Quyết định giám đốc thẩm 131/2013/DS-GĐT ngày 27/09/2013 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 131/2013/DS-GĐT NGÀY 27/09/2013 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

...

Ngày 27/9/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa:

Nguyên đơn:

1. Cụ Ngô Văn Thời, sinh năm 1920;

Địa chỉ: Số 2/3 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Ngô Bửu Tài, sinh năm 1949;

Địa chỉ: Số 118B Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

2. Cụ Ngô Thị Đạo, sinh năm 1925;

Người đại diện theo ủy quyền: ông Tô Văn Danh, sinh năm 1947.

Địa chỉ: Số 38/11A đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn:

Cụ Ngô Văn Cử, sinh năm 1931;

Địa chỉ: Số 2/21 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trường Thành, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Số 58C Hùng Vương, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Ngô Văn Thi, sinh năm 1927;

Địa chỉ: 13750 Lapat# 2 Westmister, CA 92683, USA (Mỹ).

2. Ông Ngô Phát Đạt, sinh năm 1960;

3. Bà Nguyễn Thị Việt Hồng, sinh năm 1960;

Cùng địa chỉ: Số 2/21 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

4. Ông Trần Bình Minh, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Số 238 Trần Hưng Đạo, phường An Nghiệp, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

6. Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Số 44J đường Hoàng Hưng, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

7. Bà Diệp Ngà, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Số 232/4A đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

8. Bà Phan Thị Ngọc Vân, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Số 118A Trần Phú, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

9. Ông Lê Phú Cường, sinh năm 1965;

10. Bà Phan Thị Tuyết Mai, sinh năm 1954;

Cùng địa chỉ: Số 2/21 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

11. Ông Võ Văn Quyển, sinh năm 1955;

12. Bà Huỳnh Thị Mãi, sinh năm 1962;

Cùng địa chỉ: Số 188/8 khu 4, thị trấn Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

13. Ông Châu Ngọc Hòa, sinh năm 1958;

14. Bà Trịnh Thị Mai, sinh năm 1958;

Cùng địa chỉ: Số 156H đường Mậu Thân, phường An Phú, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

15. Ông Lâm Phước Kiều, sinh năm 1951;

Địa chỉ: Số 2/21A đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

16. Bà Trịnh Kim Hứa, sinh năm 1954;

Địa chỉ: Số 94 Cách Mạng tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

17. Ông Trịnh Ngọ, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Số 2/21B đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

18. Ông Huỳnh Vĩnh Phúc, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Số 2/21K đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

19. Bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Số 2/21 I đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

20. Ông Trần Văn Đèo, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Số 2/47/45A đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

21. Ông Đặng Hoàng Phong, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Số 2/21F đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

22. Công ty TNHH Cấp thoát nước Cần Thơ;

Địa chỉ: Số 2A Nguyễn Trãi, phường An Hội, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - do bà Phan Thị Thiên - Phó Giám đốc đại diện.

23. Cụ Ngô Thị Sang (đã chết năm 1990);

Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Sang gồm có 06 người con gồm: Phan Thị Thường, Phan Văn Tiên, Phan Thị Trường, Phan Thị Mỹ Linh, Phan Văn An (chết, không vợ, không con) và Phan Văn Ngợi (chết, vợ là Lê Thị Ngữ và con là Phan Thành Nam).

Đại diện cho các đồng thừa kế của cụ Sang:

- Bà Phan Thị Thường, sinh năm 1944;

Địa chỉ: Số 123 ấp Bình Phó 3, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Anh Phan Thành Nam, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Số 24 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

24. Cụ Ngô Văn Bích (chết).

Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Bích gồm có:

- Ông Ngô Hữu Thanh Tâm, sinh năm 1944;

Địa chỉ: Ấp I, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Bà Ngô Ngọc Châu Báu, sinh năm 1937;

Địa chỉ: Số 116R đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Bà Ngô Thị Bạch Tuyết, sinh năm 1939;

Địa chỉ: Số 36/11 Võ Thị Sáu, phường An Hội, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Ông Ngô Bửu Chức (chết, có 03 con là Ngô Bửu Ngọc, Ngô Bửu Nghiệp, Ngô Thị Kim Ngân).

Đại diện cho các đồng thừa kế của cụ Bích:

Ông Ngô Bửu Ngọc, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số 28 đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

25. Cụ Trần Thị Cẩm Vân, sinh năm 1936;

Địa chỉ: Số 24/26A Võ Thị Sáu, phường An Hội, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Cụ Vân ủy quyền cho ông Nguyễn Trường Thành.

