Quyết định giám đốc thẩm 02/2006/DS-GĐT ngày 21/02/2006 về vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 02/2006/DS-GĐT NGÀY 21/02/2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP 
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Ngày 21 tháng 02 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh Dũng; trú tại: 137 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Anh uỷ quyền cho con là anh Quách Chấn Thanh; trú tại: 133-135 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-3-1997 và lời khai tại Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk, ông Nguyễn Anh Dũng trình bày:

Tháng 02-1996, bà Huỳnh Thị Anh xây dựng lại nhà 3 tầng toạ lạc tại số 133-135 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk đã xâm phạm đến căn nhà của gia đình ông Dũng, cụ thể như sau:

- Xây tường sát tường nhà 137 Lê Hồng Phong của ông Dũng không có sự thoả thuận của ông Dũng;

- Làm kiềng móng dài 18m nằm đè lên móng nhà ông Dũng từ phía trước đến phía sau;

- Tầng 2 xây chui vào ô văng cửa sổ 40cm;

- Tầng 3 xây chui vào ô văng cửa sổ 20cm;

- Cột bê tông trên sân thượng đổ lấn sang và đè lên mái che nhà có chiều 15cm x 20cm;

- Ba cửa sổ phía sau lấn sang không gian nhà ông Dũng 20cm;

- Đập 1 miếng bê tông có chiều 15cm ´ 30cm trên mái che nhà ông Dũng.

Cũng do việc gia đình bà Anh làm kiềng móng dài 18m nằm đè lên móng nhà ông Dũng và hệ thống ống nước ngầm dưới nền nhà bà Anh bị vỡ dẫn đến nhà ông Dũng bị lún và nứt tường từ tầng 1 đến tầng 3, nứt bể chứa nước và nhà bếp phía sau.

Vì vậy, ông Dũng yêu cầu bà Anh phải bồi thường thiệt hại nhà và yêu cầu bà Anh phải tháo dỡ kiềng đà móng và tường nhà nằm trên phần móng nhà của ông Dũng.

Anh Quách Chấn Thanh đại diện cho bà Anh trình bày:

Trước đây, tường nhà bà Anh và tường nhà ông Dũng có một khoảng cách là 20cm. Khi gia đình bà Anh làm nhà mới, gia đình ông Dũng đã thoả thuận để nhà bà Anh được xây sát vào tường nhà ông Dũng. Khi làm chân móng nhà, gia đình bà Anh đổ chân móng trên phần đất của gia đình mình, sau đó làm đà vuông góc với chân móng kéo ra sát tường nhà ông Dũng rồi đổ kiềng đà móng sát tường và nằm trên móng nhà ông Dũng. Từ đó, xây tường sát với tường nhà ông Dũng. Vì tầng 2 và 3 nhà ông Dũng có các ô văng cửa sổ chìa ra, nên tường nhà bà Anh xây chui vào các ô văng đó. Khi xây dựng, thợ xây có đập 1 miếng bê tông trên mái nhà ông Dũng, nhưng sau đó đã được trám lại. Bà Anh không đồng ý với yêu cầu của ông Dũng buộc gia đình bà Anh phải tháo dỡ kiềng đà móng nhà vì gia đình ông Dũng đã thoả thuận cho gia đình bà Anh được xây tường sát tường nhà ông Dũng và được cắt những ô văng nhà ông Dũng để xây tường.

Anh Thanh đại diện cho bà Anh thừa nhận việc gia đình bà Anh xây nhà có làm ảnh hưởng đến nhà ông Dũng, nhưng một phần thiệt hại là do nhà ông Dũng xây dựng từ năm 1963 nên chất lượng nhà đã xuống cấp. Anh Thanh đề nghị nhờ Trung tâm kiểm định xây dựng xác định thiệt hại nhà ông Dũng và yêu cầu mỗi bên phải chịu một phần thiệt hại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSST ngày 03 và 04-6-2003, Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Anh Dũng.

- Buộc bà Huỳnh Thị Anh bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Anh Dũng số tiền 28.377.000 đồng.

