Quyết định giám đốc thẩm 02/2013/DS-GĐT ngày 10/01/2013 về vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Mạc Thị Thẩm và cụ Trần Thị Nhản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 02/2013/DS-GĐT NGÀY 10/01/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA NGUYÊN ĐƠN BÀ MẠC THỊ THẨM VÀ CỤ TRẦN THỊ NHẢN 

Ngày 10 tháng 01 năm 2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mạc Thị Thẩm sinh năm 1961;

Trú tại: số 30A, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Cụ Trần Thị Nhản (là mẹ của bà Thẩm) sinh năm l929;

Trú tại: số 40/2, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ủy quyền cho bà Mạc Thanh Thúy sinh năm 1964; trú tại số 40/2, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 18-11-2005.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (gồm 08 người con và bà Điểu là con dâu của cụ Nhản).

1- Ông Mạc Thanh Vũ sinh năm 1967;

2- Bà Mạc Thanh Thúy sinh năm 1964;

Ông Vũ và bà Thúy cùng trú tại số 40/2, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

3- Bà Mạc Thị Ngọc Dung sinh năm 1967; trú tại số 31, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

4- Ông Mạc Thanh Liêm sinh năm 1963; trú tại số 34, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

5- Ông Mạc Văn Hạnh sinh năm 1956; trú tại số 33, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

6- Ông Mạc Văn Nhi sinh năm 1955; trú tại số 28, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

7- Bà Mạc Thị Ánh Nguyệt sinh năm 1952; trú tại số 30A, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

8- Bà Mạc Hoàng Thụy Ngọc Yến sinh năm 1961; trú tại số 53, Tân Thành, phường 16, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.

9- Bà Huỳnh Thị Hồng Điểu sinh năm 1949; trú tại số 35, tổ 2, ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 22-9-2005 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Mạc Thị Thẩm trình bày: Diện tích 12 công đất ruộng và 8 công đất vườn tại ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nguyên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng cụ Mạc Văn Lý và cụ Trần Thị Nhản. Khoảng năm 1993, vợ chồng cụ Lý, cụ Nhản (cha mẹ của bà) có cho bà khoảng 120m2 đất (một phần thửa 73) để cất nhà ở và buôn bán. Việc cho đất của vợ chồng cụ Lý tuy không lập giấy tờ nhưng được các con cụ Lý gồm các ông bà Mạc Thanh Liêm, Mạc Văn Hạnh, Mạc Thị Ánh Nguyệt, Mạc Hoàng Thụy Ngọc Yến, Mạc Thị Ngọc Dung biết và xác nhận. Năm 1995, bà lập gia đình riêng và tiếp tục sống tại phần đất này. Quá trình sử dụng, vợ chồng bà đã san lấp mương, đất trũng để cất nhà ở ổn định. Tờ di chúc ngày 13-3-1996 đề tên người lập là cụ Lý (chết tháng 7-1996) và cụ Nhản có nội dung để lại cho các con mỗi người một phần đất; trong khi đó bà không được chia tài sản là không đúng vì vợ chồng cụ Lý đã cho bà phần đất nêu trên từ năm 1993 và bà không đối xử ngược đãi với bố mẹ. Bà yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà.