NHẬN THẤY

Theo “Đơn xin can thiệp để chia đất trong họ” ngày 6/5/1988 và lời khai trong quá trình tố tụng, các nguyên đơn trình bày:

Cố Ngô Văn Khuê (chết năm 1947) và cố Dương Thị  Hiến (chết năm 1935) có 6 con chung là:

1. Cụ Ngô Văn Bích (chết năm 1946), có 04 người con gồm: ông Ngô Hữu Thanh Tâm, ông Ngô Ngọc Châu Báu, bà Ngô Thị Bạch Tuyết và ông Ngô Bửu Chức (chết năm 1997, có 03 con là ông Ngô Bửu Ngọc, ông Ngô Bửu Nghiệp, bà Ngô Thị Kim Ngân).

2. Cụ Ngô Thị Sang (chết năm 1990), có 06 người con gồm: bà Phan Thị Thường, ông Phan Văn Tiên, bà Phan Thị Trường, bà Phan Thị Mỹ Linh, ông Phan Văn An (chết, không vợ, không con) và ông Phan Văn Ngợi (chết năm 2005, có vợ là bà Lê Thị Ngữ và con là anh Phan Thành Nam).

3. Cụ Ngô Văn Thời

4. Cụ Ngô Thị Đạo

5. Cụ Ngô Văn Thi (định cư tại Hoa Kỳ - từ chối nhận di sản thừa kế).

6. Cụ Ngô Văn Cử.

Cố Khuê và cố Hiến chết không để lại di chúc, có để lại tài sản là phần đất 11.355m2 hiện đang do gia đình cụ Cử quản lý tại đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và căn nhà 3 gian 2 chái xây dựng trên đất của điền chủ cách phần đất trên một con sông (theo lời khai cụ Đạo - BL 117) cùng một số tài sản trong nhà. Sau khi cố Khuê và cố Hiến chết, tài sản của hai cố do cụ Thời quản lý, năm 1962 giao lại cho cụ Cử hương khói. Năm 1972, cụ Cử dỡ nhà của cha mẹ bán vật liệu xây dựng cho những người xung quanh, trả lại đất cho ông Ngô Bửu Chức do đất này ông Chức mua lại của chủ đất là ông Dương Văn Tám, dùng tiền bán nhà của cha mẹ để trở về đất vườn 11.355m2 xây nhà ở. Đất của cố Khuê, cố Hiến bao gồm đất tại Bằng khoán điền thổ số 152 ngày 12/9/1937 do cố Khuê đứng bộ, diện tích 0m70s40m2 (7040m2); phần đất còn lại 4.315m2 là do cố Khuê nhận chuyển nhượng của chị gái là cố Ngô Thị An bằng giấy tay, không có xác nhận của chính quyền, nay giấy tay bị thất lạc. Cụ Cử không làm tròn trách nhiệm, không chăm sóc mồ mả của dòng họ. Năm 1985, cụ Đạo không có nhà ở về xin đất làm nhà thì cụ Cử không cho. Các nguyên đơn đã có đơn đề nghị giải quyết từ năm 1987, nhưng năm 1994 địa chính huyện vẫn cấp giấy xác nhận ruộng đất cho cụ Cử là không đúng. Cụ Cử và con trai là ông Đạt đã chuyển nhượng đất cho nhiều nguời khác. Năm 2004, đất bị giải tỏa một phần làm trạm bơm Rạch Ngỗng, ông Đạt được bồi thường đất là 714.000.000đ và được cấp 02 lô đất thổ cư 180m2. Các nguyên đơn yêu cầu được chia thừa kế theo pháp luật phần đất do cố Khuê và cố Hiến để lại, xin nhận kỷ phần bằng đất (trong đó dành 200m2 đất mồ mả làm nơi thờ cúng).

Bị đơn là cụ Cử và người đại diện là ông Nguyễn Trường Thành trình bày:

Phần đất tranh chấp là của cố Khuê và cố Hiến đổ lại, nhưng sau khi hai cố chết thì anh em trong gia tộc đã thống nhất giao cho gia đình cụ quản lý, sử dụng từ năm 1972. Khi về ở trên đất này thì cây cối trên đất đã cằn cỗi, không khai thác được nên gia đình đã chặt hạ, trồng mới cây trên đất; nhà của hai cố làm trên đất thuê của người khác đã xuống cấp nên phải dỡ bỏ; căn nhà hiện tại là của gia đình cụ xây dựng. Cụ không nhất trí yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn, yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất này vì đã sử dụng đất nhiều năm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Cụ Ngô Văn Thi trình bày: Cụ từ chối nhận di sản, nhường phần được hưởng thừa kế của mình cho các thừa kế khác.

