Quyết định giám đốc thẩm 08/2009/DS-GĐT ngày 08/04/2009 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 08/2009/DS-GĐT NGÀY 08/04/2009 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 08 tháng 4 năm 2009, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp quyền sử dụng đất giữa:

Nguyên đơn:

1. Chị Võ Thị Nhung sinh năm 1964;

2. Bà Võ Thị Biết sinh năm 1950;

Đều trú tại ấp Hiệp Hiếu, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Đẹp sinh năm 1949; trú tại ấp Hiệp Hiếu, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; ủy quyền cho anh Nguyễn Văn Tân, sinh năm 1954; trú tại 67/1G, đường Phạm Thái Bường, phường 4, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (văn bản ủy quyền 16-5-2005);

2. Bà Lương Thị Bầy sinh năm 1954; trú tại ấp Hiệp Hiếu, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; ủy quyền cho anh Nguyễn Khương Ninh, sinh năm 1962; trú tại nhà số 65/15 khóm 2, phường 3, thị xã Vĩnh Long (văn bản ủy quyền ngày 19-12-2005).

3. Bà Mai Thị Như sinh năm 1937; trú tại ấp Hiệp Hiếu, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Cúc sinh năm 1960;

2. Ông Nguyễn Văn Nê sinh năm 1958;

Đều trú tại ấp Hiệp Hiếu, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NHẬN THẤY

Ngày 01-12-2000, chị Võ Thị Nhung có “Đơn yêu cầu xét xử về quyền sử dụng đất” và bà Võ Thị Biết (ủy quyền cho chị Nhung) yêu cầu Tòa án buộc bà Đẹp trả lại diện tích đất mà bà đang sử dụng và nêu chị là người được cụ Luông ủy quyền và cho rằng diện tích đất có tranh chấp là của cụ Luông, còn bà Như chỉ là người ở nhờ.

Bị đơn là bà Mai Thị Như trình bày: Năm 1976, bà được cụ Luông cho cất nhà ở trên phần đất tranh chấp, bà có đưa cho cụ Luông 10.000 đồng (tiền cũ), sau đó bà có kê khai đăng ký theo chỉ thị 299 với diện tích là 400m2. Năm 1991, bà bán nhà đất cho bà Đẹp thì cụ Luông tranh chấp và khiếu nại đến các cấp chính quyền, các cơ quan hành chính Nhà nước đã giải quyết bằng nhiều quyết định và sau cùng đã có quyết định số 73/QĐ-UBH ngày 17-5-1994 công nhận quyền sử dụng hợp pháp 400m2 đất cho bà và công nhận việc chuyển nhượng giữa bà và bà Đẹp, tuy nhiên bà chỉ chuyển nhượng cho bà Đẹp 260m2 đất (bà Đẹp đã bán lại cho bà Cúc, ông Nê), còn diện tích đất bà Bầy đang sử dụng là của bà.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Đẹp cho rằng, năm 1991 bà Như bán nhà, đất cho bà có xác nhận của chính quyền địa phương, khi cụ Luông khiếu nại thì UBND huyện Vũng Liêm đã ban hành Quyết định số 73/QĐ-UBH ngày 17-5-1994 công nhận quyền sử dụng hợp pháp 400m2 đất cho bà Như và công nhận việc sang nhượng giữa bà và bà Như. Vì vậy, bà có quyền sử dụng toàn bộ 400m2đất, bà chuyển nhượng cho bà Cúc 260m2, còn diện tích đất bà Bầy đang sử dụng yêu cầu bà Bầy trả lại cho bà.

Bị đơn là bà Lương Thị Bầy cho rằng năm 1996 cụ Luông đã bán cho ông Nguyễn Văn Dũng toàn bộ diện tích tại 2 thửa 953A+B (sau khi trừ nền nhà của chị Võ Thị Nhung và nền nhà của bà Nguyễn Thị Đẹp), sau đó ông Dũng đã bán cho bà phần đất hiện bà đang sử dụng nên không đồng ý trả đất theo yêu cầu của bà Đẹp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Cúc trình bày: Khoảng tháng 6 năm 1999, gia đình bà mua nhà, đất của bà Đẹp khoảng 400m2 với giá 90 chỉ vàng 24K, đã trả cho bà Đẹp 50 chỉ vàng, còn 40 chỉ hẹn khi nào xong thủ tục giấy tờ sẽ thanh toán hết. Việc tranh chấp tùy Tòa án quyết định, bà sẽ chấp hành theo phán quyết của Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 84/DS ngày 17-8-2001, Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của cụ Võ Văn Luông (cụ Luông chết 10-5-2001) ủy quyền cho chị Nhung.

