Quyết định giám đốc thẩm 112/2014/DS-GĐT ngày 25/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 112/2014/DS-GĐT NGÀY 25/03/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 25/3/2014, tại trụ sở Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có Quyết định kháng nghị số 587/2013/KN-DS, ngày 27/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 224/2012/DSPT ngày 11/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre có các đương sự là

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Khoái sinh năm 1929.

Trú tại: Ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Ông Trần Văn Gần (Hai Hùng) sinh năm 1942.

Trú tại: Ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Dũng Anh sinh năm 1967;

2. Anh Trần Dũng Em sinh năm 1969;

3. Chị Trần Thị Bích Phượng sinh năm 1972;

4. Anh Trần Văn Tèo sinh năm 1977;

5. Anh Trần Văn Tý sinh năm 1979;

6. Anh Trần Minh Tùng sinh năm 1982;

7. Chị Trần Thị Bích Phượng sinh năm 1985.

Cùng trú tại: Ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 5-9-2005 nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khoái trình bày:

Năm 1959, cha mẹ ông lập di chúc chia tài sản cho các con (có xác nhận của chính quyền chế độ cũ). Theo di chúc ông được hưởng 1,6 công đất (1.600m2) trên đất có căn nhà hương quả (tại ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri). Do lúc được chia đất ông còn đi học nên chị gái là bà Nguyễn Thị Mừng quản lý và sử dụng. Năm 1967, vợ chồng bà Mừng lén bán căn nhà hương quả trên đất cho bà Võ Thị Đâu và cho bà Đâu thuê đất với thòi hạn 15 năm (1967 đến 1982).

Năm 1982, hết thời hạn thuê đất, bà Đâu đã lập giấy hoàn lại đất cho ông. Riêng về căn nhà thì năm 1976 bà Đâu đã bán cho ông Trần Văn Gần (bị đơn) việc bán chỉ thỏa thuận miệng, ông Gần đã dọn đến ở tại căn nhà.

Năm 1982, ông khiếu nại và yêu cầu ông Gần di dời nhà trả đất cho ông và tại buổi hòa giải tại UBND huyện Ba Tri năm 1991 ông Gần đã đồng ý bán lại căn nhà cho ông nhưng sau đó không thực hiện được.

Năm 1997, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 1.489m2 (đất của ông còn thiếu 121m2). Việc ông Gần mua căn nhà là không đúng; khi ông Gần được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông cũng không biết nên việc ông Gần được cấp giấy chứng nhận là sai. Ông yêu cầu ông Gần di dời nhà trả đất (đo thực tế là 83,7m2).

Bị đơn là ông Tràn Văn Gần trình bày

Đất có nguồn gốc của cha mẹ ông Khoái. Năm 1976 vợ chồng ông ở nhờ nhà đất của bà Đâu. Ở được vài tháng thì bà Đâu bán căn nhà trên cho ông, trước khi mua ông cũng hỏi ý kiến ông Khoái, ông Khoái đồng ý thì ông mới mua. Ông ở tại nhà này từ khi mua đến nay.

Năm 1991, ông Khoái khiếu nại đến chính quyền yêu cầu ông trả nhà, khi UBND huyện Ba Tri giải quyết ông cũng đồng ý bán lại căn nhà cho ông Khoái nhưng theo giá thỏa thuận. Đốn 1997 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích thửa 716, tờ bản đồ số 9 (tại ấp 4, xã An Phú Trung).

Hiện nay ông chỉ có căn nhà này là chỗ ở duy nhất nên ông không đồng ý theo yêu cầu của ông Khoái.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2008/DS-ST ngày 18/4/2008 Tòa án nhân dân huyện Ba Tri quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khoái, buộc ông Gần hoàn trả đất cho ông Khoái diện tích 112m2. Ông Gần được trả giá trị là 22.400.000đồng.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 392/2008/DS-PT ngày 03/7/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định: Sửa bản án sơ thẩm. Buộc ông Gần hoàn trả ông Khoái 112m2 đất. Giao ngôi nhà cho ông Khoái, ông Khoái hoàn trả ông Gần 10.000.000 đồng.