- Cụ Trần Thị Cẩm Vân (vợ cụ Cử) trình bày: Căn nhà trên đất tại số 2/21 đường Mậu Thân là của vợ chồng cụ xây dựng năm 1972, không liên quan đến nhà của cha mẹ chồng. Đất của cha mẹ chồng là 11.355m2, đã bị quy hoạch làm trạm bơm 1.368,35m2, gia đình cụ đã chuyển nhượng 6.381m2 cho một số người. Hiện tại gia đình cụ đang quản lý 3.606m2, có xây dựng 3 dãy nhà trọ (năm 2000-2001) trên 250m2, đất mồ mả 300m2, còn lại là đất lối đi. Đất giải tỏa xây dựng trạm bơm, Nhà nước đã cấp 02 nền tái định cư, bồi thường bao nhiêu tiền không nhớ. Đất còn lại cũng thuộc 02 dự án đường Phạm Ngũ Lão nối dài và khu dân cư đô thị mới 47ha. Từ năm 2003 cụ Cử đã bị rối loạn tâm thần tuổi già (có giấy y chứng của Trung tâm y tế), cụ là người giám hộ của cụ Cử xin được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp vì đã sử dụng đất nhiều năm.

- Ông Ngô Phát Đạt trình bày: Ông là con trai cụ Cử. Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà nội ông để lại. Theo giấy tờ có 7,4 công, đo thực tế là 11,3 công do đất bồi thêm. Đất này trước khi cha ông quản lý thì do các bác quản lý, đến năm 1972 giao cho cha ông quản lý. Khi cha ông quản lý, do cây cối trên đất già cỗi nên gia đình ông đã chặt bỏ và trồng cây mới. Nhà gia đình ông đang ở là do cha ông xây dựng năm 1972, còn nhà của ông bà nội để lại ở trên đất của ông Ngô Bửu Chức, nhà xuống cấp đã bị sập. Các nguyên đơn đòi đất ông không nhất trí.

- Bà Nguyễn Thị Việt Hồng (vợ ông Đạt) trình bày: Bà lấy ông Đạt năm 1982 và ở trên đất tranh chấp từ đó đến nay. Vợ chồng bà đã canh tác, cải tạo đất, lấp mương, trồng cây trên đất và cất được 15 căn nhà trọ trên 500m2 đất, nhưng nhà đất đã bị lấy một phần làm trạm bơm Rạch Ngỗng. Quá trình sử dụng đất, vợ chồng bà đã chuyển nhượng đất cho một số người và cha mẹ chồng bà cũng đã chuyển nhượng đất cho một số người. Gia đình bà đã sử dụng đất, nộp thuế nhiều năm nên không đồng ý chia thừa kế. Nếu phải chia thừa kế bà xin trả tiền tại thời điểm chuyển nhượng đất, xin xem xét công san lấp mặt  bằng, lấp mương, xin ổn định 3 dãy nhà trọ vì là nguồn thu nhập chính của gia đình.

- Ông Trần Bình Minh, ông Nguyễn Minh Triều, bà Diệp Ngà, bà Phan Thị Ngọc Vân và bà Nguyễn Thị Hồng Hoa cùng thống nhất trình bày: Các ông, bà là những người nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng cụ Cử từ năm 1994; đã được Chi cục quản lý đất đai Cần Thơ cấp giấy xác nhận sử dụng đất chính thức. Các ông, bà yêu cầu được ổn định phần đất đã nhận chuyển nhượng, nếu không được sử dụng đất thì yêu cầu bồi thường theo giá thị trường.

- Ông Lê Phú Cường, bà Phan Thị Tuyết Mai, bà Huỳnh Thị mãi, ông Võ Văn Quyển, ông Châu Ngọc Hòa, bà Trịnh Thị Mai, ông Lâm Phước Kiều, bà Trịnh Kim Hứa, ông Trịnh Ngọ, ông Huỳnh Vĩnh Phúc, bà Nguyễn Thị Hoa, ông Trần Văn Đèo và ông Đặng Hoàng Phong cùng thống nhất trình bày: Các ông, bà là những người nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Đạt, bà Hồng từ những năm 1999-2001 hoặc nhận chuyển nhượng lại của những người đã nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Đạt. Các ông, bà đã cất nhà ở ổn định trên các phần đất này, nên yêu cầu được ổn định các phần đất nêu trên.

- Công ty TNHH Cấp thoát nước Cần Thơ do bà Phan Thị Thiên đại diện trình bày: Công ty là đơn vị quản lý trạm bơm Rạch Ngỗng, quá trình thực hiện dự án này thì đã giải quyết bồi thường cho các hộ bị thu hồi đất theo quy định, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

- Bà Phan Thị Thường, ông Phan Văn Tiên, bà Phan Thị Trường, bà Phan Thị Mỹ Linh, bà Lê Thị Ngữ, anh Phan Thành Nam (là các con cháu của cụ Ngô Thị Sang) và ông Ngô Hữu Thanh Tâm, ông Ngô Ngọc Châu Báu, bà Ngô Thị Bạch Tuyết, ông Ngô Bửu Ngọc, ông Ngô Bửu Nghiệp, bà Ngô Thị Kim Ngân (là các con cháu của cụ Ngô Văn Bích): Nhất trí lời trình bày của nguyên đơn, yêu cầu được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

- Những người nhận chuyển nhượng đất khác gồm ông Nguyễn Văn Định, ông Huỳnh Thanh Lộ, ông Lê Văn Em, ông Lê Xuân Tân, ông Nguyễn Việt Dũng, ông Nguyễn Văn Em là những người nhận chuyển nhượng lại đất của những người chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Đạt, đất đã bị giải tỏa, mới được nhận bồi thường giá trị tài sản trên đất, còn tiền bồi thường đất chưa được nhận.

Tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ trước năm 1990, vụ án đã được Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, thuộc tỉnh Cần Thơ (cũ) thụ lý, giải quyết.

Ngày 28/4/1994, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định số: 02/QĐ-CVA chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ giải quyết với lý do vụ án có nhân tố nước ngoài do cụ Ngô Văn Thi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trọng vụ án định cư tại Mỹ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/DSST ngày 25/4/1995, Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ quyết định:

Bác yêu cầu của các nguyên đơn là cụ Thời, cụ Đạo, ông Ngợi, ông Chức.

Ngày 08/5/1995, các nguyên đơn có đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 271/DSPT ngày 29/12/1995, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết sơ thẩm lại.

Tại Quyết định tạm đình chỉ vụ án số 01/QĐ-TĐC ngày 07/01/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ đã tạm đình chỉ vụ án do vụ án có liên quan đến đất nông nghiệp, nhưng người đang sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng chính thức, nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Cụ Thời, cụ Đạo có đơn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ vụ án nêu trên.

Tại Quyết định phúc thẩm số 143/DSPT ngày 01/7/1997, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Giữ nguyên quyết định tạm đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Trong thời gian vụ án bị tạm đình chỉ theo các quyết định trên, nguyên đơn là cụ Thời, cụ Đạo lại có đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2003 gửi Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (nay là Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều) đề nghị chia thừa kế.

Theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội đã chia địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ (thành phố trực thuộc trung ương).

Theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của Chính phủ thì quận Ninh Kiều được thành lập trên cơ sở diện tích tự nhiên của thành phố Cần Thơ cũ.

Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã thụ lý vụ án số 51 ngày 26/3/2004.

Tại Quyết định đình chỉ vụ án số 21/QĐ-ĐC ngày 05/4/2004, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định đình chỉ vụ án.

Cụ Thời, cụ Đạo có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ vụ án nêu trên, yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án.

Tại Quyết định đình chỉ vụ án số 123/QĐDS ngày 23/8/2004, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã đình chỉ vụ án với lý do: Cụ Thời, cụ Đạo có đơn xin rút đơn kháng cáo và rút đơn khởi kiện.

Ngày 11/10/2004, cụ Thời và cụ Đạo có đơn đề nghị tiếp tục giải quyết vụ án. Sau đó, vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiếp tục thụ lý.

Tại Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án số 12/QĐTĐC-DSST ngày 21/3/2005, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do: Đây là vụ án tranh chấp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991, có cụ Ngô Văn Thi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan định cư tại Mỹ, nên chưa có chính sách của Nhà nước giải quyết loại tranh chấp này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2009/DSST ngày 02/01/2009, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định (tóm tắt):

- Di sản thừa kế của cố Khuê, cố Hiến là nhà, cây lâu năm và 11.355m2 đất, các nguyên đơn chỉ yêu cầu chia đất, dành 200m2 đất để làm mồ mả thân tộc, 11.155m2 đất còn lại chia đều cho 5 người con của hai cố (trừ cụ Thi khước từ nhận di sản, những người đã chết thì con cháu họ được hưởng) và chia đều hiện vật, mỗi phần 2.231m2 đất (có vị trí cụ thể). Cụ Cử được nhận 391m2 đất thổ cư và nhận nhiều hơn 256,4m2 đất vườn, nên gia đình cụ Cử phải thanh toán giá trị đất dư cho các thừa kế khác là 94.705.000đ. Cụ Thời, cụ Đạo và các thừa kế của cụ Sang và cụ Bích được hưởng 8.924m2 đất. Cây trên đất của ai được chia thì người đó được hưởng.

- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Cử, cụ Vân và các đương sự Nguyễn Minh Triều, Diệp Ngà, Trần Bình Minh, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phan Thị Ngọc Vân do vô hiệu và cụ Cử, cụ Vân phải thanh toán tiền giá trị đất cho những người này. Các bên trong các hợp đồng này phải giao lại đất cho các thừa kế khác theo phần được chia.

- Đất mồ mả giao cho ông Ngô Ngọc Châu Báu (con cụ Ngô Văn Bích) quản lý thờ cúng.

- Phần đất được hưởng của thừa kế nào bị quy hoạch thì được bồi thường theo quy định.