Buộc bà Nguyễn Thị Đẹp, bà Nguyễn Thị Cúc giao trả chị Võ Thị Nhung 367,35m2 đất thổ quả trong 1.700m2 đất tại thửa 953A+B theo quyền sử dụng đất số C241499 ngày 12-11-1993 do UBND huyện Vũng Liêm cấp cho cụ Võ Văn Luông (có tứ cận).

Buộc bà Nguyễn Thị Đẹp, bà Nguyễn Thị Cúc di dời nhà, công trình phụ để giao trả đất trong thời gian 6 tháng kể từ ngày 17-8-2001.

Hủy giấy chuyển nhượng đất giữa bà Mai Thị Như và bà Nguyễn Thị Đẹp ghi ngày 20-6-1991.

Hủy giấy chuyển nhượng đất giữa bà Nguyễn Thị Đẹp và bà Nguyễn Thị Cúc (Trong giấy Nguyễn Văn Nê chồng bà Cúc) ghi ngày 29-3-2000.

Buộc bà Nguyễn Thị Đẹp có nghĩa vụ giao trả cho bà Nguyễn Thị Cúc 50 chỉ vàng 24K tiền chuyển nhượng đất.

Bà Nguyễn Thị Đẹp được quyền khởi kiện bà Mai Thị Như khoản tiền chuyển nhượng đất.

Kiến nghị UBND huyện Vũng Liêm hủy Quyết định số 73/QĐ.UBH ngày 17-5-1994. Quyết định này giải quyết sai thẩm quyền.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24-8-2001, bà Đẹp có đơn kháng cáo không đồng ý giao trả đất cho cụ Luông vì UBND huyện đã công nhận việc chuyển nhượng giữa bà và bà Như là hợp pháp.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 32/DSPT ngày 11-12-2001, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định: Sửa bản án sơ thẩm như sau:

Công nhận việc chuyển nhượng sở hữu căn nhà gắn liền 400m2 đất thổ quả giữa bà Mai Thị Như với bà Nguyễn Thị Đẹp là hợp pháp tọa lạc ấp Hiếu Hiệp, xã Hiếu Phụng, huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long (có tứ cận). Hành lang lộ giới quốc lộ 53 từ mép lộ vô 20m, chiều ngang giáp mép lộ 14,1m và chiều ngang trong 15,4m diện tích 295m không được xây dựng nhà, vật kiến trúc hoặc trồng cây lâu năm, còn diện tích 195m2 được sử dụng.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C.211499 do UBND huyện Vũng Liêm cấp ngày 12-11-1993 cho cụ Võ Văn Luông tại thửa 953A và 953B để điều chỉnh lại đất cho bà Nguyễn Thị Đẹp theo số liệu đo đạc nêu trên.

Tách quan hệ giao dịch giữa bà Đẹp và bà Cúc thành vụ án khác nếu có yêu cầu.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Lương Thị Bầy có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 66/KN-VKSTC-V5 ngày 03-11-2004, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 158/GĐT-DS ngày 21-12-2004, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; hủy bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 30/2005/DSST ngày 27-10-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

1. Bác yêu cầu của chị Võ Thị Nhung và bà Võ Thị Biết ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim Anh, về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đẹp, bà Mai Thị Như và bà Lương Thị Bầy trả phần đất và quyền sử dụng đất 488,8m2.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đẹp.

3. Công nhận việc chuyển nhượng sở hữu căn nhà gắn liền phần 400m2 đất thổ quả chiết thửa 452 (Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 953A và B) giữa bà Mai Thị Như và bà Nguyễn Thị Đẹp là hợp pháp.

4. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đẹp đòi bà Lương Thị Bầy trả phần đất 139,8m2 trong diện tích 400m2 nói trên do bà Lương Thị Bầy đang sử dụng.

5. Buộc bà Lương Thị Bầy phải có nghĩa vụ di dời phần quán có gắn với phần đất diện tích 139,8mnói trên để giao trả đất và quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đẹp (có tứ cận).

