Quyết định giám đốc thẩm 07/2014/DS-GĐT ngày 20/01/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 07/2014/DS-GĐT NGÀY 20/01/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC 

Họp phiên tòa ngày 20/01/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Anh Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1966;

2. Chị Đỗ Thị Kim Liên, sinh năm 1976;

Đều trú cùng địa chỉ: khóm 1, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị.

Bị đơn: Bà Trần Thị Nuôi, sinh năm 1933; ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc Hoàng sinh năm 1978; trú cùng địa chỉ: khóm 1, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đại diện (Văn bản ủy quyền ngày 31/8/2011).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Ngọc Hoàng, sinh năm 1978;

2. Chị Hoàng Thị Thúy, sinh năm 1977;

3. Chị Nguyễn Thị Cẩm;

Chị Thúy, chị cẩm đều ủy quyền cho anh Hoàng trú cùng địa chỉ: khóm 1, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đại diện (văn bản ủy quyền ngày 31/8/2011 và ngày 21/11/2011).

Theo Quyết định kháng nghị số 422/2013/KN-DS ngày 19/9/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DS-PT ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 09/3/2011 và trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn là chị Đỗ Thị Kim Liên, anh Nguyễn Văn Hai trình bày: Ngày 04/5/2010, anh chị có thỏa thuận với bà Trần Thị Nuôi để nhận chuyển nhượng 01 lô đất của bà Nuôi tại khóm 1, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với kích thước: chiều ngang 8m, chiều dài 30m với giá 108 triệu đồng, hẹn sau 6 tháng kể từ ngày 04/5/2010, bà Nuôi sẽ hoàn tất thủ tục giấy tờ chuyển nhượng đất.

Để bảo đảm thực hiện hợp đồng chuyển nhượng trên, anh chị đã đặt cọc cho bà Nuôi 100 triệu đồng, bà Nuôi đã nhận đủ số tiền đặt cọc này. Trong hợp đồng đặt cọc, bà Nuôi cùng anh Nguyễn Ngọc Hoàng, chị Hoàng Thị Thúy, chị Nguyễn Thị cẩm, là con trai, con dâu và con gái bà Nuôi ký, có xác nhận của ủy ban nhân dân thị trấn Khe Sanh. Đến thời hạn theo thỏa thuận, anh chị yêu cầu nhưng bà Nuôi không làm thủ tục để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. Vì vậy, anh chị yêu cầu bà Nuôi phải trả lại 100 triệu đồng đặt cọc và tiền phạt cọc là 100 triệu đồng.

Bị đơn - bà Trần Thị Nuôi trình bày: Bà đề nghị hủy hợp đồng đặt cọc vì thực chất là không chuyển nhượng đất cho chị Liên, anh Hai. Do con gái bà là chị Cẩm vay tiền của anh Hai, chị Liên nên anh chị đã lập hợp đồng đặt cọc để gia đình bà ký.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Ngọc Hoàng, chị Hoàng Thị Thúy, chị Nguyễn Thị cẩm thống nhất với trình bày của bà Nuôi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2011/DSST ngày 29/06/2011, Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quyết định: Buộc bà Trần Thị Nuôi phải trả cho chị Đỗ Thị Kim Liên, anh Nguyễn Văn Hai số tiền đặt cọc và phạt cọc là 200 triệu đồng.

Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự (tại Phiên tòa sơ thẩm ngày 29/6/2011 vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

Ngày 27/7/2011, bị đơn - bà Nuôi và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng, chị Thúy, chị cẩm có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại Quyết định xét kháng cáo quá hạn số 03/2011/QĐPT ngày 13/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị quyết định:

Chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn của anh Nguyễn Ngọc Hoàng, chị Hoàng Thị Thúy, chị Nguyễn Thị cẩm và bà Trần Thị Nuôi.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DSPT ngày 30/12/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị quyết định:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bà Trần Thị Nuôi.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc Hoàng, chị Hoàng Thị Thúy, chị Nguyễn Thị cẩm. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Buộc bà Trần Thị Nuôi phải trả cho chị Đỗ Thị Kim Liên, anh Nguyễn Văn Hai số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng và phạt cọc là 100.000.000 đồng; tổng cộng là 200.000.000 đồng.

Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Trần Thị Nuôi và anh Nguyễn Ngọc Hoàng có đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 422/2013/KN-DS ngày 19/9/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DS-PT ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị

Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 20/01/2014, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Theo “Giấy đặt cọc tiền về việc mua bán chuyển quyền sử dụng đất” ngày 04/5/2010 (BL 05+06) thì bà Trần Thị Nuôi (chủ hộ), anh Nguyễn Ngọc Hoàng và chị Hoàng Thị Thúy (là con trai và con dâu của bà Nuôi) và chị Nguyễn Thị cẩm (con gái của bà Nuôi) thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Hai, chị Đỗ Thị Kim Liên diện tích đất 240m2 đất, chiều rộng 8m, chiều dài 3Om (có giới cận: phía Đông giáp đất hộ ông Luật, Sáu; phía Tây giáp mặt đường; phía Nam giáp đất hộ ông Tuấn; phía Bắc giáp nhà chính của bà Nuôi) tại khóm 1, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với giá là 108.000.000 đồng. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nuôi đang thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, nên hai bên thỏa thuận anh Hai, chị Liên đặt cọc cho bà Nuôi 100.000.000 đồng; trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày 04/5/2010, bà Nuôi phải làm xong thủ tục chuyển nhượng lô đất trên cho anh Hai, chị Liên thì anh Hai, chị Liên sẽ trả hết số tiền còn lại. Giấy đặt cọc nêu trên có chữ ký của bà Nuôi, anh Hoàng, chị Thúy, chị cẩm (bên chuyển nhượng) và anh Hai, chị Liên (bên nhận chuyển nhượng) và có xác nhận của ủy ban nhân dân thị trấn Khe Sanh.