- Các hộ ông Nguyễn Văn Định, ông Huỳnh Thanh Lộ, ông Lê Văn Em, ông Lê Xuân Tân, ông Nguyễn Việt Dũng, ông Nguyễn Văn Em nếu có tranh chấp với gia đình cụ Cử sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các nguyên đơn, bị đơn và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo không nhất trí bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 107/2009/DSPT ngày 10/4/2009, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết sơ thẩm lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2001/DSST ngày 14/4/2011, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế của cụ Ngô Văn Thời, cụ Ngô Thị Đạo, các thừa kế của cụ Ngô Văn Bích và cụ Ngô Thị Sang.

1. Công nhận di sản để lại của cố Ngô Văn Khuê và cố Dương Thị Hiến là quyền sử dụng đất 7.040m2 đất vườn thuộc thửa 27A (thửa cũ 554-555), tờ bản đồ số 44. Đất tọa lạc tại số 2/21, đường Mậu Thân, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ hiện do gia đình cụ Ngô Văn Cử, ông Ngô Phát Đạt, bà Nguyễn Thị Việt Hồng quản lý.

Chia diện tích 7.040m2 làm 05 phần, mỗi phần tương ứng 1.408m2 cho các thừa kế hàng thứ nhất của cố Khuê, cố Hiến gồm: cụ Ngô Văn Thời, cụ Ngô Thị Đạo, cụ Ngô Văn Cử, 05 con của cụ Ngô Văn Bích (chết) và 04 con của cụ Ngô Thị Sang (chết).

+ Cụ Đạo do Tô Văn Danh đại diện nhận.

+ Cụ Thời do Ngô Bửu Tài đại diện nhận.

+ Các thừa kế của cụ Sang do Phan Thị Thường và Phan Thành Nam đại diện nhận.

+ Các thừa kế của cụ Bích do Ngô Bửu Ngọc đại diện nhận.

Đất được phân chia như sau:

Phần cụ Ngô Văn Cử và gia đình đã nhận tiền bồi hoàn và chuyển nhượng bao gồm: Phần đất quy hoạch Trạm bơm nước thải 1.391,4m2; phần đất đã chuyển nhượng cho Lê Phú Cường 70m2, Phan Thị Tuyết Mai 80m2, Đặng Hoàng Phong 90m2, Châu Ngọc Hòa 204m2, Trịnh Kim Hứa 255m2, Lâm Phước Kiều 70m2. Cộng chung là 2.167,4m2 đất vườn, thừa so với kỷ phần được chia 759,4m2 đất vườn.

Ghi nhận sự tự nguyện của các thừa kế (đại diện nguyên đơn) ổn định việc sử dụng đất của các đương sự Lê Phú Cường, Phan Thị Tuyết Mai, Đặng Hoàng Phong, Châu Ngọc Hòa, Trịnh Kim Hứa, Lâm Phước Kiều. Các đương sự được liên hệ cơ quan chức năng để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

+ Buộc bà Nguyễn Thị Việt Hồng, ông Ngô Phát Đạt thanh toán phần chuyển nhượng dư ra so với phần được hưởng cho cụ Thời, cụ Đạo; các thừa kế của cụ Sang, cụ Bích bằng 199.722.200m2.

- Cụ Ngô Văn Thời, cụ Ngô Thị Đạo, các thừa kế của cụ Ngô Thị Sang, các thừa kế của cụ Ngô Văn Bích được nhận thừa kế toàn bộ khu đất còn lại tại thửa 27A (mới) tương ứng 4.872,6m2 đất vườn (kèm theo Theo hồ sơ Trích đo địa chính do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố Cần Thơ lập ngày 15/4/2000). Trong đó mỗi đồng thừa kế được chia ¼ diện tích, vị trí cụ thể của từng kỷ phần được nhận do các đương sự tự thỏa thuận. Buộc gia đình cụ Ngô Văn Cử, ông Ngô Phát Đạt, bà Nguyễn Thị Việt Hồng, ông Nguyễn Minh Triều, bà Diệp Ngà, bà Nguyễn Thị Hồng Hoa, bà Phan Thị Ngọc Vân, ông Trần Văn Đèo, bà Huỳnh Thị Mãi có trách nhiệm giao phần đất trên cho các nguyên đơn.

Phần đất được hưởng của thừa kế nào bị quy hoạch theo phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền thì họ được bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định của Nhà nước.

+ Buộc cụ Cử, bà Vân, bà Hồng, ông Đạt tháo dỡ toàn bộ các dãy nhà trọ, vật kiến trúc khác trên đất để giao đất cho các thừa kế. Cây trồng trên đất còn lại thực tế, các nguyên đơn trả lại giá trị cây trồng trên đất theo giá quy định của Nhà nước tại thời điểm thi hành án và buộc nguyên đơn trả lại bà Hồng giá trị cát san lấp mặt bằng là 280m3 bằng 28.000.000đ.

