Quyết định giám đốc thẩm 06/2011/DS-GĐT ngày 18/03/2011 về yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà và chia di sản thừa kế giữa Phạm Văn Trung và Phạm Văn Phụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 06/2011/DS-GĐT NGÀY 18/03/2011 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ YÊU CẦU HỦY HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ VÀ CHIA DI SẢN THỪA KẾ GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG PHẠM VĂN TRUNG VÀ BỊ ĐƠN ÔNG PHẠM VĂN PHỤNG 

Ngày 18-3-2011, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án tranh chấp “Yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán nhà và chia di sản thừa kế” giữa:

Nguyên đơn: ông Phạm Văn Trung, sinh năm 1953; trú tại 17 Moona Street, Burwood East, Victona 3151, Australia.

Ông Trung uỷ quyền cho bà Chiêm Thanh Thuỷ, sinh năm 1955; trú tại số nhà 105/23A Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thành, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1. Ông Phạm Văn Phụng, sinh năm 1944; trú tại số nhà 64A hẻm 62 Đồng Nai, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.

2. Ông Vũ Văn Thân, sinh năm 1944;

3. Bà Tạ Thị Liên, sinh năm 1947;

Ông Thân, bà Liên trú tại số nhà 37 Ngô Gia Tự, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn Thanh, sinh năm 1927; trú tại khối 15, phường Bến Thuỷ thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

2. Bà Nguyễn Thị Thắm (Phạm Thị Thắm), sinh 1930; trú tại 58 Phan Bội Châu, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

3. Bà Phạm Thị Sa, sinh năm 1938; trú tại 49/19/1 Núi Một, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

4. Chị Phạm Thị Nhung, sinh năm 1956;

5. Anh Phạm Văn Đang;

6. Anh Phạm Huy Hoàng;

7. Chị Phạm Thị Mây.

Chị Nhung, anh Đang, anh Hoàng và chị Mây đều trú tại Phú Thọ 2, Ninh Diêm, Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Anh Đang, anh Hoàng, chị Mây ủy quyền cho chị Phạm Thị Nhung.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15-9-2005, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 02-9-2006 của ông Phạm Văn Trung và trong quá trình tố tụng ông Trung ủy quyền cho bà Chiêm Thanh Thủy đại diện trình bày:

Cụ Phạm Văn Trừ (chết năm 1979) có 3 vợ. Cụ Trừ với cụ Phan Thị Chanh (vợ thứ nhất, chết năm 1930) có 6 người con là ông Phạm Văn Thanh, bà Nguyễn Thị Thắm (tức Phạm Thị Thắm), ông Phạm Được (chết 1968, có 4 người con là chị Phạm Thị Nhung, anh Phạm Văn Đang, anh Phạm Huy Hoàng, chị Phạm Thị Mây), bà Phạm Thị Ngọt, bà Phạm Thị Nhàn, bà Phạm Thị Khế (bà Ngọt, bà Nhàn, bà Khế đều chết, không có chồng con). Cụ Trừ với cụ Nguyễn Thị Thương (vợ thứ hai, chết năm 1950) có 2 người con là ông Phạm Văn Phụng và bà Phạm Thị Sa. Cụ Trừ với cụ Phạm Thị Quyết (vợ thứ ba, chết năm 1962) có một người con là ông Phạm Văn Trung.

