nội dung: ông Tiền chỉ uỷ quyền cho ông Hùng tham gia tố tụng để lấy lại chiếc ghe, nhưng ông Hùng lại tự ý bán chiếc ghe với giá rẻ (bán 75 triệu trong khi giá thị trường khoảng 120.000.000 đồng) là vượt quá phạm vi uỷ quyền, gây thiệt hại quyền lợi của ông Tiền. Mặt khác, lúc lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Hùng tham gia tố tụng ông Tiền không biết ông Hùng đang có tiền án, nay ông Tiền biết việc này nên đề nghị Toà án xem xét.

Tại Quyết định kháng nghị số 34/KN-VKSTC-KSXXDS ngày 18-04-2003, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhận xét: Về tố tụng, Toà án các cấp chấp nhận cho ông Tiền Văn Hùng được đại diện theo uỷ quyền của ông Hiệp Văn Tiền trước Toà trong thời gian ông Hùng đang có án tích là trái với qui định tại điểm d mục 2 phần VI về người đại diện của đương sự theo Nghị quyết số 03 ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Về nội dung: Ông Tiền chỉ uỷ quyền cho ông Hùng được thay mặt ông Tiền trước các cơ quan chức trách như Toà án,Viện Kiểm sát... để trả lời và chất vấn mọi vấn đề có liên quan đến vụ kiện, nội dung của hợp đồng uỷ quyền không thể hiện việc ông Tiền uỷ quyền cho ông Hùng được quyền định đoạt “ghe”, nhưng tại phiên Toà Phúc thẩm, ông Hùng đã đồng ý bán chiếc ghe nói trên cho bà Mùi với giá 75.000.000 đồng là vượt quá phạm vi uỷ quyền. Bản án phúc thẩm lại công nhận sự thoả thuận nói trên giữa ông Hùng và bà Mùi là không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của ông Tiền.

XÉT THẤY

1. Về tố tụng:

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 1110/HSPT ngày 27-06-1997, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh (giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm) xử phạt Tiền Văn Hùng (tức Súa) 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, thời gian thử thách là 5 năm tính từ ngày 11-04-1997. Như vậy, Tiền Văn Hùng tham gia phiên toà sơ thẩm ngày 22-10-1999 và phiên toà phúc thẩm ngày 21-04-2000 là đang trong thời gian có án tích nên việc Toà án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận cho Tiền Văn Hùng được đại diện cho ông Hiệp Văn Tiền tham gia tố tụng là trái với hướng dẫn tại điểm d mục 2 phần VI Nghị quyết số 03 ngày 19-10- 1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

2. Về nội dung

Ngày 19-04-1999, ông Hiệp Văn Tiền lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Tiền Văn Hùng (anh ruột ông Tiền) để ông Hùng thay thế ông Tiền trước Toà án với tư cách nguyên đơn trong vụ kiện này, phạm vi uỷ quyền: “... để trả lời và chất vấn mọi vấn đề có liên quan đến vụ kiện nói trên, thời gian uỷ quyền đến khi nào các cơ quan chức năng giải quyết xong vụ kiện”. Tại các buổi hoà giải ở UBND phường Pháo Đài vào các ngày 16-03-1999 và ngày 30-09-1999 (BL 6,17,18) ông Hiệp Văn Tiền đều nêu yêu cầu: “lần này tôi về để lấy lại ghe để giải quyết nuôi gia đình 2 bên”; “chiếc ghe là của tôi nên xin được lấy lại và đề nghị chị Mùi sang tên chủ quyền cho hợp pháp vì chị Mùi chỉ là người đứng tên hộ tôi”. Ngày 06-04-1999 trong đơn khởi kiện ra Toà án (BL 01) ông Tiền cũng khẳng định lại yêu cầu của mình: “chị Mùi phải trả lại sổ ghe cho tôi”, Lời khai của ông Tiền ngày 21-04-1999 (BL03) sau khi đã lập hợp đồng uỷ quyền cho ông Hùng, ông Tiền vẫn khẳng định yêu cầu: “Toà án buộc chị tôi trả ghe mang biển số 8622 BTS lại cho tôi, và tôi giao lại cho anh tôi là Tiền Văn Hùng đứng tên, quản lý khai thác đánh bắt hải sản nuôi sống gia đình cha mẹ hai bên”.