Số tiền ông Đạt, bà Hồng phải trả cho nguyên đơn và ngược lại sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

Phần đất sử dụng đi lại thuộc quyền sử dụng của các thừa kế Thời, Đạo; các thừa kế của cụ Bích và cụ Sang. Các hộ lân cận, liền kề sử dụng đất tạm thời khi có yêu cầu của các thừa kế thì đương sự phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ Giấy xác nhận số 344/XN.ĐĐ.94 ngày 14/3/1994 xác nhận quyền sử dụng đất của cụ Ngô Văn Cử.

Hủy bỏ “giấy giao quyền sử dụng đất cho con” lập ngày 13/02/2000 của cụ Ngô Văn Cử và cụ Trần Thị Cẩm Vân.

2. Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Ngô Văn Cử, cụ Trần Thị Cẩm Vân với các đương sự Nguyễn Minh triều, Diệp Ngà, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phan Thị Ngọc Vân, cụ thể:

Ông Nguyễn Minh Triều 428,2m2 theo Hợp đồng ngày 01/3/1994.

Bà Diệp Ngà 857,8m2 theo Hợp đồng ngày 03/3/1994.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa 437,7m2 theo Hợp đồng ngày 02/3/1994.

Bà Phan Thị Ngọc Vân 1.251m2 theo Hợp đồng ngày 28/02/1994.

Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Ngô Phát Đạt, bà Nguyễn Thị Việt Hồng với ông Trần Văn Đèo 80m2 theo Hợp đồng ngày 26/02/2001; với ông Võ Văn Quyển và bà Huỳnh Thị Mãi 279m2 theo Hợp đồng ngày 09/10/2007.

- Bác yêu cầu ổn định việc sử dụng đất của các đương sự Nguyễn Minh Triều, Diệp Ngà, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phan Thị Ngọc Vân, Trần Văn Đèo, Huỳnh Thị Mãi, Võ Văn Quyển.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ Giấy xác nhận quyền sử dụng đất do Chi cục quản lý đất đai tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp cho các đương sự Nguyễn Minh triều giấy số 471/XN.ĐĐ.94 ngày 06/4/1994, Nguyễn Thị Hồng Hoa - Lưu Thanh Luân giấy số 473/XN.ĐĐ.94 ngày 06/4/1994, Phan Thị Ngọc Vân giấy số 470/XN.ĐĐ.94, Diệp Ngà - Nguyễn Ngọc Hải giấy số 474/XN.ĐĐ.94 ngày 06/4/1994 để cấp lại cho các thừa kế một phần theo quyết định của bản án sơ thẩm đúng quy định của pháp luật. Phần đất còn lại các đương sự đã chuyển nhượng không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án.

- Phần đất cụ Ngô Văn Cử chuyển nhượng cho ông Trần Bình Minh theo “Hợp đồng chuyển nhượng, bán kết quả lao động và đầu tư lập ngày 02/3/1994” không giải quyết trong vụ án này vì không liên quan đến đất chia thừa kế.

- Buộc cụ Cử, cụ Vân hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Minh Triều; 21,49 chỉ vàng 24k loại 99% và bồi thường thiệt hại số tiền 260.893.865đ (Hai trăm sáu mươi triệu, tám trăm chín mươi ba ngàn, tám trăm sáu mươi lăm đồng).

Bà Diệp Ngà: 43,05 chỉ vàng 24k loại 99% và bồi thường thiệt hại số tiền: 522.875.544đ (Năm trăm  hai mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi lăm ngàn, năm trăm bốn mươi bốn đồng).

Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa: 21,97 chỉ vàng 24k loại 99% và bồi thường thiệt hại số tiền 266.876.838đ (Hai trăm sáu mươi sáu triệu, tám trăm bảy mươi sáu ngàn, tám trăm ba mươi tám đồng).

Bà Phan Thị Ngọc Vân: 62,79 chỉ vàng 24k loại 99% và bồi thường thiệt hại số tiền 762.375.751 đồng (Bảy trăm sáu mươi hai triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn, bảy trăm năm mươi mốt đồng).

- Buộc ông Ngô Phát Đạt và bà Nguyễn Thị Việt Hồng hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho: ông Trần Văn Đèo số tiền 59.200.000đ; bà Huỳnh Thị Mãi và ông Võ Văn Quyển số tiền 201.200.000đ.

Kể từ ngày các thừa kế - nguyên đơn và các đương sự Triều, Ngà, Hoa, Ngọc Vân, ông Đèo, bà Mãi có đơn yêu cầu thi hành án (khi án có hiệu lực) nếu cụ Cử, cụ Vân, bà Việt Hồng, ông Phát Đạt chưa thanh toán số tiền nêu trên thì các đương sự còn phải trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thi hành.

