Quyết định giám đốc thẩm 01/2012/HC-GĐT ngày 17/02/2012 về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính của bà Phan Thị Tuyết Mai

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 01/2012/HC-GĐT NGÀY 17/02/2012 VỀ XÉT XỬ HÀNH CHÍNH VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Ngày 17/02/2012, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giữa:

Người khởi kiện: Bà Phan Thị Tuyết Mai sinh năm 1982; trú tại tổ 9, phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Người bị kiện: Chánh Thanh tra Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai

NHẬN THẤY

Bà Phan Thị Tuyết Mai là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân có tên Hoàng Mai tại tổ 09, phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, được Uỷ ban nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhạn đăng ký kinh doanh số 39A8005684 ngày 19/11/2007 .

Vào khoảng 21giờ 10 phút ngày 23/12/2008, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Mai. Sau khi kiểm tra tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, với nội dung: “ Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Mai, phòng 11 có ông Nguyễn Hồng Thanh và bà Nguyễn Thị Lợi không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục). Phòng số 09 có ông Phan Quốc Việt và và Nguyễn Thị Thuỳ Trang không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi. Tại thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Mai không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi. Kết luận chủ cơ sở nhà trọ đăng ký Hoàng Mai thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên".

Căn cứ biên bản vi phạm trên, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 phạt bà Phan Thị Tuyết Mai số tiền 5.000.000đ với lý do: “Đã có hành vi vi phạm hành chính: Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật. (Áp dụng điểm đ, khoản 3, điều 14, Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ)”

Ngày 24/3/2009, bà Mai có đơn khiêu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên.

Ngày 20/4/2009) Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr giải quyết đơn khiếu nại của bà Mai, với nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 23/QĐ-XPHC.

Ngày 04/5/2009, bà Mai có đơn khởi kiện yêu cầu huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2009/HCST ngày 01/10/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định : “Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Tuyết Mai. Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh Thanh tracSở Văn hoa, Thể thao, Du lịch tỉnh Gia lai" .

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08/10/2009, bà Mai có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: “ Hủy Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai” với lý do Quyết định số 23/QĐ-XPHC được ban hành khi đã hết thời hạn theo quy định tại Điều 56 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 12/01/2010, Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai có Công văn số 01/2009/CV-TTr đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 01/HC-KN ngày 10/01/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản an hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 02/2009/HCST ngày 01/10/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

1. Về thời hạn ban hành Quyết định số 23/QĐ-HC ngày 10/3/2009 của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai.

Ngày 23/12/2008, Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia lai lập Biên bản số 11/BB-VPHC về việc vi phạm hành chính đối với nhà trọ Hoàng Mai tại tổ 09, phường Thống Nhất, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai do bà Phan Thị Tuyết Mai làm chủ hộ kinh doanh.

Do cần xác minh thêm, nên ngày 16/01/2009, Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã có Tờ trình số 02/TT-TTr, đề nghị Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đến hết ngày 11/3/2009 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt.

Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định: “Thời hạn ra quyết định xử phạt là mười ngày, kể từ ngày lập về vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết đinh xử phạt là ba mươi ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày". Nhu vậy, trong trường hợp này, thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được tính tối đa là 60 ngày từ kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính và phải trước ngày 11/3/2009 .

 Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003  của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì: “ Thời hạn trong Pháp lệnh được quy định theo ngày thì khoảng thời gian đó được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động”

Trong vụ án này, ngày lập biên bản vi phạm là ngày 23/12-2008; ngày ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC là ngày 10/3/2009. Tổng cộng thời gian từ ngày lập biên bản đến ngày ban hành quyết định xử phạt là 77 ngày, trong đó có 26 ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động; cụ thể là:

Ngày 27 và ngày 28/12/2008 là thứ 7 và chủ nhật;

Ngày 01/01/-009 là Tết Dương lịch; các ngày 03, 04, 10, 11, 17, 18 và 31/01/2009 là thứ 7 và chủ nhật; các ngày 24, 25, 26, 27 và 28/01/2009 là Tết âm lịch;

Các ngày 01, 07, 08, 14, 15, 21, 22 và 28/02/2009 là ngày thứ 7 và chủ nhật;

Các ngày 01, 07 và 08/3/2009 là thủ 7 và chủ nhật.

Như vậy, số ngày được tính vào thời hạn và 51 ngày (77 ngày -26 ngày), và còn trong thời hạn luật định.

2. Về lý do xử phạt vi phạm hành chính.

Theo Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2008 thì hành vi vi phạm của bà Phan Thị Tuyết Mai được xác định: "Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Mai, phòng 11 có ông Nguyễn Hồng Thanh và bà Nguyễn Thị Lợi không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục)… Kết luận chủ cơ sở nhà trọ đăng ký Hoàng Mai thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên".

Tại Biên bản làm việc số 11/BB-LV ngày 09/3/2009) bà Phan thị Tuyết Mai thừa nhận là có hành vi tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma tuy, cờ bạc hoặc các hoạt động trái pháp luật khác.

Điểm d khoản 3 Điều 14 Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thông tin quy định :

“ 3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

…..

d) Dùng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật”

Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu có trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính thì việc Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 phạt bà Mai số tiền 5.000.000đ về hành vi tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều điện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm là đúng.

3. Về sai lầm của bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2009/HCST ngày 01/10/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định: “Bác đơn khởi kiện của bà Phan Thị Tuyết Mai" là có căn cứ đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định: “Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai" là không đúng thẩm quyền của Hội đồng xét xử vụ án hành chính theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa an nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2006). Sai sót này của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm không có thẩm quyền sửa đổi (huỷ quyết định này của Tòa án cấp sơ thẩm) và sẽ được huỷ bỏ khi xét xử phúc thẩm lại vụ án.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai với lý do quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính là không đúng quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 225 và khoản 2 Điều 227 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét sử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


267
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về