6. Tạm giao cho bà Lương Thị Bầy 88,8m2 trong 488,8m2. Không công nhận một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C211499 do UBND huyện Vũng Liêm cấp ngày 12-11-1993 cho cụ Võ Văn Luông.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10-11-2005, bà Như kháng cáo cho rằng bà chỉ chuyển nhượng cho bà Đẹp 260m2; còn 139,8m2 là của bà, nhưng Tòa án giao cho bà Đẹp diện tích 400m2 đất này là không đúng.

Ngày 04-11-2005, chị Nhung kháng cáo cho rằng đất có tranh chấp là của cụ Luông đã được cấp giấy chứng nhận, nhưng Tòa án giao cho bà Đẹp là không đúng.

Ngày 03-11-2005, bà Bầy kháng cáo cho rằng phần đất 139,8m2 là của bà do bà mua của ông Dũng, nhưng Tòa án lại buộc bà giao cho bà Đẹp là không đúng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 25/2006/DSPT ngày 20-01-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:

Bác yêu cầu của chị Võ Thị Nhung và bà Võ Thị Biết yêu cầu bà Nguyễn Thị Đẹp, bà Mai Thị Như, bà Lương Thị Bầy trả phần đất và quyền sử dụng đất 488,8m2.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đẹp.

- Công nhận việc chuyển nhượng sở hữu căn nhà gắn liền phần 400m2 đất thổ.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đẹp đòi bà Lương Thị Bầy trả 139,8m2 đất trong diện tích 400m2 nói trên cho bà Lương Thị Bầy đang sử dụng.

- Buộc bà Lương Thị Bầy phải có nghĩa vụ di dời phần quán có gắn với 139,8m2 đất nói trên để giao trả đất và quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đẹp trong diện tích 400m2.

- Tạm giao cho bà Lương Thị Bầy 88,8m2 trong 488,8m2.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C211499 cấp ngày 12-11-1993 cho ông Võ Văn Luông số thửa 953A và B để điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị Đẹp 400m2 (theo sơ đồ hiện trạng nhà đất kèm theo) trong diện tích 488,88m2, còn lại 88,8m2 tạm giao cho bà Lương Thị Bầy sử dụng do nằm trong phạm vi hành lang lộ giới và do cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phần đất này.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Lương Thị Bầy có đơn khiếu nại.

Chị Võ Thị Nhung, bà Mai Thị Như, anh Võ Khắc Thanh Hoàng và chị Nguyễn Thị Hồng Diễm (là các con của bà Bầy) có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 18/2009/KN-DS ngày 19-01-2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 27-10-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thửa đất số 454 có diện tích là 400m2 (bà Như đã chuyển nhượng cho bà Đẹp năm 1991) có nguồn gốc là của cụ Võ Văn Luông (ông nội của chị Nhung).

Năm 1976, cụ Luông đồng ý cho bà Như cất nhà ở và có nhận của bà Như 10.000 đồng (tiền cũ).

Thực hiện chủ trương của Nhà nước về quản lý đất đai, bà Như đứng tên kê khai theo chỉ thị 299/TTg đối với 400m2 (thửa số 454), khi đó cụ Luông không tranh chấp, khiếu nại, còn cụ Luông cũng chỉ kê khai 1.550m2 đất (thửa số 448) do cụ quản lý, sử dụng.

Năm 1991, bà Như sang nhượng lại diện tích đất nêu trên cho bà Đẹp thì cụ Luông đã khiếu nại cho rằng bà Như chỉ là người ở nhờ, nên yêu cầu bà Như trả lại đất, còn bà Như cho rằng đã nhận sang nhượng đất của cụ Luông từ năm 1976 với giá 10.000 đồng, các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương đã giải quyết bằng nhiều quyết định hành chính và tại Quyết định số 73/QĐ-UBH ngày 17-5-1994, Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm đã thu hồi các quyết định hành chính và công nhận quyền sử dụng hợp pháp 400m2 đất tại thửa 454 cho bà Như, đồng thời công nhận việc sang nhượng thành quả lao động diện tích 400m2 đất giữa bà Như và bà Đẹp; bác đơn khiếu nại của cụ Luông đối với 400m2 đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Luông (chị Nhung được cụ Luông ủy quyền) thừa nhận cụ Luông có nhận của bà Như 10.000 đồng từ năm 1976 và cụ Luông cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh là cho bà Như ở nhờ. Trong thực tế, bà Như đã xây cất nhà ở ổn định từ năm 1976. Hơn nữa, cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã công nhận 400m2 đất là của bà Như. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Như là người có quyền sử dụng hợp pháp 400mđất trên là có căn cứ.

