Quyết định giám đốc thẩm 06/2013/DS-GĐT ngày 11/01/2013 về chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Lê Văn An và bị đơn cụ Lê Thị Hoa

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 06/2013/DS-GĐT NGÀY 11/01/2013 VỀ CHIA DI SẢN THỪA KẾ GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG LÊ VĂN AN VÀ BỊ ĐƠN CỤ LÊ THỊ HOA

Ngày 11-01-2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Chia di sản thừa kế”giữa:

Nguyên đơn:

1. Ông Lê Văn An sinh năm 1947, trú tại ấp 1, xã Vang Qưới Đông, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

2. Anh Lê Hữu Thuận sinh năm 1978, trú tại 57/4B Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ông An, anh Thuận ủy quyền cho bà Lê Thị Ngọc Phượng sinh năm 1957, trú tại 57/4B Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang làm đại diện.

Bị đơn: Cụ Lê Thị Hoa sinh năm 1939, trú tại 58/9 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Hộ bà Lê Thị Hoa

1. Anh Lê Văn Hương, sinh năm 1976;

2. Chi Trần Thị Thanh Thúy, sinh năm 1979;

3. Chi Lê Thị Thơm, sinh năm 1970;

4. Cháu Lê Trần Minh Quang, sinh năm 2001.

Đại diện theo pháp luật của cháu Quang: chị Trần Thị Thanh Thúy.

5. Cháu Nguyễn Xuân Huệ, sinh năm 1995;

Đại diện theo pháp luật của cháu Huệ: chị Lê Thị Thơm.

6. Chị Lê Thị Mến, sinh năm 1965.

7. Anh Nguyễn Văn Xoàn, sinh năm 1965.

8. Cháu Nguyễn Trọng Đại, sinh năm 1986.

9. Cháu Nguyễn Trọng Ái, sinh năm 1993.

Đại diện theo pháp luật của cháu Đại, Ái: chị Lê Thị Mến.

10. Anh Lê Văn Thanh, sinh năm 1967.

11. Chị Trương Ngọc Lan (vợ anh Thanh)

Cùng địa chỉ: 58/9 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

12. Bà Lê Thị Xoàn- Định cư tại Hoa Kỳ.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2006 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Văn An, anh Lê Hữu Thuận do bà Lê Thị Ngọc Phượng làm đại diện trình bày: Cha mẹ ông là cụ Lê Văn Lang (chết năm 1994) và cụ Võ Thị Năm (chết năm 1960) có ba người con chung là: ông (Lê Văn An), bà Lê Thị Xoàn và ông Lê Văn Hòa (chết ngày 27/11/1993, có vợ là bà Lê Thị Ngọc Phượng và con là anh Lê Hữu Thuận). Quá trình chung sống, cha mẹ ông tạo lập được căn nhà dạng thô sơ trên 400m2 đất tại số 58/9 Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Mẹ ông chết năm 1960, năm 1975 cha ông chấp nối với cụ Lê Thị Hoa (không có đăng ký kết hôn) có một người con chung là anh Lê Văn Hương. Cụ Hoa đã có chồng trước và có bốn người con riêng là các anh, chị Lê Thị Thương, Lê Thị Mến, Lê Văn Thanh và Lê Thị Thơm. Nguồn gốc nhà đất này do bố mẹ ông thuê đất nhà thờ Bình Tạo điện tích khoảng 800m2 đất, trực canh và cất nhà ở. Căn nhà này đã sửa chữa nhiều lần nhưng cấu trúc nhà vẫn không thay đổi. Năm 1984 cha ông đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo CT 299/TTg ngày 11/10/1980 diện tích 844m2. Quá trình quản lý, sử dụng đất, bố ông sang nhượng cho ông Bùi Văn Nhơn 88m2 đất ở, bà Xuân 83m2 đất ở và một số diện tích đất bị lấn chiếm nên thực tế chỉ còn 395,8m2. Năm 1991-1992 cha ông cắt khoảng 180m2 đất để phân chia cho hai người con riêng của cụ Hoa là chị Mến và anh Thanh, số còn lại cha ông và cụ Hoa quản lý. Năm 1994 cha ông chết, hiện cụ Hoa quản lý, sử dụng 232m2, chị Mến sử dụng 83,6m2, anh Thanh sử dụng 80,2m2. Cha ông cho con riêng của cụ Hoa cất nhà ở tạm nên không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Việc cụ Hoa cho rằng cụ sống chung với cha ông năm 1969 là không phù hợp vì con riêng của cụ Hoa sinh năm 1970. Sự thật là cụ Hoa chung sống với cha ông năm 1975 và có một con chung sinh năm 1976. Như vậy, nhà số 58/9 Lê Thị Hồng Gấm và 395,8m2 đất hiện cụ Hoa đang quản lý là tài sản chung của cha mẹ ông, không phải là tài sản chung của cha ông với cụ Hoa. Ông yêu cầu chia thừa kế nhà, đất của cha mẹ ông để lại.

