Quyết định giám đốc thẩm 05/2008/DS-GĐT về vụ án tranh chấp hợp đồng vay vốn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 05/2008/DS-GĐT NGÀY 03/04/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY VỐN 

Ngày 03 tháng 4 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Quang Thuật, sinh năm 1964; trú tại nhà số 217 Lê Duẩn, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

1. Ông Soudent Thavixay, sinh năm 1947, Quốc tịch Thái Lan và Lào;

2. Bà  Nguyễn Thị Tuyết Hoa (vợ ông Soudent Thavixay) sinh năm 1976;

Đều trú tại nhà số 12-22-34 Lô I, phường Cống Vị nay là nhà số 16, ngõ 71, phố Linh Lang, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; ủy quyền cho ông Vũ Quang Huy đại diện (văn bản ủy quyền ngày 22-12-2004).

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01-11-2004 và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn ông Nguyễn Quang Thuật trình bày:

Năm 1990, ông và ông Soudent Thavixay (gọi tắt là ông Soudent có quen biết nhau qua kinh doanh, từ đó quan hệ giữa hai người trở nên thân thiết như anh em. Từ năm 1995, ông Soudent rất cần vốn kinh doanh bất động sản và đầu tư một số dự án lớn (như: Công ty liên doanh sản xuất phụ tùng ô tô xe máy tại Văn Lâm- Hưng Yên, Công ty liên doanh khách sạn Hạ Long Dream tại Quảng Ninh) nên muốn ông cùng hùn vốn đầu tư, nhưng ông chưa đồng ý. Ông đã huy động vốn để cho ông Soudent vay nhiều lần, có lần ông Soudent viết giấy nhận tiền, có lần không viết giấy nhận tiền. Để xác nhận, tổng hợp  các khoản nợ trong nhiều lần vay, ngày 18-8-2000 tại nhà riêng của vợ chồng ông Soudent, ông Soudent và ông lập “Giấy vay nợ” có nội dung: vợ chồng ông Soudent có vay của ông tổng cộng là 19.200.000.000 đồng và 550.000 đô la Mỹ (USD); cam đoan sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay trước ngày 30-10-2000; ông Soudent thay mặt bà Hoa ký trước mặt ông; vợ chồng ông Soudent và ông thống nhất hủy bỏ tất cả các giấy vay nợ từ trước và lấy “Giấy vay nợ” này là duy nhất có giá trị thanh toán.

Đến thời hạn thanh toán, ông đã nhiều lần yêu cầu trả tiền, nhưng ông Soudent chưa trả tiền và đã gán căn nhà số 68 Mai Hắc Đế, Hà Nội cho ông và hứa sẽ làm thủ tục sang tên căn nhà đó cho ông. Sau đó, ông sửa chữa nhà và dọn đến đây ở, nhưng vợ chồng ông Soudent không sang tên nhà cho ông và phủ nhận việc gán nợ ngôi nhà 68 Mai Hắc Đế. Ngày 01-8-2003, ông Soudent khởi kiện đòi nhà 68 Mai Hắc Đế với lý do ông là người ở nhờ nhà của vợ chồng ông Soudent. Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án đòi nhà 68 Mai Hắc Đế, ông thường xuyên phải đi công tác xa, nên không có điều kiện trình bày những vẫn đề liên quan đến việc gán nợ ngôi nhà 68 Mai Hắc Đế cũng như tình hình vợ chồng ông Soudent nợ ông 19.200.000.000 đồng và 550.000 đô la Mỹ (USD).

Ngày viết “Giấy vay nợ” là ngày sau khi ông Soudent từ nước ngoài trở về Việt Nam; hai bên thống nhất lấy ngày hẹn trả của giấy vay nợ lần trước là ngày 18-8-2000 (giấy vay nợ lần trước viết vào ngày 18-6-2000 đến ngày 18-8-2000) để tiếp nối về thời gian làm căn cứ cho việc trả nợ là ngày 30-10-2000. Ông không để ý giấy vay nợ đề ngày 18-8-2000, mà chỉ chú ý tới vợ chồng ông Soudent trả nợ.

Ngày viết giấy vay nợ nêu trên, ngày 18-11-2000 ông Soudent còn ký “Cam kết trả nợ” có nội dung là ông Soudent xác nhận “Giấy vay nợ” nêu trên và cam đoan sẽ thanh toán khoản nợ này cho ông trong thời gian ngắn nhất; đồng thời để chứng minh cho lời cam đoan đó, vợ chồng ông Soudent giao căn nhà số 68 Mai Hắc Đế cho ông làm tin và sẽ hoàn tất thủ tục theo quy định để gán nợ cho ông nếu vợ chồng ông Soudent không thu xếp tiền để trả cho ông như đã cam kết.