Về hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà Như với bà Đẹp: Bà Như cho rằng năm 1991 bà chỉ chuyển nhượng cho bà Đẹp nhà trên diện tích 260m2, nhưng bà không xuất trình được chứng cứ chứng minh, trong khi đó bà Đẹp xác định bà Như đã chuyển nhượng toàn bộ 400m2 đất và chính quyền địa phương cũng xác định bà Như chuyển nhượng cho bà Đẹp toàn bộ 400m2 trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Như là có căn cứ. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Như chuyển nhượng cho bà Đẹp 400m2 nên bà Đẹp được quyền sử dụng 400m2; còn 88,8m2 là đất hành lang giao thông nên tạm giao cho bà Bầy  (người đang trực tiếp sử dụng) là có căn cứ.

Tuy nhiên, trên diện tích đất mà bà Bầy đang sử dụng, có nhà của chị Nguyễn Thị Hồng Diễm và anh Võ Khắc Thanh Hoàng (con của bà Bầy) và theo lời khai của bà Bầy, thì bà mua diện tích đất này của ông Nguyễn Văn Dũng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc không đưa chị Diễm, anh Hoàng và ông Dũng vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trong trường hợp này, nếu có đủ căn cứ xác định ông Dũng là người chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp cho bà Bầy, thì cần xem xét đến hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dũng và bà Bầy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét, giải quyết về vấn đề nêu trên là chưa giải quyết triệt để vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thửa đất số 454 có diện tích là 400m2 (bà Như đã chuyển nhượng cho bà Đẹp năm 1991) có nguồn gốc là của cụ Võ Văn Luông (ông nội của chị Nhung).

Năm 1976, cụ Luông đồng ý cho bà Như cất nhà ở và có nhận của bà Như 10.000 đồng (tiền cũ).

Thực hiện chủ trương của Nhà nước về quản lý đất đai, bà Như đứng tên kê khai theo chỉ thị 299/TTg đối với 400m2 (thửa số 454), khi đó cụ Luông không tranh chấp, khiếu nại, còn cụ Luông cũng chỉ kê khai 1.550m2 đất (thửa số 448) do cụ quản lý, sử dụng.

Năm 1991, bà Như sang nhượng lại diện tích đất nêu trên cho bà Đẹp thì cụ Luông đã khiếu nại cho rằng bà Như chỉ là người ở nhờ, nên yêu cầu bà Như trả lại đất, còn bà Như cho rằng đã nhận sang nhượng đất của cụ Luông từ năm 1976 với giá 10.000 đồng. Tại Quyết định số 30/QĐ-UBX ngày 21-12-1991 UBND xã Phụng Hiếu giải quyết công nhận cụ Luông có quyền sử dụng đất và cho rằng bà Như sang nhượng đất cho bà Đẹp là không hợp pháp. Đồng thời, buộc bà Đẹp giao lại phần đất cho cụ Luông, nhưng cụ Luông phải bồi hoàn cho bà Như giá trị ngôi nhà bà Như đã xây. Còn bà Như hoàn lại 7 chỉ vàng cho bà Đẹp; do cụ Luông khiếu nại không đồng ý bồi hoàn giá trị nhà cho bà Như nên ngày 24-3-1992, UBND huyện Vũng Liêm có Quyết định số 23/QĐ.UBH công nhận 320m2 đất thổ cư của cụ Luông. Buộc bà Đẹp phải dời nhà đi nơi khác để trả lại đất cho cụ Luông trong thời hạn 30 ngày và cụ Luông không phải bồi hoàn cho bà Như.

Do bà Đẹp không chấp hành quyết định nêu trên nên ngày 08-6-1992, UBND huyện Vũng Liêm có Quyết định số 42/QĐ-UB xử phạt cảnh cáo đối với bà Đẹp. Ngày 12-11-1993 UBND huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Luông (trong đó có thửa 953A+B). Bà Đẹp khiếu nại đối với các quyết định hành chính nêu trên. Tại Quyết định số 73/QĐ-UBH ngày 17-5-1994, Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm đã thu hồi các quyết định hành chính trên và công nhận bà Như quyền sử dụng hợp pháp 400m2 đất tại thửa 454, đồng thời công nhận việc sang nhượng thành quả lao động diện tích 400m2 đất giữa bà Như và bà Đẹp; bác đơn khiếu nại của cụ Luông đối với 400m2 đất.