Bị đơn là cụ Trần Thị Nhản (ủy quyền cho con là bà Mạc Thanh Thúy) có đơn phản tố với nội dung: Vợ chồng cụ Nhản, cụ Lý có lập Tờ di chúc ngày 13/3/1996 tại Phòng Công chứng nhà nước số 1 tỉnh Vĩnh Long có nội dung vợ chồng cụ Nhản có căn nhà ngói 3 gian tại số 92 ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức trên 7.970 m2 đất vườn, 8.292 m2 đất ruộng và một thửa ruộng có diện tích 441 m2; Để lại cho ông Liêm 500 m2 đất ruộng và 1.000 m2 đất ruộng tại thửa 77; ông Mạc Hoàng Trương 500 m2 đất ruộng tại thửa 75 và 1.000 m2 đất ruộng tại thửa 77; ông Vũ 1.000 m2 đất ruộng tại thửa 77 và 7.970 m2 đất ruộng vườn tại thửa số 67,72, 73 và căn nhà số 92 ấp Hưng Quới để làm nơi thờ cúng, không được cầm cố, chuyển nhượng; Diện tích 4.733 m2 đất còn lại (tại các thửa số 74,75, 77, 225) do cụ Nhản quản lý sẽ quyết định cho hai con gái là Nguyệt và Thúy một phần, còn lại bán để dưỡng già; riêng bà Thẩm có tính ương ngạnh, ngỗ ngược, không coi cha mẹ ra gì nên không được cho tài sản gì. Sau khi cụ Lý chết, thì ngày 10-5- 1997, cụ Nhản lập di chúc bổ sung với nội dung để lại diện tích 4.733 m2 đất tại thửa số 74, 75, 77, 225 cho bà Thúy. Do bà Thẩm (khi chưa lập gia đình) không có việc làm nên cụ Nhản cất quán để cho bà Thẩm bán hàng tại phần đất nêu trên, chứ không phải vợ chồng cụ Nhản cho đất như bà Thẩm trình bày. Cụ Nhản yêu cầu bà Thẩm phải di dời trả lại phần đất nêu trên hoặc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho cụ Nhản.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Các con của vợ chồng cụ Nhản, cụ Lý gồm các ông, bà Mạc Thanh Liêm, Mạc Văn Hạnh, Mạc Thị Ánh Nguyệt, Mạc Thị Ngọc Dung đều trình bày: Phần đất tranh chấp hiện bà Thẩm đang ở hiện nay đã được hai cụ cho bà Thẩm. Nay các ông, bà đề nghị công nhận quyền sử dụng đất cho bà Thẩm.

Ông Mạc Thanh Vũ, bà Mạc Thanh Thúy trình bày: Phần đất mà hiện bà Thẩm đang ở là của cụ Lý, cụ Nhản. Phần đất đó cụ Nhản chỉ cho bà Thẩm ở nhờ trên đất. Nay bà Thúy, ông Vũ đề nghị bà Thẩm phải trả phần đất nói trên cho cụ Nhản.

Ông Mạc Văn Nhi trình bày: Ông đã được chia đất ra ở riêng, phần đất hiện bà Thẩm đang ở ông không biết cụ Nhản có cho bà Thẩm hay không. Nay ông không có ý kiến gì.

Bà Mạc Hoàng Thị Ngọc Yến và bà Huỳnh Thị Hồng Điểu (vợ ông Tòng con trai của cụ Lý, cụ Nhản) đều xác định đã được cha mẹ cho đất, không tranh chấp phần đất nêu trên, đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2007/DSST ngày 02-8-2007, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:

- Bác yêu cầu của bà Mạc Thị Thẩm xin công nhận quyền sử dụng đất chiết thửa 69 + 73-2, diện tích 126,8 m2 loại đất LNQ tọa lạc tại ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Buộc bà Mạc Thị Thẩm phải trả cho cụ Trần Thị Nhản 15216.000 đồng tiền trị giá 126,8 m2 đất để bà Thẩm được tiếp tục sử dụng đất (có trích đo bản đồ hiện trạng khu đất kèm theo).

Bác yêu cầu của bà Trần Thị Nhản và bà Mạc Thanh Thúy buộc bà Thẩm dời nhà trả đất.

Các đương sự có nghĩa vụ kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai.

Ngày 10-8-2007, bà Mạc Thị Thẩm kháng cáo không đồng ý án sơ thẩm (sau đó xin rút kháng cáo tại phiên tòa).

Ngày 13-8-2007, bà Mạc Thanh Thúy (cụ Nhản ủy quyền) kháng cáo yêu cầu bà Thẩm phải di dời nhà trả đất hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng theo giá thị trường.

Tại Bản án dân sợ phúc thẩm số 25/2008/ĐS-PT ngày 14-01-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Mạc Thanh Thúy, sửa án sơ thẩm.

- Bác yêu cầu của bà Mạc Thị Thẩm xin công nhận quyền sử dụng đất chiết thửa 69 + 73-2 diện tích 126,8 m2 loại đất LNQ tọa lạc tại ấp Hưng Quới, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tĩnh Vĩnh Long.

