Quyết định giám đốc thẩm 04/2014/HC-GĐT ngày 15/04/2014 về vụ án khiếu kiện hành vi không tái lập hợp đồng khoán bảo vệ và trồng rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 04/2014/HC-GĐT NGÀY 15/04/2014 VỀ VỤ ÁN KHIẾU KIỆN HÀNH VI KHÔNG TÁI LẬP HỢP ĐỒNG KHOÁN BẢO VỆ VÀ TRỒNG RỪNG

Ngày 15-4-2014, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính về khiếu kiện hành vi không tái lập hợp đồng khoán bảo vệ và trồng rừng, giữa:

Người khởi kiện: Lê Văn Phê, sinh năm 1945 và Trần Thị Ngãi, sinh năm 1949, cùng trú tại số 331/11 ấp Thạnh Sơn 2A, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người bị kiện: Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu địa chỉ  số 153, Đường 27/4, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.  Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu

Địa chỉ: Ấp 1, xã Bưng Riềng, huyện Mộc Xuyên, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Phạm Hoàng Mai Huyền Phương, sinh năm 1966; trú tại số 235/11 đường Phạm Văn Hai, Phường 5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trần Quang Trung, sinh năm 1967; trú tại số 18/10C đường Tăng Bạt Hổ, Phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Bùi Đình Trọng, sinh năm 1963; trú tại số 79/2 đường Lê Lai, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Trần Thị Ngọc Hương, sinh năm 1964; trú tại số 393 đường Cách Mạng Tháng 8, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Hồ Hồng Sơn, sinh năm 1968; trú tại số 393 đường Cách Mạng Tháng 8, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú tại lô A003 Chung cư DASÀ, đường 21D, phường Bình Trị Đông B, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Hoàng Kim Quốc, sinh năm 1954; trú tại số 393 Cách Mạng Tháng 8, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú tại lô A003 Chung cư DASÀ, đường 21D, phường Bình Trị Đông B, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Ngày 08-11-1994, ông Lê Văn Phê ký Hợp đồng số 08/HĐK khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ ven biển với Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu. Tổng diện tích khoán bảo vệ rừng, cây trồng rừng 23,5ha, thuộc lô VI, tiểu khu 56; thời hạn hợp đồng đến ngày 08-11-2044.

Năm 1997, ông Phê chuyển nhượng lại cho ông Bùi Đình Trọng, bà Bùi Ánh Tuyết và bà Phạm Hoàng Mai Huyền Phương mỗi người 5ha trong số diện tích đất rừng nêu trên.

Ngày 19-6-2000, Hạt Kiểm lâm Xuyên Mộc - Chi cục Kiểm lâm Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Văn Phê 1.500.000 đồng đối hành vi khai thác rừng trái phép.

Ngày 27-12-2001, ông Phê ủy quyền sử dụng và hưởng thành quả lao động cho bà Phan Thị Kiều Oanh 10ha, cho bà Nguyễn Thị Kim Loan 2,5ha và cho ông Nguyễn Văn Thế 11ha đất rừng thuộc lô VI tiểu khu 56.

Ngày 16-10-2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 9521/QĐ-UB về việc giao bổ sung 2.150ha rừng và đất nông nghiệp cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý, trong đó có diện tích 23,5ha rừng phòng hộ mà ông Phê nhận khoán trước đây.

Ngày 08-3-2005, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vùng Tàu có Công văn số 121/NN-LN về việc thanh lý hợp đồng khoán tại khu vực vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, nội dung: Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu bàn giao rừng và đất lâm nghiệp cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tiến hành thanh lý hợp đồng khoán đã ký với các hộ gia đình; Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có trách nhiệm lập lại hợp đồng với các hộ gia đình đã nhận khoán trước đây.

Ngày 22-3-2005, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu lập Biên bản số 147/KBT về thanh lý hợp đồng khoán đất nông nghiệp tại dự án vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, có nội dung: Hủy bỏ Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 giữa Ban Quản lý và ông Lê Văn Phê.

Ngày 04-12-2006, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu có Thông báo số 342/CY-BQL cho ông Phê biết Hợp đồng giao khoán số 08/HĐK ngày 08-11-1994 không còn giá trị. Ông Phê xin tiếp tục nhận khoán, nên đã khiếu nại.

Ngày 12-7-2007, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Văn bản số 593/SNN.TTr trả lời khiếu nại của ông Phê như sau: Phần diện tích 23,5ha của Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 mà ông Phê nhận khoán hiện nay Ban Quản lý đo đạc lại được 37,93ha (bao gồm diện tích đất rừng phát sinh thêm do trước đây không được đo đạc cụ thể), ông Phê đã chuyển nhượng cho 6 hộ hiện nay đang quản lý tổng diện tích là 26,46ha và giao cho Trạm Quản lý Bảo vệ rừng Phước Thuận quản lý 11,47ha. Đề nghị ông Phê thanh lý Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 và không ký hợp đồng giao khoán với ông Phê nữa; nếu ông Phê tranh chấp thì là tranh chấp dân sự giữa ông Phê và Ban Quản lý.

Ngày 04-9-2007, ông Phê và Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu tiến hành thanh lý Hợp đồng khoán bảo vệ, gây trồng rừng số 08/HĐK ngày 08-11-1994.

Ngày 06-9-2007, ông Phê có đơn gửi Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ (cụ thể: đất trồng rừng 9,18ha; đất khoanh nuôi 5ha; đất rừng bảo vệ 9,37ha) nhưng không được Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chấp nhận.