3. Tranh chấp giữa các hộ ông Nguyễn Văn Định, Huỳnh Thanh Lộ, Lê Văn Em, Lê Xuân Tấn, Nguyễn Việt Dũng, Nguyễn Văn Em với gia đình ông Ngô Phát Đạt và bà Nguyễn Thị Việt Hồng đối với số tiền được bồi hoàn về đất thuộc dự án trạm bơm nước thải Rạch Ngỗng sẽ được giải quyết thành vụ án khác theo thủ tục chung.

Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí định giá, án phí, quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện của cụ Cử, cụ Vân và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo không nhất trí án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 145/2012/DSPT ngày 18/4/2012, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 15/6/2012 ông Ngô Phát Đạt có đơn đề nghị xem xét lại Bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm; ngày 25/7/2012 cụ Ngô Văn Cử và cụ Trần Thị Cẩm Vân có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 43/2013/QĐKNGĐT-V5 ngày 9/5/2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 145/2012/DSPT ngày 18/4/2012 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2001/DSST ngày 14/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Cố Ngô Văn Khuê (chết năm 1947) và cố Dương Thị Hiến (chết năm 1935) có 6 người con chung là các cụ Ngô Văn Bích (chết năm 1946), cụ Ngô Thị Sang (chết năm 1990), cụ Ngô Văn Thời, cụ Ngô Thị Đạo, cụ Ngô Văn Thi và cụ Ngô Văn Cử.

- Về thời hiệu khởi kiện: Năm 1988 các nguyên đơn đã có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đất vườn và cây lâu năm trên đất là di sản do cố Khuê, cố Hiến để lại. Ngày 07/01/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ (cũ) đã có Quyết định Tạm đình chỉ vụ án số 01/QĐ-TĐC. Sau đó, đương sự có đơn kháng cáo quyết định trên. Tại Quyết định phúc thẩm số 143/DSPT ngày 01/7/1997, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định giữ nguyên quyết định sơ thẩm. Do không hiểu biết pháp luật, khi vụ án vẫn đang bị tạm đình chỉ, ngày 29/9/2003 các nguyên đơn lại có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (là Tòa án cấp quận, huyện), quan hệ pháp luật vẫn là tranh chấp thừa kế và bị đơn vẫn là cụ Cử, nên vụ án không có gì khác so với vụ án đang được tạm đình chỉ nêu trên, nên việc Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (cũ) thụ lý vụ án là không đúng. Sau đó, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều (tức Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ cũ) phát hiện ra sai sót này đã đình chỉ vụ án là đúng. Sau khi có đơn kháng cáo, tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện năm 2003, nên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã có Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 123/QĐDS ngày 23/8/2004 đối với vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý năm 2004 là phù hợp, việc đình chỉ này không ảnh hưởng gì đến yêu cầu khởi kiện từ năm 1988 của các nguyên đơn. Năm 2008, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đưa vụ án đã thụ lý năm 1988 để tiếp tục giải quyết là quá trình tiếp nối từ năm 1988 đến nay, nên việc khởi kiện của nguyên đơn là vẫn còn thời hiệu theo quy định của pháp luật.

- Về xác định di sản: Các đương sự thừa nhận cố Khuê, cố Hiến chết để lại 7040m2 đất đã có Bằng khoán điền thổ số 152 ngày 12/9/1937 do cố Khuê đứng tên, trên đất khi giao cho cụ Cử quản lý có cây lâu năm do hai cố để lại. Sau khi hai cố chết, những người con khác của hai cố đã quản lý đất và cây, đến năm 1962 mới giao cho cụ Cử quản lý, năm 1972 cụ Cử mới làm nhà ở trên đất. Cụ Cử cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai, không có giấy tờ gì thể hiện việc được các anh chị cho hưởng riêng tài sản này. Theo quy định tại Điều 247 Bộ luật dân sự về việc xác lập quyền sở hữu bất động sản theo thời hiệu thì tính đến thời điểm các nguyên đơn khởi kiện năm 1988 thì cụ Cử chưa trực tiếp sử dụng đất tranh chấp được 30 năm, nên không có cơ sở xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ Cử như Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định là có căn cứ. Nội dung kháng nghị cho rằng đất tranh chấp không còn là di sản của cố Khuê, cố Hiến để lại là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với phần đất 4.315m2 do cố Khuê, cố Hiến nhận chuyển nhượng của cố Ngô Thị Ẩn (chị gái cố Khuê), phần đất này nằm liền thửa đất có bằng khoán của cố Khuê và cùng trong khuôn viên. Tính cả phần đất này thì tổng diện tích đất của hai cố là 11.355m2. Nguyên đơn xác định toàn bộ đất là di sản của hai cố. Cụ Cử, cụ Vân và ông Đạt (con cụ Cử) đều xác định hai cố để lại toàn bộ đất trên (cụ Cử chỉ cho rằng đã quản lý đất nhiều năm và không đồng ý chia thừa kế). Như vậy, các đương sự thừa nhận toàn bộ đất tranh chấp là của hai cố để lại. Lẽ ra, phải xác định toàn bộ đất là di sản của hai cố để lại và giải quyết theo pháp luật thừa kế, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng phần đất 4.315m2 chưa có giấy tờ nên chưa giải quyết là không đúng. Còn nội dung kháng nghị xác định đất tranh chấp không phải là di sản thừa kế của hai cố cũng là không đúng.