Trong thời gian cụ Trừ chung sống với cụ Quyết thì hai cụ tạo lập được khối tài sản là nhà, đất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang. Sau khi cụ Trừ và cụ Quyết chết, ông Phụng quản lý, sử dụng nhà đất trên. Trong thời gian quản lý, sử dụng nhà đất ông Phụng bà Sa có hành vi gian dối, tự khai cụ Trừ chỉ có 02 người con là ông Phụng và bà Sa để làm thủ tục kê khai, đăng ký nhà đất và ngày 20-3-2003 ông Phụng được Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, ngày 25-3-2003 ông Phụng bán toàn bộ căn nhà này cho vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên. Ngày 25-6-2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Vũ Văn Thân nhưng những người thừa kế của cụ Trừ không biết. Năm 2003 , ông Trung về Việt Nam khi biết ông Phụng đã tự ý bán nhà đã làm đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở mà Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã cấp cho ông Phụng và vợ chồng ông Thân, bà Liên. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 05/2004/HCST ngày 16-8-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa và tại bản án hành chính phúc thẩm số 02/2005/HCPT ngày 17-3-2005 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã hủy cả 02 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã cấp cho ông Phụng và vợ chồng ông Thân bà Liên. Do đó, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà trái pháp luật giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân, bà Liên; yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Bị đơn ông Phạm Văn Phụng trình bày: Cha của ông là cụ Phạm Văn Trừ (chết 1979); mẹ là cụ Nguyễn Thị Thương (chết 1950). Cha mẹ ông có hai người con chung là ông và bà Phạm Thị Sa. Sau khi mẹ của ông chết, cha của ông kết hôn với cụ Quyết nhưng không có con chung. Năm 1962 cụ Quyết chết ông cùng cha sống tại căn nhà 85 Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Nha Trang; năm 1979 cha của ông chết ông tiếp tục quản lý căn nhà do cha ông tạo lập nêu trên. Năm 2003, ông đăng ký kê khai được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, sau đó hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ông đã bán toàn bộ căn nhà trên cho vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên với giá 200 lượng vàng SJC, số tiền bán nhà ông đã trả nợ và mua một căn nhà nhỏ để ở, đồng thời đưa bà Sa 20 lượng vàng nên ông không đồng ý yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông với vợ chồng ông Thân và không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế, vì ông Trung không phải là con cụ Trừ nên không có quyền lợi đối với tài sản thừa kế của cụ Trừ.

Bị đơn là vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên trình bày: Năm 2003, vợ chồng ông mua nhà, đất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang của ông Phụng vì ông Phụng là chủ sở hữu (tại thời điểm giao kết hợp đồng) với giá 200 lượng vàng SJC, hợp đồng mua bán đã được Phòng Công chứng tỉnh Khánh Hòa chứng nhận ngày 25-3-2003, đã nhận nhà và giao đủ 200 lượng vàng cho ông phụng. Ngày 25-6-2003, Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho ông. Khi xét xử về hành chính Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của vợ chồng ông là không đúng, làm thiệt hại quyền lợi của gia đình ông vì đã mua bán nhà ngay tình, hợp pháp nên không đồng ý yêu cầu của ông Trung hủy hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng ông với ông Phụng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thắm (tức Phạm Thị Thắm) khai: Những người vợ và con của cụ Trừ đúng như nguyên đơn đã khai. Nhà đất do cụ Trừ và mẹ bà là cụ Chanh (vợ cả của cụ Trừ) tạo lập; là di sản thừa kế của cha mẹ bà; nhưng vì mẹ bà chết đã lâu và cụ Trừ có 02 người vợ sau và có xây dựng lại nhà, nên nhà này là di sản thừa kế của cụ Trừ (chết không để lại di chúc). Năm 2003, ông Phụng tự ý bán nhà đất không được sự đồng ý của các thừa kế; bà Thắm đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà Phạm Thị Sa khai: Những người vợ và con của cụ Trừ đúng như nguyên đơn đã khai. Bà là con của cụ Trừ với cụ Thương; nhà là tài sản của cha bà tạo lập (không rõ thời gian); bà ở với cha từ nhỏ đến khi cha lấy cụ Quyết thì bà đi lấy chồng; sau khi bà ly hôn lại về sống và phụng dưỡng cha và nuôi bốn cháu con của ông Được (đã chết); có cả ông Trung, ông Phụng ở cùng cha; cha chết, ông Phụng quản lý nhà đất. Năm 2001, bà có lợi giấy nhượng quyền đứng tên sở hữu chủ cho ông Phụng để ông thế chấp vay ngân hàng và có nhận 20 lượng vàng ông Phụng đưa. Năm 2003, mới biết ông Phụng tự ý bán nhà (di sản thừa kế), bà có cho con nói với vợ chồng ông Thân biết vẫn mua là vi phạm pháp luật.