Bị đơn là cụ Lê Thị Hoa trình bày: Năm 1969 cụ về chắp nối với cụ Lang, thời gian đó vợ cụ Lang chết ở quê, cụ Lang tản cư xuống đây cùng cụ thuê đất của nhà thờ và sống chung với nhau. Cụ Lang có ba người con riêng, cụ có bốn người con riêng và có một người con chung với cụ Lang là anh Lê Văn Hương. Khi cụ Lang còn sống, các con riêng của cụ không sống chung với cụ. Tài sản tranh chấp cụ đang trực tiếp quản lý gồm 1 căn nhà thô sơ, vách xây, mái tôn, nền đất trên diện tích 232m2. Nhà đất này không phải là di sản thừa kế của cụ Lang để lại mà do cụ và cụ Lang thuê đất của nhà thờ cất nhà để ở từ khi sống chung với nhau cho đến khi cụ Lang chết (năm 1994). Sau khi cụ Lang chết, cụ tiếp tục thuê đất của nhà thờ, năm 1993 khi nhà nước có chủ trương kê khai, đóng thuế đất thì cụ không phải trả tiền thuê đất nữa. Năm 1994 cụ trực tiếp quản lý, làm tròn nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, Cụ đăng ký kê khai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do ông An tranh chấp nên nhà nước chưa trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ. Đối với căn nhà thô sơ thì do công sức vợ chồng cụ tạo dựng nhưng do kết cấu đơn sơ, nhà hư dột nên sau khi cụ Lang chết, anh Hương (là con chung của cụ với cụ Lang) đã tu bổ, sửa chữa nhiều lần, xác nhà cũ không còn nên căn nhà này là tài sản riêng của anh Hương, không phải là di sản của cha mẹ ông An để lại. Cụ không đồng ý yêu cầu chia thừa kế theo yêu cầu của ông An, anh Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Hương trình bày: Anh là con chung của cụ Lang và cụ Hoa, các con riêng của cha anh không sống cùng với cha mẹ anh. Anh được biết diện tích đất tranh chấp do cha mẹ anh mướn của nhà thờ Bình Tạo nên không có giấy chủ quyền. Năm 1994 cha anh chết, mẹ anh tiếp tục ở và đóng thuế đến nay, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do ông An tranh chấp nên mẹ anh chưa được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Thanh (là con riêng của cụ Hoa) trình bày: Năm 1986 anh đi nghĩa vụ quân sự, bị thương và được xác định là thương binh loại 4. Năm 1988 anh lập gia đình và san lấp mặt bằng để cất chòi lá dưới góc nhà của mẹ anh là cụ Hoa để ở, xung quanh phần đất này là đất thánh. Sau này anh xin cha mẹ cất nhà tre, vách lá trên diện tích 11l,30m2. Năm 2002 nhà anh bị sập nên Hội đồng thương binh phường 6 trợ cấp xây lại căn nhà tình thương trên phần đất đó cho anh. Anh không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của ông An, anh Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Mến (là con riêng của cụ Hoa) trình bày: Năm 1985 chị có chồng và sống chung với cha mẹ, lúc đó nhà còn thô sơ, dột nát nên chồng chị có đưa cho cha mẹ 2 triệu đồng để sửa lại nhà. Sau đó cha mẹ nhượng lại cho vợ chồng chị một nền nhà để ở riêng diện tích 115,5m2. Chị không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông An và anh Thuận.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2007/DS-ST ngày 24/8/2007, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Lê Vãn An và anh Lê Hữu Thuận.

Xác định di sản thừa kế của cụ Lang để lại là 1/2 diện tích đất tại thửa số 57 đang do cụ Hoa đứng tên kê khai (diện tích thửa 57 là 232m2) = 116m2 và giá trị một phần nhà số 58/9 Lê Thị Hồng Gấm là 711.160đồng/2 có tổng giá trị di sản là 278.755.080đ.

Xác định có 5 đồng thừa kế hưởng di sản của cụ Lang là cụ Hoa, ông An, anh Hương, bà Xoàn, anh Thuận (thế vị của ông Hòa).

Xác định 1/2 diện tích đất tại thửa số 57 =116m2 và cấu trúc căn nhà số 58/9 là tài sản của cụ Lê Thị Hoa.

Chia ông An hưởng một kỷ phần thừa kế di sản của cụ Lang nhận bằng giá trị là 55.751,016đ (Năm mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn không trăm mười sáu đồng).

Chia anh Thuận hưởng 2 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Lang, nhận bằng giá trị là 111.502.032đ (Một trăm mười một triệu năm trăm lẻ hai ngàn không trăm ba mươi hai đồng).