Ngày 19-5-2010, ông Phê và vợ là bà Trần Thị Ngãi tiếp tục có đơn gửi Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin nhận đất để trồng rừng phòng hộ, nhận rừng tự nhiên để khoanh nuôi bảo vệ đối với khu đất 23,5ha trước đây nhưng cũng không được Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chấp nhận.

Ngày 19-3-2012, ông Phê và bà Ngãi có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, yêu cầu Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng và gây rừng theo các điều khoản đã thoả thuận trong Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2012/HC-ST ngày 11-9-2012 Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã xử: “Bác đơn khởi kiện của ông Lê Văn Phê và bà Trần Thị Ngãi yêu cầu Ban Quản lý Rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phải lập hợp đồng khoản bảo vệ và trồng 23,5ha đất rừng đối với hộ ông Lê Văn Phê.

Ngày 24-9-2012, ông Phê và bà Ngãi có đơn kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 49/2012/HC-PT ngày 26-12-2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 22-2-2013, ông Phê có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 15/2013/KN-HC ngày 30-10-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 49/2012/HC-PT ngày 26/12/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 49/2012/HC-PT ngày 26-12-2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2012/HC-ST ngày 11-9-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đình chỉ giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nhưng đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 49/2012/HC-PT ngày 26-12-2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2012/HC-ST ngày 11-9-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vùng Tàu; giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự.

XÉT THẤY

Ngày 08-11-1994, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu (sau đây gọi tắt là Ban Quản lý Khu bảo tồn) và ông Lê Văn Phê đã ký “Hợp đồng khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ ven biển” số 08/HĐK. Hợp đồng có nội dung Ban Quản lý Khu bảo tồn giao khoán cho ông Phê diện tích 23,5ha để bảo vệ rừng và gây trồng rừng phòng hộ; ông Phê chịu trách nhiệm về vốn rừng đã nhận khoán, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường. Trong quá trình nhận khoán, Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (được tiếp nhận quản lý từ Ban Quản lý Khu bảo tồn, sau đây gọi tắt là Ban quản lý rừng phòng hộ) cho rằng ông Phê đã vi phạm hợp đồng nhận khoán, nên khi thanh lý Hợp đồng số 08/HĐK để lập hợp đồng mới, Ban Quản lý rừng phòng hộ không đồng ý tái lập hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng với ông Phê. Như vậy, Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 nêu trên là hợp đồng dân sự, nên tranh chấp giữa ông Phê và Ban quản lý rừng phòng hộ về việc ông Phê yêu cầu tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng là tranh chấp dân sự. Mặt khác, khi ông Phê khiếu nại việc không tái lập hợp đồng nhận khoán, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Công văn số 593/SNN.TTr ngày 12-7-2007 trả lời ông Phê và xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng khoán diện tích 23,5ha rừng và đất rừng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 và tranh chấp giữa các hộ mà ông Phê đã sang nhượng được điều chỉnh theo quy định của Bộ Luật dân sự. Do đó, tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều cho rằng hành vi không tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 28 Luật tố tụng hành chính, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hành chính, làm mất quyền khởi kiện vụ án dân sự của ông Phê.

Theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 6 Nghị quyết số 02/2011/HĐTP ngày 29-7-2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính” về trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính nhưng sau đó phát hiện đây là vụ án khác hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án khác, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần phải hủy Bản án hành chính sơ thẩm và hủy Bản án hành chính phúc thẩm để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vùng Tàu hướng dẫn vợ chồng ông Phê sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện vụ án dân sự và căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật tố tụng hành chính và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP nêu trên, xóa sổ thụ lý và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa (nơi có trụ sở của Ban Quản lý Rừng phòng hộ) hoặc Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nơi thực hiện Hợp đồng số 08/HĐK) giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Bởi các lẽ trên và căn cứ khoản 3 Điều 219, khoản 3 Điều 225, khoản 3 Điều 227 Luật tố tụng hành chính; khoản 1, khoản 5 Điều 6 Nghị quyết số 02/2011/HĐTP ngày 29-7-2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính”.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận Kháng nghị số 15/2013/KN-HC ngày 30-10-2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 49/2012/HC-PT ngày 26/12/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2012/HC-ST ngày 11/09/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giao hồ sơ vụ án để Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật./.

NỘI DUNG ĐỀ XUẤT LỰA CHỌN LÀM ÁN LỆ

 “Hợp đồng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 nêu trên là hợp đồng dân sự, nên tranh chấp giữa ông Phê và Ban quản lý rừng phòng hộ về việc ông Phê yêu cầu tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng là tranh chấp dân sự. Mặt khác, khi ông Phê khiếu nại việc không tái lập hợp đồng nhận khoán, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Công văn số 593/SNN.TTr ngày 12-7-2007 trả lời ông Phê và xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng khoán diện tích 23,5ha rừng và đất rừng số 08/HĐK ngày 08-11-1994 và tranh chấp giữa các hộ mà ông Phê đã sang nhượng được điều chỉnh theo quy định của Bộ Luật dân sự. Do đó, tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều cho rằng hành vi không tái lập hợp đồng khoán bảo vệ rừng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 28 Luật tố tụng hành chính, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hành chính, làm mất quyền khởi kiện vụ án dân sự của ông Phê”.


147
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 04/2014/HC-GĐT ngày 15/04/2014 về vụ án khiếu kiện hành vi không tái lập hợp đồng khoán bảo vệ và trồng rừng

Số hiệu:04/2014/HC-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:15/04/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về