- Buộc bà Mạc Thị Thẩm phải trả cho cụ Trần Thị Nhản 81.687.000 đồng, tiền giá trị 126,8 m2 đất, để bà Thẩm được tiếp tục sử dụng đất (có trích đo bản đồ hiện trạng khu đất kèm theo).

- Bác yêu cầu của bà Trần Thị Nhản và bà Mạc Thanh Thúy buộc bà Thẩm dời nhà và trả lại đất.

- Các quyết định khác của bản án dân sơ thẩm, sau khi xét xử không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực thi hành.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn tuyên về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 15/01/2008 bà Mạc Thị Thẩm có đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 10/2011/KN-DS ngày 10 tháng 01 năm 2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2008/DS-PT ngày 14/01/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2008/DS-PT ngày 14/01/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2007/DSST ngày 02/8/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì phần đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ Mạc Văn Lý và cụ Trần Thị Nhản. Theo bà Mạc Thị Thẩm (nguyên đơn) cho rằng thửa đất hiện bà đang quản lý, sử dụng đã được cha mẹ bà là cụ Lý, cụ Nhản cho từ năm 1993 và được một số anh chị em ruột của bà xác nhận. Do đó, Tòa án cần xác minh làm rõ có việc cụ Lý, cụ Nhản cho bà Thẩm một phần đất nằm trong thửa 73 vào năm 1993 không? Nếu có căn cứ thể hiện có việc hai cụ cho bà Thẩm đất và thực tế bà Thẩm đã làm nhà và quản lý, sử dụng thửa đất trên thì cần công nhận cho bà Thẩm và tờ di chúc lập ngày 13/3/1996 là không hợp pháp. Trong trường hợp không có căn cứ thể hiện việc hai cụ cho đất bà Thẩm thì công nhận tờ di chúc trên là hợp pháp. Nội dung tờ di chúc của cụ Lý, cụ Nhản lập ngày 13/3/1996 thể hiện không cho bà Thẩm bất cứ tài sản nào. Hiện cụ Nhản đang còn sống và vẫn giữ nguyên quan điểm như tờ di chúc thì không chấp nhận yêu cầu xin công nhận quyền sử dụng phần diện tích đất của bà Thẩm. Tuy nhiên, phần đất hiện đang tranh chấp có diện tích 126,8 m2, gồm một phần thửa số 73 (do cụ Nhản đứng tên quyền sử dụng đất) và một phần thửa đất số 69 (do bà Mạc Thị Ngọc Dung đứng tên quyền sử dụng đất). Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ diện tích đất tranh chấp tại mỗi thửa 73 và 69 là bao nhiêu? mà lại quyết định buộc bà Thẩm thanh toán toàn bộ giá trị diện tích đất tranh chấp (trong đó có một phần thuộc thửa số 69) cho cụ Nhản là chưa đủ căn cứ. Ngoài ra, Tòa án cần xem xét đến công sức tôn tạo, làm tăng giá trị quyền sử dụng đất của vợ chồng bà Thẩm sau khi đã trừ đi phần diện tích đất nằm trong thửa 69 thuộc quyền sử dụng của bà Mạc Thị Ngọc Dung cho bà Thẩm. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết Tòa án các cấp không đưa chồng bà Thẩm vào tham gia tố tụng là thiếu sót.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 25/2008/DS-PT ngày 14/01/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 32/2007/DSST ngày 02/08/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là Bà Mạc Thị Thẩm với bị đơn là cụ Trần Thị Nhản; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ, bà Thúy, bà Dung, ông Liêm, ông Hạnh, ông Nhi, bà Nguyệt, bà Yến, bà Điểu.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


55
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 02/2013/DS-GĐT ngày 10/01/2013 về vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Mạc Thị Thẩm và cụ Trần Thị Nhản
  • Số hiệu:
    02/2013/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    10/01/2013
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 02/2013/DS-GĐT ngày 10/01/2013 về vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Mạc Thị Thẩm và cụ Trần Thị Nhản

Số hiệu:02/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/01/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về