Chị Phạm Thị Nhung (chị Nhung đại diện cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Thanh, anh Phạm Văn Đang, anh Phạm Huy Hoàng, chị Phạm Thị Mây) trình bày: Những người vợ và con của cụ Trừ đúng như nguyên đơn đã khai. Bốn chị em chị; (chị, anh Đang, anh Hoàng, chị Mây) là con của ông Phạm Được, chết 1968), cha chết lúc đó bốn chị em còn rất nhỏ và sống với ông nói ở căn nhà này; ông nội chết 1979 không để lại di chúc, ông Phụng đã lừa dối cơ quan nhà nước, lén lút bán nhà khi chưa có sự đồng ý của các thừa kế của cụ Trừ nên đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trung. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2007/DSST ngày 21-5-2007, Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:

- Đình chỉ yêu cầu “Đòi nhà” 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang cha ông Phạm Văn Trung đối với ông Phạm Văn Phụng và ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên.

- Chấp nhận yêu cầu xin huỷ họp đồng mua bán nhà và chia di sản thừa kế của ông Phạm Văn Trung.

Tuyên bố hợp đồng mua bán nhà rất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang lập ngày 25-3-2003 giữa ông Phạm Văn Phụng với vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên là họp đồng vô hiệu.

Hủy toàn bộ hợp đồng mua bán nhà, đất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang giữa ông Phạm Văn Phụng với vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên lập ngày 25-3-2003.

Ông Phạm Văn Phụng phải trả cho vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên 200 lượng vàng SJC.

Vợ chồng ông Vũ Văn Thân, và Tạ Thị Liên phải trả lại cho ông Phạm Văn Phụng toàn bộ nhà, đất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang.

Xác định nhà, đất 85 Huynh Thúc Kháng, Nha Trang có diện tích 63,51m2 tổng giá trị 2.177.616.054 đồng, trong đó giá trị nhà là 8.114 .454 đồng và giá trị quyền sử dụng đất là 2.1 69.501.600 đồng là di sản thừa kế của cụ Phạm Văn Trừ và cụ Phạm Thị Quyết để lại.

Giao cho ông Phạm Văn Phụng sở hữu nhà, đất 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang và có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần cho các đồng thừa kế, cụ thể:

Thanh toán cho ông Phạm Văn Trung số tiền là 364.626.519 đồng.

Thanh toán cho ông Phạm Văn Thanh số tiền là 362.597.906 đồng.

Thanh toán cho bà Phạm Thị Thắm số tiền là 362.597.906 đồng.

Thanh toán cho bà Phạm Thị Sa số tiền là 104.197.906 đồng.

Thanh toán cho chị Phạm Thị Nhung, anh Phạm Văn Đang, anh Phạm Huy Hoàng, chị Phạm Thị Mây mỗi người số tiền là 90.649.476 đồng.

Trong trường hợp cơ quan thi hành án phát mãi căn nhà 85 Huỳnh Thúc Kháng, Nha Trang theo hình thức bán đấu giá để thi hành án, thì vợ chồng ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên được quyền ưu tiên mua trước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28-5-2007, ông Phạm Văn Trung có đơn kháng cáo cho rằng nhà đất là của cụ Trừ, cụ Quyết tạo lập, Tòa án giao nhà cho ông Phụng là không đúng, không thi hành án được vì ông Phụng phải trả lại cho vợ chồng ông Thân 200 lượng vàng; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân và dành quyền khởi kiện cho vợ chồng ông Thân ở vụ kiện khác.

Ngày 05-6-2007, ông Phạm Văn Phụng có đơn kháng cáo cho rằng hợp đồng mua bán nhà giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân đúng pháp luật, không đồng ý chia thừa kế nhà đất trên.