Bác yêu cầu của ông An và anh Thuận về việc yêu cầu xác định di sản của cụ Lang là 400m2 đất và căn nhà số 5819 Lê Thị Hồng Gấm.

Bác yêu cầu của ông An và anh Thuận về việc không chia di sản của cụ Lang cho anh Hương và cụ Hoa.

Bác yêu cầu của ông An và anh Thuận về việc yêu cầu xác định diện tích đất của anh Thanh và chị Mến đang sử dụng là di sản của cụ Lang.

Anh Hương và cụ Hoa mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế di sản của cụ Lang có giá trị là 55.751.016đ (anh Hương và cụ Hoa được chia bằng hiện vật là 116m2 đất và phần cột kèo gắn liền ngôi nhà số 58/9 theo biên bản định giá ngày 31/7/2007

Buộc cụ Hoa và anh Hương có nghĩa vụ giao lại cho ông An giá trị một kỷ phần thừa kế là 55.751.016đ và anh Thuận giá trị 2 kỷ phần thừa kế là 111.502.032đ giao ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bản án còn quyết định về án phí.

Ngày 31/8/2007 bà Lê Thị Ngọc Phượng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 44/2008/DSPT ngày 30/01/2008 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận một phần kháng cáo của các đồng nguyên đơn, sửa án sơ thẩm;

Xác định căn nhà số 5819 đường Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang trên DT đất 395,8m2 tại thửa số 57 là di sản thừa kế của cụ Lê Văn Lang và cụ Võ Thị Năm. Xác định cụ Lang, ông Lê Văn An, bà Lê Thị Xoàn, anh Lê Hữu Thuận (hưởng thừa kế thế vị của ông Lê Văn Hòa) là đồng thừa kế di sản của cụ Võ Thị Năm.

Xác định ông An, bà Xoàn, anh Thuận, anh Hương, cụ Hoa là các đồng thừa kế di sản của cụ Lang.

Cụ thể từng người được hưởng như sau:

Ông Lê Văn An, bà Lê Thị Xoàn, anh Lê Hữu Thuận mỗi người được hưởng 57,9m2 đất tương đương 138.960.000 đ và nhà tương đương 88.950 đ, cộng chung 139.048.950đ. Phần của bà Xoàn giao cho anh Lê Hữu Thuận quản lý.

Cụ Lê Thị Hoa được hưởng 50,61m2 đất tương đương 121.461.000đ.

Anh Lê Văn Hương hưởng 8,43m2 tương đương 20.232.000đ.

Cụ Hoa và anh Hương được chia bằng hiện vật nhà và đất.

Buộc Cụ Hoa và anh Hương có nghĩa vụ giao lại ông An, bà Xoàn, anh Thuận mỗi người với số tiền 139.048.950đ.

Bản án còn quyết định về án phí.

Ngày 27/3/2008 cụ Hoa cùng các con là chị Mến và anh Thanh có đơn khiếu nại với nội dung: Tòa án phúc thẩm chỉ dựa vào lời khai của nguyên đơn để xác định là di sản của cụ Năm trong khi cụ Năm và cụ Lang không sinh sống tại Mỹ Tho trong giai đoạn từ 1947 đến 1960, nhà đất trên là do cụ Hoa và cụ Lang cùng khai khẩn đất thánh nhà thờ Bình Tạo năm 1969-1970 và sử dụng cho đến nay.

Tại Quyết định số 73/2011/KN-DS ngày 25-01-2011 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 44/2008/DSPT ngày 30/01/2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 19/2007/DS-ST ngày 24/8/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm giải quyết vụ án với nhận xét: Mặc dù bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm có sai sót nhưng không nghiêm trọng, bản án đã thi hành xong nên đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để ổn định bản án.