Đối với phần đất Nhà nước đã quy hoạch và đền bù để làm Trạm bơm Rạch Ngỗng năm 2004 nay không còn đất, chỉ còn tiền đền bù và đất tái định cư. Cần xem xét, nếu đất đã được bồi thường ngang giá thì chỉ xác định tiền bồi thường là di sản, còn đất tái định cư cấp cho người đang ở trên đất không phải là di sản; còn nếu cả tiền bồi thường và đất tái định cư mới ngang giá đất bị quy hoạch thì phải xác định cả tiền đền bù và đất tái định cư là di sản. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đất bị quy hoạch vẫn là di sản là không đúng.

- Về công sức: Cụ Cử được các anh chị giao đất cho quản lý từ năm 1962, đến khi các nguyên đơn khởi kiện năm 1988 là đã trên 20 năm, nên có công sức quản lý, duy trì tài sản, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không trích một phần di sản trả công sức cho cụ Cử là chưa đảm bảo quyền lợi của cụ Cử.

- Về tố tụng: Cụ Ngô Thị Đạo là một trong các nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án đã ủy quyền hợp pháp cho ông Tô Văn Danh. Khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử năm 2011 và Tòa án cấp phúc thẩm xét xử năm 2012, các đương sự không thông báo cho Tòa án biết việc cụ Đạo đã chết. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị giám đốc thẩm ngày 25/7/2012, cụ Cử trình bày cụ Đạo đã chết và xuất trình bản sao hợp pháp giấy chứng tử của cụ Đạo xác định cụ Đạo đã chết ngày 14/8/2010 (trước thời điểm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác định cụ Đạo là đồng nguyên đơn là không phù hợp thực tế. Khi giải quyết lại vụ án cần xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định.

Cụ Trần Thị Cẩm Vân là vợ cụ Cử và cùng cụ Cử quản lý di sản, nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cụ Vân tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng.

Do đó, một phần nội dung kháng nghị là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12.

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 145/2012/DSPT ngày 18/04/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2011/DSST ngày 14/04/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là cụ Ngô Văn Thời, cụ Ngô Thị Đạo với bị đơn là cụ Ngô Văn Cử và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác (gồm 25 người).

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ĐỀ XUẤT CÔNG NHẬN LÀM ÁN LỆ

Trong Quyết định giám đốc thẩm đã chỉ ra vấn đề pháp lý có giá trị hướng dẫn xét xử là:

- Trường hợp người chết để lại tài sản là quyền sử dụng đất, nhưng diện tích đất đó Nhà nước đã quy hoạch và đền bù nay không còn đất, chỉ còn tiền đền bù và đất tái định cư thì đất bị quy hoạch không phải là di sản. Cần xem xét  nếu đất đã được bồi thường ngang giá thì chỉ xác định tiền bồi thường là di sản, còn đất tái định cư cấp cho người đang ở trên đất không phải là di sản; còn nếu cả tiền bồi thường và đất tái định cư mới ngang giá đất bị quy hoạch thì phải xác định cả tiền đền bù và đất tái định cư là di sản.

- Người được giao quản lý di sản có công sức quản lý, duy trì tài sản thì Tòa án phải giải quyết trích một phần di sản trả công sức cho họ.

Cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định:

          “Đối với phần đất Nhà nước đã quy hoạch và đền bù để làm Trạm bơm Rạch Ngỗng năm 2004 nay không còn đất, chỉ còn tiền đền bù và đất tái định cư. Cần xem xét, nếu đất đã được bồi thường ngang giá thì chỉ xác định tiền bồi thường là di sản, còn đất tái định cư cấp cho người đang ở trên đất không phải là di sản; còn nếu cả tiền bồi thường và đất tái định cư mới ngang giá đất bị quy hoạch thì phải xác định cả tiền đền bù và đất tái định cư là di sản. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đất bị quy hoạch vẫn là di sản là không đúng".

             “Về công sức: Cụ Cử được các anh chị giao đất cho quản lý từ năm 1962, đến khi các nguyên đơn khởi kiện năm 1988 là đã trên 20 năm, nên có công sức quản lý, duy trì tài sản, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không trích một phần di sản trả công sức cho cụ Cử là chưa đảm bảo quyền lợi của cụ Cử”.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về