- Buộc bà Huỳnh Thị Anh phải tháo dỡ đà giằng và tường nhà 133-135 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk đã xây chồng lấn xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ông Dũng, trả lại phần chân móng nhà 137 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk (bao gồm cả lòng đất và phần không gian theo chiều thẳng đứng); phải bồi thường thiệt hại phát sinh do quá trình tháo dỡ hoặc do chậm việc tháo dỡ gây ra cho nhà 137 Lê Hồng Phong, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Buộc bà Anh phải chịu 23.397.000 đồng tiền chi phí giám định, khoản tiền này bà Anh phải thanh toán trực tiếp cho ông Dũng.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Anh phải chịu 1.418.850 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Anh Dũng được nhận lại 50.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 1585 ngày 19-3-1997 tại Đội thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột.

Kể từ ngày ông Dũng có đơn yêu cầu thi hành án hàng tháng bà Anh còn phải chịu lãi suất quá hạn theo mức Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền chưa thi hành án.

Các đương sự có thời gian kháng cáo 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Ngày 16-6-2003, anh Quách Chấn Thanh kháng cáo với nội dung:

- Căn nhà của gia đình ông Dũng xây dựng đã lâu, hết thời hạn sử dụng nhưng không được trùng tu bảo dưỡng, nên tường nhà bị nứt không thể hoàn toàn do lỗi của gia đình bà Anh.

- Trước khi xây dựng nhà, gia đình bà Anh đã xin giấy phép xây dựng, khi khởi công có đại diện chính quyền địa phương, các gia đình có ranh giới liền kề trong đó có cả ông Dũng, nhưng ông Dũng không có ý kiến gì, sau khi xây dựng xong một thời gian thì ông Dũng mới cho rằng gia đình bà Anh xây dựng làm ảnh hưởng gây nứt tường nhà và lấn chiếm đất của gia đình ông Dũng, nên không chấp nhận yêu cầu của ông Dũng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 14 ngày 19 và 20-5-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 69 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 263, 264, 270, 271, 272, 273, 609, 610, 631 Bộ luật dân sự, tuyên xử:

- Buộc bà Huỳnh Thị Anh phải bồi thường thiệt hại tài sản cho ông Nguyễn Anh Dũng số tiền là 43.650.600 đồng (bao gồm sửa chữa cải tạo nhà và giá trị quyền sử dụng đất).

- Về án phí dân sự: Bà Huỳnh Thị Anh phải chịu là 2.182.530 đồng.

Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên và tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bà Anh không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Anh Dũng có đơn khiếu nại với nội dung: Yêu cầu bà Anh trả lại quyền sở hữu móng căn nhà của ông Dũng mà bà Anh đã xây đè lên trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 60/QĐ/KNGĐT-V5 ngày 22-9-2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận định:

“Căn nhà 137 Lê Hồng Phong của ông Nguyễn Anh Dũng và căn nhà 133-135 Lê Hồng Phong của bà Huỳnh Thị Anh là hai căn nhà liền kề nhau. Tháng 2-1996 bà Huỳnh Thị Anh xây dựng lại căn nhà 133-135 đã xây đè lên móng tường và chui vào ô văng cửa sổ nhà 137 Lê Hồng Phong của ông Nguyễn Anh Dũng, gây thiệt hại đến nhà của ông Dũng là có thật. Án sơ thẩm xử buộc bà Huỳnh Thị Anh phải bồi thường thiệt hại và phải tháo dỡ toàn bộ đà giằng và tường nhà, trả lại phần chân móng nhà 137 Lê Hồng Phong bao gồm cả lòng đất vào khoảng không gian thẳng đứng cho ông Dũng là đúng. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi và ổn định cuộc sống của các bên đương sự, Toà án cấp phúc thẩm buộc bà Anh phải bồi thường giá trị quyền sử dụng đất (móng nhà) do bà Anh lấn qua nhà ông Dũng là hợp tình, hợp lý; tuy nhiên Toà án cấp phúc thẩm lại áp dụng giá theo Quyết định số 2920/QĐ-UB ngày 10-12-1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk mức giá các loại đất trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột để buộc bà Anh bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho ông Dũng là không hợp lý (theo Công văn số 811/TC-CV ngày 02-8-2005 của Sở Tài chính tỉnh Đăk Lăk thì Quyết định 2920/QĐ-UB ngày 10-12-1998 của UBND tỉnh Đăk Lăk không còn phù hợp) gây thiệt hại cho đương sự.

Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm: Huỷ bản án phúc thẩm dân sự nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSST ngày 03/06/2003 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk, giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm lại”.

Tại phiên toà giám đốc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên quan điểm kháng nghị nêu trên.

XÉT THẤY

Căn cứ vào văn tự đoạn mãi nhà ngày 30-12-1973 giữa ông Vui và bà Anh thì căn nhà bà Anh có chiều rộng mặt tiền là 7,4m và căn cứ vào giấy phép xây dựng số 51/GP.SXD ngày 08-2-1996 của Sở Xây dựng tỉnh Đăk Lăk thì gia đình bà Anh được xây nhà có chiều rộng mặt tiền là 7,4m nhưng theo biên bản đo đạc của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk thì thực tế bà Anh đã xây dựng chiều rộng mặt tiền là 7,63m, sai với giấy phép xây dựng, vượt quá diện tích đất mà gia đình bà Anh được quyền sử dụng là 23cm. Thực tế, bà Anh đã xây kiềng móng nằm đè lên 20cm móng của nhà ông Dũng. Bà Anh cho rằng khi xây dựng đã thoả thuận miệng với ông Dũng để bà Anh được xây sát tường nhà ông Dũng nhưng ông Dũng không thừa nhận và bà Anh cũng không có chứng cứ để chứng minh vấn đề này.

Về nguyên tắc, bà Anh đã lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông Dũng thì bà Anh phải tháo dỡ công trình để trả lại đất cho ông Dũng. Tuy nhiên, khi gia đình bà Anh xây dựng sát tường nhà ông Dũng, làm kiềng trên móng nhà ông Dũng, ông Dũng không phản đối trong suốt quá trình từ khi bà Anh khởi công xây dựng (tháng 2-1996) đến khi hoàn thành (tháng 6-1996). Do việc đã xây dựng hoàn thiện nhà cao tầng, nếu buộc bà Anh phải dỡ bỏ và thu hẹp lại công trình sẽ gây thiệt hại rất lớn cho gia đình bà Anh. Xét diễn biến thực tế như trên, Hội đồng Thẩm phán nhất trí với quan điểm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kháng nghị là Toà án cấp phúc thẩm không buộc bà Anh phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phía trên móng nhà ông Dũng mà chỉ buộc bồi thường bằng tiền là hợp tình, hợp lý.

Do việc bà Anh xây sát tường nhà ông Dũng, gây thiệt hại cho ông Dũng về phần không gian trên đất ông Dũng không sử dụng được có chiều rộng 20cm tính theo móng nhà ông Dũng nên bà Anh phải bồi thường cho ông Dũng phần thiệt hại này. Phần thiệt hại này cũng phải được xác định căn cứ vào giá trị quyền sử dụng đất tại thị trường địa phương. Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào khung giá đất tại quyết định số 2920/QĐ-UB ngày 10-12-1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk với giá 1.720.000 đồng/m2 trong khi không có chứng cứ chứng minh khung giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh phù hợp với giá thị trường là chưa đảm bảo đúng quyền lợi của ông Dũng theo quy định của pháp luật. Do đó, cần phải giải quyết phúc thẩm lại phần này.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và khoản 1, khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 14/DSPT ngày 20/05/2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã giải quyết việc tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Anh Dũng với bị đơn là bà Huỳnh Thị Anh.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

Cần xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường địa phương trên diện tích đất có tranh chấp.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc cân nhắc, áp dụng khung giá đất trong quá trình giải quyết tranh chấp.


87
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về