Việc vay nợ của vợ chồng ông Soudent trong thời gian dài (từ năm 1995 đến năm 2000) đã thể hiện trong “Giấy vay nợ” và “Cam kết trả nợ”, nhưng vợ chồng ông Soudent chưa trả nợ. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Soudent phải trả cho ông số nợ gốc và lãi theo quy định của pháp luật; đồng thời, đề nghị kê biên, phát mãi một số tài sản hiện có của vợ chồng ông Soudent như: nhà số 68 Mai Hắc Đế, Hà Nội; nhà số I12, I22, I34 phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội để bảo đảm cho quá trình xét xử và thi hành án.

Bị đơn là ông Soudent Thavixay và bà Nguyễn Thị Tuyết Hoa (do ông Vũ Quang Huy đại diện theo ủy quyền) trình bày: “Giấy vay nợ” ghi ngày 18-8-2000, nhưng ngày đó ông không có mặt ở Việt Nam. Ông Thuật cho rằng, ông đã dùng con dấu của Công ty BKS, nhưng ông không biết công ty này. Trong thời gian làm Giám đốc Công ty Liên doanh khách sạn Hạ Long Dream, do thường xuyên đi công tác xa nên ông đã ký khống vào một số giấy tờ để nhân viên chủ động dùng trong công việc. Ông Thuật là nhân viên của Công ty, đã lợi dụng một số giấy tờ ký khống của ông để điền nội dung không đúng sự thật rằng ông đã vay nợ ông Thuật.

Cùng với thủ đoạn như trên, ông Thuật đã làm giấy “Cam kết trả nợ” đề ngày 18-11-2000 nhằm chiếm đoạt căn nhà 68 Mai Hắc Đế của vợ chồng ông. Việc ông Thuật vu khống cho vợ chồng ông cam đoan trả nợ là rất rõ, đó là: cam kết trả nợ được làm ngày 18-11-2000, trong khi đó đến ngày 05-11-2001 thì vợ chồng ông mới được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà này, nên vợ chồng ông không thể mang tài sản chưa thuộc sở hữu của mình để gán nợ cho ông Thuật.

Ông Thuật là nhân viên cũ trong Công ty liên doanh khách sạn Hạ Long Dream, vì tình cảm nên ông đã cưu mang ông Thuật và nhận vào Công ty làm việc; lúc đó ông Thuật không có nhà ở; trước năm 2000 ông Thuật lấy đâu ra một lượng tiền lớn như vậy để cho ông vay. Ông Thuật có mâu thuẫn với vợ chồng ông trong vụ đòi nhà số 68 Mai Hắc Đế, do bị xử thua kiện nên đã tìm cách tạo dựng tài liệu không có thật để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông, hành vi của ông Thuật có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Ông yêu cầu xác định nguồn gốc số tiền mà ông Thuật có để cho ông vay; giám định “Giấy vay nợ” và “Cam kết trả nợ”, xác minh Công ty BKS có thật không. Đồng thời, vợ chồng ông bác bỏ toàn bộ yêu cầu của ông Thuật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37/2005/DSST ngày 05-8-2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu đòi tiền cho vay của ông Thuật đối với ông Soudent và bà Hoa; buộc vợ chồng ông Soudent và bà Hoa phải thanh toán cho ông Thuật số tiền 19.200.000.000 đồng và 550.000 đô la Mỹ (USD) tương đương 8.706.500.000 đồng. Và khoản lãi được tính bằng 19.200.000.000 đồng x 56 tháng x 0,3% = 3.335.600.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông Soudent và bà Hoa phải thanh toán cho ông Thuật là 31.132.100.000 đồng.

- Kể từ ngày xét xử sơ thẩm 05-8-2005, ông Soudent và bà Hoa không được dịch chuyển mua bán diện tích nhà 68 Mai Hắc Đế để đảm bảo việc thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08-8-2005, ông Soudent kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm với lý do Tòa án buộc ông phải trả tiền theo “Giấy vay nợ” giả mạo.

Ngày 15-8-2005, ông Thuật kháng cáo, yêu cầu áp dụng biện pháp phong tỏa đối với ngôi nhà 12-22-334 lô I Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội của ông Soudent và bà Hoa để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 86/2006DSPT ngày 20-4-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu đòi tiền vay của ông Thuật đối với ông Soudent và bà Hoa do ông Vũ Quang Huy đại diện.

- Buộc vợ chồng ông Soudent và bà Hoa do ông Huy đại diện phải thanh thoán trả nợ cho ông Thuật số tiền 19.200.000.000 đồng và 550.000 đô la Mỹ (USD) tương đương 8.706.500.000 đồng và khoản lãi được tính bằng 19.200.000.000 đồng x 56 tháng x 0,3% = 3.225.600.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông Soudent và bà Hoa phải thanh toán cho ông Thuật là 31.132.100.000 đồng.