Ngày 28-5-2007, ông Vũ Văn Thân và bà Tạ Thị Liên kháng cáo cho rằng huỷ hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Phụng với vợ chồng ông là không đúng, vì việc mua bán đã qua công chứng, mua bán ngay tình, Tòa án không áp dụng Điều 138 Bộ luật dân sự để giải quyết gây thiệt thòi nhiều mặt cho gia đình ông.

Ngày 28-5-2007, bà Phạm Thị Sa kháng cáo xin nhận thêm tiền bằng các kỷ phần khác trong vụ án.

Ngày 06-6-2007, bà Phạm Thị Thắm kháng cáo án sơ thẩm (quá hạn).

Ngày 06-6-2007, chị Phạm Thị Nhung kháng cáo án sơ thẩm (quá hạn).

Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã ra Quyết định số 2546/2007/QĐPT ngày 10-8-2007 và Quyết định số 2735/2007/QĐPT ngày 19-9-2007 không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà Phạm Thị Thắm, chị Phạm Thị Nhung.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 91/2007/DSPT ngày 28-9-2007, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2007/DSST ngày 21-5-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.

Sau khi xét xử phúc thẩm ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên có đơn khiếu nại bản án phúc thẩm cho rằng án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hủy hợp đồng mua bán nhà và chia thừa kế là trái pháp luật và không thể thi hành án được, làm thiệt hại đến quyền lợi của gia đình ông Thân.

Ông Phạm Văn Phụng có đơn khiếu nại cho rằng hết thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế, khi giải quyết vụ án Tòa án không tính công duy trì quản lý, trông coi tài sản trong nhiều năm của ông là không đúng và đề nghị công nhận hợp đồng mua bán nhà giữa ông với vợ chồng ông Thân.

Tại Quyết định số 70/2010/KN-DS ngày 27-01-2010, Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 91/2007/DSPT ngày 28-9-2007 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 06/2007/DSST ngày 21-5-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 91/2007/DSPT ngày 28-9-2007 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng vừa huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 06/2007/DSST ngày 21-5-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Theo lời khai của đại diện của nguyên đơn thì cụ Phạm Văn Trừ (chết năm 1979) có 3 vợ. Cụ Trừ với cụ Phan Thị Chanh (vợ thứ nhất, chết năm 1930) có 6 người con là ông Phạm Văn Thanh, bà Nguyễn Thị Thắm (tức Phạm Thị Thắm), ông Phạm Được (chết năm 1968, có 4 người con là chị Phạm Thị Nhung, anh Phạm Văn Đang, anh Phạm Huy Hoàng, chị Phạm Thị Mây), bà Phạm Thị Ngọt, bà Phạm Thị Nhàn, bà Phạm Thị Khế (bà Ngọt, bà Nhàn, bà Khế đều chết, không có chồng con). Cụ Trừ với cụ Nguyễn Thị Thương (vợ thứ hai, chết năm 1950) có 2 người con là ông Phạm Văn Phụng và bà Phạm Thị Sa. Cụ Trừ với cụ Phạm Thị Quyết (vợ thứ ba, chết năm 1962) có một người con là ông Phạm Văn Trung.

Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì căn nhà 85 Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trên diện tích 63,51m2 đất, nguồn gốc đất là do cụ Trừ xây cất trên diện tích đất công trong thời kỳ cụ Trừ chung sống với cụ Chanh, cụ Thương nhưng trong giai đoạn cụ Trừ chung sống với cụ Quyết thì hai cụ xây dựng lại căn nhà như hiện nay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định giá trị đất khuôn viên căn nhà 85 Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Nha Trang là tài sản của cụ Trừ, còn giá trị căn nhà là tài sản chung của cụ Trừ và cụ Quyết để chia thừa kế là có căn cứ.