Khi khởi kiện vụ án dân sự và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nhung (đại diện theo ủy quyền của cụ Luông) thừa nhận cụ Luông có nhận của bà Như 10.000 đồng từ năm 1976, chị Nhung cho rằng số tiền trên là tiền bà Như trả công bồi đắp cho cụ Luông. Trong khi đó, bà Như cho rằng cụ Luông đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà và đã nhận của bà 10.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng bà Như đã xây cất nhà ở ổn định.

Thực tế, khi đăng ký theo chỉ thị 299/TTg thì cụ Luông chỉ đăng ký thửa số 448 với diện tích 1.550m2; còn bà Như đăng ký thửa số 454 với diện tích 400m2. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ lý do năm 1982 cụ Luông chỉ kê khai, đăng ký 1.550m2 (không đăng ký 1.700m2), nhưng năm 1993, Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.700m2 thửa 953A+B cho cụ Luông; cơ sở để Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Luông, trong khi trên diện tích đất này có nhà của bà Như (đã bán cho bà Đẹp) nhà của bà Bầy cùng các con của bà Bầy.

Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cũng chưa làm rõ 400m2 đất  tại thửa 454 mà bà Như đăng ký có nằm trong diện tích đất Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm cấp giấy chứng nhận cho cụ Luông hay không, vì cụ Luông kê khai 1.550m2, còn bà Như kê khai 400m2.

Hơn nữa, ngày 12-11-1993, Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.700m2 đất cho cụ Luông tại thửa 953A+B, nhưng ngày 17-5-1994 Ủy ban nhân dân huyện Vũng Liêm lại ban hành Quyết định số 73/QĐ-UBHcông nhận cho bà Như được quyền sử dụng 400m2 đất. Như vậy, thực tế tồn tại 2 Quyết định của Ủy ban nhân dân là Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Quyết định giải quyết tranh chấp số 73/QĐ-UBH. Vì vậy, sau khi xác minh nếu có căn cứ xác định cụ Luông không đăng ký diện tích đất mà bà Như đã đăng ký, thì phải xác định cụ Luông đã từ bỏ quyền sử dụng đối với diện tích đất này và bà Như là người có quyền sử dụng đất để giải quyết các hợp đồng sang nhượng nhà, đất của các đương sự theo quy định chung.

Mặt khác, thực tế trên diện tích đất mà bà Bầy đang sử dụng, có nhà của chị Nguyễn Thị Hồng Diễm và anh Võ Khắc Thanh Hoàng (con của bà Bầy) và theo lời khai của bà Bầy, thì bà mua diện tích đất này của ông Nguyễn Văn Dũng. Trong trường hợp này, lẽ ra phải xác minh làm rõ nếu có đủ căn cứ xác định ông Dũng là người chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp cho bà Bầy, thì cần xem xét đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dũng và bà Bầy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét, giải quyết về vấn đề nêu trên và không đưa chị Diễm, anh Hoàng và ông Dũng tham gia tố tụng, nhưng đã giải quyết vụ án là sai và chưa giải quyết triệt để vụ án.

Ngoài ra, tại đơn đề ngày 01-12-2000 (nhưng bên dưới lại ghi ngày 06-12-2000) chị Nhung khởi kiện vụ án dân sự, với tư cách là người được cụ Luông ủy quyền, lẽ ra phải xác định cụ Luông là nguyên đơn, còn chị Nhung chỉ là người đại diện của cụ Luông theo ủy quyền và sau khi cụ Luông chết thì phải xác định những người thuộc diện thừa kế của cụ Luông là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác định chị Nhung là nguyên đơn trong vụ án là không đúng.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy  Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2006/DSPT ngày 20/01/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 27/10/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là chị Võ Thị Nhung và bà Võ Thị Biết với bị đơn là các bà Nguyễn Thị Đẹp, Lương Thị Bầy, Mai Thị Như; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên là bà Nguyễn Thị Cúc và ông Nguyễn Văn Nê.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án các cấp chưa làm rõ phần đất đang tranh chấp đã chuyển nhượng quyền sử dụng hay chưa.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 08/2009/DS-GĐT ngày 08/04/2009 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:08/2009/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/04/2009
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về