- Kể từ ngày xét xử sơ thẩm 05-8-2005, ông Soudent và bà Hoa không được chuyển dịch mua bán diện tích nhà 68 Mai Hắc Đế, Hà Nội và kể từ ngày xét xử phúc thẩm (20-4-2006) ông Soudent và bà Hoa không được chuyển dịch mua bán diện tích ngôi nhà số 12,22,34, lô I, phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội để đảm bảo việc thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí.

Sau khi xử phúc thẩm, ông Soudent và bà Hoa có nhiều đơn khiếu nại đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm với lý do: “Giấy vay nợ” và “Cam kết trả nợ” đều là tài liệu giả mạo nhưng Tòa án chấp nhận các giấy tờ này để buộc vợ chồng ông trả nợ ông Thuật là không đúng; ông đã yêu cầu giám định chữ ký của ông tại giấy cam kết trả nợ nhưng chưa được giám định; yêu cầu xác minh nguồn tiền ông Thuật cho vay; con dấu BKS là của công ty nào? Ông không thừa nhận là đã ký tại Phiếu chuyển tiền đề ngày 21-8-2000. Bà Hoa không liên quan đến việc vay nợ, nhưng Tòa án lại lấy tài sản chung của vợ chồng để thi hành án là không đúng.

Tại quyết định kháng nghị số 236/2007/KN-DS ngày 28-12-2007, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 86/2006/DSPT ngày 20-4-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm nêu trên và bản án sơ thẩm số 37/2005/DSST ngày 05-8-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị số 236/2007/KN-DS ngày 28-12-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ông Nguyễn Quang Thuật khai rằng có quan hệ làm ăn với ông Soudent từ năm 1990, từ năm 1995 đến năm 2000, ông Thuật nhiều lần cho ông Soudent vay tiền để đầu tư kinh doanh. Ông Thuật xuất trình văn bản có tiêu đề “Giấy vay nợ” đề ngày 18-8-2000 có chữ ký đề tên ông Soudent (có đóng dấu Công ty B.K.S International Co., Ltd. Bangkok Thailand) có nội dung vợ chồng ông Soudent vay của ông Thuật với số tiền tổng hợp lại là 19.200.000.000 đồng và 550.000 USD, thời hạn trả là ngày 30-10-2000. Đồng thời, ông Thuật xuất trình văn bản có tiêu đề “Cam kết trả nợ đề ngày 18-11-2000 có chữ ký đề tên ông Soudent với nội dung xác nhận lại việc vợ chồng ông Soudent vay tiền ông Thuật, cam kết thanh toán nợ trong thời gian ngắn nhất, đồng thời giao căn nhà số 68 Mai Hắc Đế cho ông Thuật để làm tin và sẽ hoàn tất thủ tục theo quy định để gán nợ cho ông Thuật. Ông Soudent cho rằng, trước đây ông có ký khống một số giấy tờ để nhân viên chủ động trong công việc (ông Thuật đã từng là nhân viên của ông Soudent) lợi dụng chữ ký khống của ông để điền vào nội dung không đúng sự thật là vợ chồng ông nợ tiền ông Thuật như nội dung  “Giấy vay nợ” và “Cam kết trả nợ”.