Anh Hai và chị Liên cho rằng anh chị đã nhiều lần đến nhà bà Nuôi yêu cầu thực hiện thỏa thuận, nhưng bà Nuôi không thực hiện, nên anh chị yêu cầu bà Nuôi trả lại tiền cọc và phạt cọc theo qui định của pháp luật.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do anh Nguyễn Ngọc Hoàng đại diện thì cho rằng do chị Nguyễn Thị cẩm (chị của anh) mượn tiền của anh Hai, chị Liên nên anh Hải, chị Liên lập sẵn giấy đặt cọc và ép buộc gia đình anh ký nhằm bảo đảm khi nào chị cẩm trả nợ xong thì trả lại giấy đặt cọc, chứ không có việc nhận tiền đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 31/8/2011, bà Nuôi, chị Thúy và chị cẩm có văn bản ủy quyền cho anh Hoàng thay mặt tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bị đon và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Hai và chị Đỗ Thị Kim Liên. Thời gian ủy quyền từ ngày ký kết giấy ủy quyền đến khi hoàn thành việc xét xử phúc thẩm (BL81). Tại Đơn xin hoàn phiên ngày 25/11/2011, anh Hoàng nêu: anh là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đồng thời là đại diện theo ủy quyền cho chị cẩm, chị Thúy (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Nhưng do anh bị ốm đột xuất, nên xin hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/12/2011, anh Hoàng có mặt và vẫn là đại diện cho bà Nuôi theo ủy quyền, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại nhận định bà Nuôi vắng mặt coi như từ bỏ kháng cáo để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nuôi là sai.

Tại Giấy đặt cọc ngày 04/5/2010 nêu trên có ghi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nuôi đang thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà Nuôi. Tòa án cấp phúc thẩm đã có công văn yêu cầu nhưng bà Nuôi chưa cung cấp. Theo Công văn số 20/VPĐK-ĐĐ ngày 27/12/2011 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất - Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hướng Hóa (BL 103) thì: hộ bà Nuôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002, diện tích 1.500m2 thửa số 1 tờ bản đồ số 14. Năm 2009, hộ bà Nuôi chuyển nhượng cho hộ ông Thanh và hộ ông Tuấn tổng diện tích là 495m2 (trong đó có 100m2 đất ở và 395m2 đất vườn), diện tích bị biến động giảm 35m2 đất vườn. Diện tích còn lại của hộ bà Nuôi được sử dụng là 970m2 (200m2 đất ở tại đô thị 770m2 đất vườn). Trong khi đó, theo Công văn số 41/CV-QLHC ngày 28/12/2011 của Công an huyện Hướng Hóa (BL 104) thì năm 2001, hộ của bà Nuôi gồm 03 người: bà Nuôi chủ hộ, anh Nguyễn Ngọc Tuấn và anh Nguyễn Ngọc Hoàng (đều là con của bà Nuôi); sau đó mới có biến động nhập thêm khẩu của hai cháu nội, là con của anh Hoàng, chị Thúy (tháng 10/2005), chị Lê Thị Ngọt, vợ anh Tuấn, con dâu của bà Nuôi (tháng 10/2007)... đến tháng 2/2011, vợ chồng anh Tuấn , chị Ngọt mới chuyển khẩu về thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ hộ bà Nuôi gồm những ai, khi nhận tiền đặt cọc chuyển nhượng đất có được sự đồng ý của họ hay không ; tại thời điểm đặt cọc thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà Nuôi có thế chấp Ngân hàng hay không? Bởi vì theo Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn ngày 11/01/2010 của anh Hoàng và được Ngân hàng duyệt ngày 14/01/2010 (BL8), sau đó, ngày 11/5/2011, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hướng Hóa có phiếu xuất tài sản thế chấp cầm cố, theo đó anh Hoàng nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V720043... (BL12). Do đó, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần xác định làm rõ nội dung này. Nếu có việc hộ bà Nuôi thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Ngân hàng mà Tòa án phạt cọc là chưa đủ căn cứ. Ngoài ra, tại Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DSPT ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị (án 3 chữ ký) (BL125+125) còn có thiếu sót: thiếu chữ ký của một thành viên trong Hội đồng xét xử, có chữ ký của thẩm phán thành viên, nhưng không ghi rõ tên và thiếu dấu của Tòa án.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 422/2013/KN-DS ngày 19/9/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân nhân dân tối cao.

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 15/2011/DS-PT ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị về vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Hai, chị Đỗ Thị Kim Liên với bị đơn là bà Trần Thị Nuôi; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc Hoàng, chị Hoàng Thị Thúy và chị Nguyễn Thị cẩm.


116
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 07/2014/DS-GĐT ngày 20/01/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Số hiệu:07/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/01/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về