XÉT THẤY

Cụ Lê Văn Lang (chết năm 1994) có hai vợ là cụ Võ Thị Năm và cụ Lê Thị Hoa. Cụ Lang và cụ Năm (chết năm 1960) có ba người con chung là các ông, bà Lê Văn An, Lê Văn Hòa (chết năm 1993, có con là anh Lê Hữu Thuận) và bà Lê Thị Xoàn hiện đang định cư tại Mỹ. Cụ Lang và cụ Hoa có một người con chung là anh Lê Văn Hương. Trước khi chung sống với cụ Lang, cụ Hoa có chồng (đã chết) và có bốn ngưồi con riêng là các ông, bà Lê Thị Thương, Lê Thị Mến, Lê Văn Thanh và Lê Thị Thơm. Cụ Năm và cụ Lang chết đều không để lại di chúc. Sau khi cụ Lang chết, cụ Hoa tiếp tục quản lý căn nhà số 58/9 trên phần đất 400m2 tại đường Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ông An và anh Thuận cho rằng nhà, đất trên là tài sản do cụ Lang và cụ Năm tạo lập để yêu cầu chia thừa kế, còn cụ Hoa cho rằng cụ và cụ Lang thuê đất của nhà thờ Bình Tạo để cất nhà ở và quản lý sử dụng đến nay. Quá trình sử dụng, cụ đã đăng ký kê khai và đang chờ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn căn nhà của cụ và cụ Lang dựng đã hư dột, anh Hương (là con của cụ và cụ Lang) đã sửa lại nên căn nhà này không phải là di sản của cụ Lang để lại. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của cụ Hoa, lời khai của chị Phượng (là đại diện theo ủy quyền của ông An, anh Thuận), lời khai của anh Thuận, sổ mục kê đất vườn, đất thổ năm 1984 và xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 6, có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của nhà thờ Bình Tạo và cụ Lang là người đăng ký kê khai quyền sử dụng đất năm 1984. Sau khi cụ Lang chết, cụ Hoa tiếp tục sử dụng đến nay. Như vậy, các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của nhà thờ Bình Tạo, nhưng quá trình giải quyết vụ án Tòa án các cấp chưa thu thập chứng cứ để làm rõ ai là người thuê đất của nhà thờ Bình Tạo, thời điểm thuê đất của nhà thờ, người xây dựng căn nhà cũ trên đất cũng như ý kiến của chính quyền địa phương về quá trình quản lý, sử dụng nhà đất tranh chấp... để xác định nhà, đất tranh chấp là di sản thừa kế của cụ Lang và cụ Năm hay là di sản thừa kế của cụ Lang và cụ Hoa. Mặt khác, sau khi xét xử phúc thẩm cụ Hoa khiếu nại và xuất tình một số tài liệu như: “Chứng chỉ cư trú” số 277/MT/KP6/HC ngày 16/6/1972 của Chủ tịch Ủy ban hành chính khu phố VI chứng nhận cụ Lang cư ngụ tại liên gia 58/9 khóm Bình Tạo, khu phố VI, đường Ngô Tùng Châu, thị xã Mỹ Tho từ năm 1970 đến nay; “Giấy chứng nhận mồ mả” của Ủy ban hành chính xã Dưỡng Điềm, quận Sầm Giang, tỉnh Định Tường chứng nhận cụ Năm (là vợ chính thức của cụ Lang) đã chết tại xã Dưỡng Điềm (Định Tường) vào ngày 21/10/1961 hiện mồ mả của đương sự còn tại xã nói trên; “Giấy chứng nhận giải ngũ” số 430/KT/BH/QSKT/QS ngày 17/4/1959 của Tỉnh Đoàn Bảo An Biên Hòa có nội dung thể hiện cụ Lang giải ngũ ngày 13/4/1959 và khai về trú ngụ tại xã Linh Phước, quận Châu Thành, tỉnh Định Tường để chứng minh cụ Lang không sinh sống tại phần đất tranh chấp từ năm 1947 đến năm 1968 mà cụ Lang sống chung vái cụ Hoa và cùng khai khẩn đất thánh nhà thờ Bình Tạo vào năm 1969-1970. Ngoài ra, theo hồ sơ thể hiện bà Xoàn (là con của cụ Lang và cụ Năm) hiện đang định cư tại Mỹ, nhưng chưa làm rõ được thời điểm bà Xoàn đi nước ngoài để làm căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân thực tế giữa cụ Lang với cụ Hoa để xác định tài sản tranh chấp là tài sản chung của cụ Lang và cụ Hoa, Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ nhà đất trên là di sản thừa kế của cụ Lang và cụ Năm để chia thừa kế trong khi chưa làm rõ các vấn đề nêu trên cũng như không xem xét công sức quản lý nhà, đất của cụ Hoa là không đúng và không đảm bảo quyền lợi của mẹ con cụ Hoa.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 44/2008/DS-PT ngày 30/01/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 19/2007/DS-ST ngày 24/08/2007 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang về vụ án “Chia di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn An, anh Lê Hữu Thuận với bị đơn là cụ Lê Thị Hoa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Hương, chị Trần Thị Thanh Thúy, chị Lê Thị Thơm, cháu Lê Trần Minh Quang, cháu Nguyễn Xuân Huệ, chị Lê Thị Mến, anh Nguyễn Văn Xoàn, cháu Nguyễn Trọng Đại, cháu Nguyễn Trọng Ái, anh Lê Văn Thanh, chị Trương Ngọc Lan, bà Lê Thị Xoàn.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


59
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 06/2013/DS-GĐT ngày 11/01/2013 về chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Lê Văn An và bị đơn cụ Lê Thị Hoa
  • Số hiệu:
    06/2013/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    11/01/2013
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 06/2013/DS-GĐT ngày 11/01/2013 về chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Lê Văn An và bị đơn cụ Lê Thị Hoa

Số hiệu:06/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/01/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về