“Giấy vay nợ” đề ngày 18-8-2000 và “Cam kết trả nợ” đề ngày 18-11-2000 đều không phải là chứng từ mẫu, chỉ có chữ ký đề tên ông Soudent, không có người làm chứng, con dấu được đóng trên chữ ký chưa được xác định là của công ty nào. “Giấy vay nợ” đề ngày 18-8-2000 có nội dung “...Tôi làm và thay mặt vợ chồng tôi ký giấy này tại nhà vợ chồng tôi, trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo, không bị ai cưỡng ép để xác nhận số tiền vay và ngày trả trên là đúng...”, nhưng vào ngày này ông Soudent không có mặt tại Việt Nam (tại công văn số 80/P2 ngày 11-3-2005, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an đã xác nhận ông Soudent xuất cảnh khỏi Việt Nam ngày 15-8-2000 và nhập cảnh vào Việt Nam ngày 27-8-2000). Ông Thuật cho rằng ông Soudent ký giấy vay nợ sau khi đi nước ngoài về, còn ngày 18-8-2000 ghi trên giấy vay nợ là để tính liên tục về thời gian (làm tròn ngày tính nợ); nhưng ông Thuật không xuất trình được chứng cứ để chứng minh lý giải này là có căn cứ. Mặt khác, tại “Cam kết trả nợ” ngày 18-11-2000 có nội dung vợ chồng ông Soudent giao căn nhà 68 Mai Hắc Đế cho ông Thuật để làm tin và sẽ hoàn tất thủ tục gán nợ cho ông Thuật nếu vợ chồng ông Soudent không trả được nợ; tuy nhiên, trong quá trình Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội giải quyết vụ đòi nhà số 68 Mai Hắc Đế giữa bà Hoa, ông Soudent với ông Thuật (vào các năm 2003 và 2004), ông Thuật không xuất trình “Cam kết trả nợ” để yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Soudent giao nhà này như đã cam kết, mà vẫn cho rằng vợ chồng ông Soudent cho ông Thuật căn nhà số 68 Mai Hắc Đế. Việc xuất trình “Cam kết trả nợ” chỉ được diễn ra khi có sự phản đối của ông Soudent rằng: ngày 18-8-2000 ông Soudent không có mặt tại Việt Nam và Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có công văn số 80/P2 ngày 11-3-2005 xác nhận ông Soudent xuất cảnh khỏi Việt Nam ngày 15-8-2000 và nhập cảnh vào Việt Nam ngày 27-8-2000. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Soudent yêu cầu giám định chữ ký của ông Soudent trong phiếu chuyển tiền ngày 21-8-2000 tại Ngân hàng ANZ (Phiếu này do ông Thuật xuất trình để chứng minh ngày 21-8-2000 ông Soudent có mặt tại Việt Nam), xác định con dấu trên “Giấy vay nợ” là con dấu Công ty nào; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không tiến hành xác minh làm rõ. Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào “Giấy vay nợ” đề ngày 18-8-2000. “Cam kết trả nợ” đề ngày 18-11-2000 và chữ ký của ông Soudent trên Phiếu chuyển tiền ngày 21-8-2000 thì chưa đủ cơ sở cho rằng có việc ông Thuật cho vợ chồng ông Soudent vay 19.200.000.000 đồng và 550.000 USD.

Về nguồn gốc số tiền cho vợ chồng ông Soudent vay, ông Thuật trình bày rằng do vợ chồng ông Thuật dành dụm được và huy động vốn từ người thân ông Thuật (trong đó, mẹ ông Thuật để lại cho ông hơn 300 cây vàng và hơn 100.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Châu và ông Nguyễn Hữu Ngọc ở nước ngoài chuyển tiền về cho ông gần 500.000 USD và 5.000.000.000 đồng), còn bà Hương xác nhận là ông Thuật vay 3.700.000.000 đồng, khoảng 25.000 USD và vàng. Việc vay tiền và chuyển ngoại tệ từ nước ngoài về với số lượng lớn như vậy, nhưng ông Thuật lại không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh; trong khi đó, trong quá trình tố tụng, ông Soudent yêu cầu xác minh nguồn gốc số tiền nêu trên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ được.

Ngoài ra, “Giấy vay nợ” có ghi vợ chồng ông Soudent dùng số tiền vay của ông Thuật để mua sắm, tạo dựng nhà cửa và gửi Ngân hàng Vietcombank để chờ đầu tư dự án, nhưng bà Hoa không ký vào “Giấy vay nợ” này; đồng thời, cũng chưa có tài liệu nào thể hiện vợ chồng ông Soudent vay tiền cùa ông Thuật sử dụng vào mục đích chung của gia đình, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Hoa có trách nhiệm cùng với ông Soudent trả nợ cho ông Thuật là không đúng.

Từ những phân tích trên, cần  hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại, theo hướng thu thập thêm chứng cứ để làm rõ nội dung nêu trên, nếu ông Thuật không xuất trình được thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình thì phải bác yêu cầu của ông Thuật.

Do sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 25-5-2006 và ngày 05-01-2007 Thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội đã tổ chức thi hành một phần bản án dân sự phúc thẩm nêu trên (Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội đã cưỡng chế thu của ông Soudent 8.906,82 USD tại Ngân hàng Bangkoc và bán đấu giá căn nhà số 68 Mai Hắc Đế, phường Bùi Thị Xuân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội được 7.362.000.000 đồng); do đó, khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa người đã mua đấu giá căn nhà số 68 Mai Hắc Đế vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 86/2006/DSPTngày 20-4-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án dân sự sơ thẩm số 37/2005/DSST ngày 05-8-2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang Thuật với bị đơn là ông Soudent Thavixay và bà Nguyễn Thị Hoa.

2. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Chưa đủ cơ sở đê kết luận có việc vay tài sản giữa bị đơn và nguyên đơn như Tòa án các cấp đã xác định.


266
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 05/2008/DS-GĐT về vụ án tranh chấp hợp đồng vay vốn

Số hiệu:05/2008/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/04/2008
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!

Bình luận:

Mời bạn Đăng nhập để có thể bình luận