Năm 2003, ông Phụng khai báo không đầy đủ những người thừa kế theo pháp luật của cụ Trừ, cụ Quyết nên ngày 20-3-2003 ông Phụng đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; sau đó ông Phụng đã chuyển nhượng nhà, đất này cho ông Thân, bà Liên. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông Thân đã làm đầy đủ thủ tục và ngày 25-6-2003 được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Như vậy khi ông Thân, bà Liên nhận chuyển nhượng nhà đất thì ông Phụng đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa công nhận có quyền sở hữu nhà ở, sử dụng đất ở hợp pháp. Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân tại thời điểm giao dịch cũng được công nhận là hợp pháp, các bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và vợ chồng ông Thân đã được công nhận có quyền sở hữu nhà ở, sử dụng đất ở. Do đó, trong trường hợp này cần phải xác minh làm rõ nếu việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân là ngay tình, các đương sự không có hành vi gian dối hoặc nhằm che dấu giao dịch khác thì phải căn cứ vào khoản 2 Điều 138 Bộ luật dân sự để công nhận hợp đồng này. Trường hợp có đầy đủ chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng này không ngay tình hoặc có hành vi gian dối thì mới xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất trên là vô hiệu, đồng thời xác định lỗi cơ bản là của ông Phụng để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật mới đúng.

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xem xét đánh giá đầy đủ về tính pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Phụng với vợ chồng ông Thân, nhưng đã xác định hợp đồng là vô hiệu là không đủ căn cứ. Hơn nữa khi huỷ hợp đồng trên Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xác định lỗi của các đương sự để giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật cũng là không đúng.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án ông Phụng cho rằng ông Phạm Văn Trung không phải là con của cụ Trừ. Trong khi đó ông Trung chỉ xuất trình được “Trích lục chứng thư hôn thú” ngày 05-12-1974 ghi chồng là Phạm Văn Trung, cha chồng là Phạm Văn Trừ và “Tờ khai gia đình” ghi cụ Trừ là chủ gia đình và ông Trung là con để cho rằng ông là con của cụ Trừ, cụ Quyết và hiện tại ông Trung đã định cư ở Austraha. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm chưa xác minh về quan hệ giữa ông Trung với cụ Trừ; thời điểm và diện xuất cảnh của ông để xác định về quyền về tài sản của ông Trung ở Việt Nam, cũng như quyền về thừa kế của ông Trung đối với tài sản của cụ Trừ những lại căn cứ vào lời khai của người đại diện của ông Trung, một số đương sự khác và hai tài liệu do ông Trung xuất trình để xác định ông Trung là con cụ Trừ và ông Trung được thừa kế tài sản của cụ Trừ là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, trong thực tế thì ông Phụng và bà Nguyễn Thị Tửu (vợ ông Phụng) là người trực tiếp quản lý nhà đất có tranh chấp. Sau khi ông Phụng chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Thân thì ông Phụng, bà Tửu sử dụng số tiền do chuyển nhượng nhà đất để trả nợ chung, chi tiêu trong gia đình và mua nhà khác để ở. Nhưng khi giải quyết vụ án Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không đưa bà Tửu tham gia tố tụng và không xác định nghĩa vụ của bà Tửu cũng không đúng.

Thêm nữa, anh Đang, anh Hoàng, chị Mây và chị Nhung là các con của ông Được đã chết, nên Toà án các cấp xác định các anh, chị trên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng nhưng tại hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ xác định anh Đang, anh Hoàng, chị Mây uỷ quyền cho chị Nhung tham gia tố tụng. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm lại xác định chị Nhung là đại diện theo uỷ quyền của anh Đang, anh Hoàng, chị Mây là không chính xác.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 91/2007/DSPT ngày 28/09/2007 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 06/2007/DSST ngày 21/05/2007 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà về vụ án tranh chấp “Yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán nhà và chia di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Phạm Văn Trung với các bị đơn là ông Phạm Văn Phụng, ông Vũ Văn Thân, bà Tạ Thị Liên.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 06/2011/DS-GĐT ngày 18/03/2011 về yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà và chia di sản thừa kế giữa Phạm Văn Trung và Phạm Văn Phụng

Số hiệu:06/2011/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/03/2011
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về