Như vậy, tuy nội dung uỷ quyền không rõ ràng: “... để trả lời và chất vấn mọi vấn đề có liên quan đến vụ kiện nói trên...”, nhưng trước và sau khi uỷ quyền ông Hiệp Văn Tiền đều nêu yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu chiếc ghe cho ông, buộc bà Mùi phải giao lại ghe và ông sẽ giao ghe này cho anh trai là Tiền Văn Hùng quản lý, khai thác lấy lợi nhuận nuôi sống gia đình. Do đó, ông Hùng tự ý bán ghe cho bà Mùi là vượt quá phạm vi được uỷ quyền và việc ông Hùng bán ghe với giá 75.000.000 đồng trong khi theo định giá là 87.820.250 đồng (BL21) là gây thiệt hại đến quyền lợi của ông Tiền.

Về tỉ lệ góp hùn: Vốn đóng ghe và mua ngư lưới cả hai bên đều thống nhất hết 33,9 lượng vàng. Bà Mùi lúc đầu chỉ thừa nhận ông Hiệp Văn Tiền mới góp 20,6 lượng vàng (BL15, 17, 19, 145), nhưng tại phiên toà sơ thẩm, sau khi Toà án cấp sơ thẩm đưa ra bức thư (BL47,48) người viết là ông Khương chồng bà Mùi gửi vợ chồng ông Tiền khi ông Tiền đang ở Mỹ, nội dung ông Khương công nhận ông Tiền đã góp 30,9 lượng vàng, thì bà Mùi đã thừa nhận ông Tiền góp 30,9 lượng vàng, còn lại 3 lượng là của bà và bà đòi tính công sức của bà trong việc quản lý ghe (BL147). Như vậy, 3 lượng vàng góp vốn còn lại chưa có cơ sở xác định là của ai, nhưng Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang vẫn công nhận quyền sở hữu chiếc ghe là của ông Hiệp Văn Tiền và nhận định 3 lượng vàng này là quan hệ vay nợ giữa bà Mùi với ông Tiền nên tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện khác nếu bà Mùi yêu cầu nhưng trong phần quyết định thì lại ghi: “bác yêu cầu của bà Tiền Thị Mùi đòi phần hùn chiếc ghe 8622 BTS là 13,3 lượng vàng" là không đúng.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 4 Điều 77 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1- Huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 115/DSPT ngày 21-04-2000 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 14/DSST ngày 22-10-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang đối với vụ án dân sự về việc: “tranh chấp quyền sở hữu ghe đánh cá” giữa nguyên đơn là ông Hiệp Văn Tiền với bị đơn là bà Tiền Thị Mùi.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang để xác minh, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung

Lý do các Bản án sơ thẩm, phúc thẩm bị huỷ

Các Toà án đã chấp nhận đại diện theo uỷ  quyền của nguyên đơn không đúng pháp luật, vì người được uỷ quyền đang có tiền án.

Ông Tiền Văn Hùng đã vượt quá phạm vi được uỷ quyền nhưng Toà án lại chấp nhận là không đúng.

Chưa xác định được 3 lượng vàng góp vốn là của ai, nhưng Toà án lại nhận định đây là tài sản trong quan hệ vay mượn giữa ông Hiệp Văn Tiền và bà Tiền Thị Mùi. Mặt khác, khi quyết định lại bác yêu cầu của bà Mùi về đòi ông Hiệp Văn Tiền phải thanh toán khoản làm ghe và bảo quản ghe là  không đúng.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về