Tại Quyết định kháng nghị số 419/KN-DS ngày 30/6/2011 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 821/2011/GĐT-DS ngày 25/10/2011 quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao xét xử sơ thẩm lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2012/DS-ST ngày 26/09/2012 Tòa án nhân dân huyện Ba Tri quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khoái về việc yêu cầu ông Gần di dời nhà trả lại đất (diện tích 83,7m2).

Ông Khoái kháng cáo bản án dân sự sơ thấm nêu trên.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 224/2012/DS-PT ngày 11/12/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định: Chấp nhận kháng cáo của ông Khoái, sửa bản án sơ thẩm (buộc trả đất); chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khoái về việc yêu cầu ông Gần hoàn trả lại diện tích đất (83,7m2) thuộc một phần của thửa 716, tờ bản đồ số 9, đồng thời giao căn nhà cho ông Khoái. Ông Khoái có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Gần giá trị căn nhà theo giá hội đồng định giá là 52.849.000 đồng.

Tại Quyết định kháng nghị số 587/2013/KN-DS, ngày 27/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thấm số 224/2012/DSPT ngày 11/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thấm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm đại diện VKSND tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Theo ông Nguyễn Văn Khoái thì năm 1959 cha mẹ ông lập di chúc chia tài sản cho các con; ông được chia 1.600m2 đất tại ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri. Do thời điểm đó ông còn đi học nên không trực tiếp quản lý, sử dụng đất mà chị gái ông là bà Nguyễn Thị Mừng quản lý, sử dụng. Năm 1967, bà Mừng đã lén bán căn nhà hương quả trên phần đất ông được chia cho bà Võ Thị Đâu, còn đất thì bà Mừng cho bà Đâu thuê. Năm 1982, bà Đâu đã lập giấy tờ trả lại diện tích đất thuê cho ông, riêng căn nhà thì bà Đâu bán cho ông Gần từ năm 1976. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông Gần dỡ nhà trả lại đất nhưng ông Gần không đồng ý.

Bị đơn ông Trần Văn Gần khai diện tích đất tranh chấp (đo thực tế là 83,7m2) thuộc một phần của thửầ 716, tờ bản đồ số 09 (tại ấp 4, xã An Phú Trung, huyện Ba Tri). Đất có nguồn gốc của cha mẹ ông Khoái cho con gái là bà Nguyễn Thị Mừng. Quá trình sử dụng bà Mừng đã bán căn nhà cho bà Đâu. Đốn năm 1976 thì bà Đâu bán căn nhà cho ông. Gia đình ông quản lý, sử dụng ổn định; đã đăng ký, kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 với diện tích cả thửa đất là 803m2; ông không đồng ý với yêu cầu đòi đất của ông Khoái.

Tuy ông Khoái cho rằng được cha mẹ chia đất từ năm 1959, nhưng ông không sử dụng mà do chị gái là bà Mừng quản lý, sử dụng từ năm 1959. Đến năm 1967 bà Mừng bán căn nhà cho bà Đâu. Năm 1976 bà Đâu bán căn nhà cho ông Gần. Như vậy, thực tế ông Gần sử dụng nhà đất từ năm 1976, quá trình sử dụng ổn định có kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997. Đến khoảng năm 1990 ông Khoái tranh chấp, chính quyền địa phương giải quyết không chấp nhận yêu cầu đòi đất của ông Khoái (tại Biên bản họp ngày 09/4/1992 về việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông Khoái và ông Gần, Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri đã kết luận việc đòi đất của ông Khoái là không đúng). Ông Khoái cũng không kê khai, đăng ký và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang tranh chấp (83,7m2).

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng tuy diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ ông Khoái, nhưng ông Khoái không quản lý, sử dụng; Chính quyền giải quyết cũng không chấp nhận việc đòi đất của ông Khoái; do vậy không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông Khoái là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu đòi đất của ông Khoái là không đúng.

Từ những phân tích trên, xét kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ khoản 2 Điều 291; khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 224/2012/DSPT ngày 11/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khoái và bị đơn là ông Trần Văn Gần.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 112/2014/DS-GĐT ngày 25/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:112/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/03/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về