Quyết định giám đốc thẩm 13/2008/DS-GĐT ngày 18/06/2008 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 13/2008/DS-GĐT NGÀY 18/06/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 6 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Anh Võ Văn Bình, sinh 1965; anh Bình định cư tại Liên bang Nga, ngày 27-6-2005 anh Bình nhập lại hộ khẩu về thôn Tân Hy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Anh Bình ủy quyền cho ông Nguyễn Lượng, sinh 1950; trú tại: thôn Tân Hy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, theo giấy ủy quyền ngày 12-7-2004.

Bị đơn:

1. Ông Võ Văn Kết (cha của anh Bình), sinh năm 1937;

2. Bà Trần Thị Phương Ngôn (mẹ kế của anh Bình), sinh năm 1958;

Cùng trú tại: tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Va, sinh năm 1962; trú tại: khối 2, phường Chánh Lộ, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

2. Bà Nguyễn Thị Bích Thanh, sinh năm 1955; trú tại: 163 Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

3. Bà Trần Thị Trinh, sinh năm 1950; trú tại: Khê Thanh, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Ông Võ Trọng Thanh (Vũ Trọng Thanh), sinh năm 1961 và vợ là bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm, sinh năm 1964; Trú tại: 53 Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

5. Bà Võ Thị Liên, sinh 1958; Trú tại: thôn Tân Hy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

NHẬN THẤY

Anh Võ Văn Bình là con của ông Võ Văn Kết, còn bà Trần Thị Phương Ngôn là mẹ kế anh Bình. Năm 1989 anh Bình đi học đại học tại Liên bang Nga, năm 1994 anh Bình xin định cư tại Liên bang Nga.

Ngày 21-6-2004, anh Võ Văn Bình khởi kiện trình bày: vào các năm 1997, 1998, 1999 anh có gửi về tổng cộng 454.584.500 đồng góp vốn mua đất, xây dựng nhà nghỉ Thanh Bình tại tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thị xã (nay là thành phố) Quảng Ngãi để kinh doanh chung với cha và mẹ kế của anh là ông Kết và bà Ngôn nên yêu cầu Tòa án công nhận anh là đồng sở hữu nhà nghỉ Thanh Bình với ông Kết, bà Ngôn và xin nhận nhà nghỉ Thanh Bình để kinh doanh.

Vợ chồng ông Kết, bà Ngôn thừa nhận anh Bình có gửi tiền về, nhưng cho rằng số tiền anh Bình gửi về là cho vợ chồng ông, bà mượn chứ không phải là đầu tư chung và vợ chồng ông, bà chỉ mượn anh Bình 401.984.500 đồng, chứ không phải 454.584.500 đồng (số còn lại vợ chồng ông, bà có nhận, nhưng đã chuyển cho những người thân của anh Bình theo yêu cầu của anh Bình); năm 2003 anh Bình đòi nợ, nên vợ chồng ông, bà đã phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhà nghỉ Thanh Bình vay của bà Nguyễn Thị Bích Thanh 350.000.000 đồng, vay của bà Trần Thị Trinh 100.000.000 đồng trả cho anh Bình 400.000.000 đồng để vợ chồng anh Bình mua nhà tại Hà Nội (do chị Hà vợ anh Bình nhận, có giấy biên nhận); ông, bà xác định nhà nghỉ Thanh Bình thuộc quyền sở hữu của ông, bà và do kinh doanh khó khăn nên vợ chồng ông bà có cho ông Lê Va thuê nhà nghỉ Thanh Bình để kinh doanh đến nay chưa hết hạn hợp đồng; do đó, ông, bà không đồng ý với yêu cầu của anh Bình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Va trình bày: Ngày 27-12-2003 ông ký hợp đồng thuê nhà nghỉ Thanh Bình của vợ chồng ông Kết, bà Ngôn để kinh doanh, thời hạn thuê 3 năm, ông đã trả trước tiền thuê 2 năm (tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Va mới kinh doanh được 19 tháng); trong quá trình kinh doanh ông đã bỏ ra một số tiền để đầu tư, nâng cấp nhà nghỉ, nên yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Bích Thanh trình bày: Ngày 17-6-2003 vợ chồng ông Kết thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện nay xây khách sạn Thanh Bình) để vay của bà 350.000.000 đồng, nay bà yêu cầu vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trả gốc và lãi, nếu ông Kết, bà Ngôn không có tiền thì cấn trừ bằng đất.      

Bà Trần Thị Trinh trình bày: bà có cho vợ chồng ông Kết, bà Ngôn vay 100.000.000 đồng, nay bà yêu cầu vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trả gốc và lãi, nếu ông Kết, bà Ngôn không có tiền trả thì cấn trừ bằng đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2005/DSST ngày 02-8-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

1. Công nhận nhà nghỉ Thanh Bình (Hòa Bình) gồm có: Nhà cấp 4.1 (tương đương nhà cấp 2B cũ) cấu trúc nhà 3 tầng, khung sàn bê tông, mái lợp tole diện tích xây dựng 234m2, trị giá thành tiền 701.824.500 đồng; Nhà cấp 4.3A (tương đương nhà cấp 4A cũ), diện tích xây dựng 94,05m2, trị giá thành tiền 64.360.296 đồng; Nhà thuộc dạng khác NK1 (tương đương nhà cấp 4.1 cũ) diện tích 35,26m2 trị giá thành tiền 15.010.812 đồng; Cùng các công trình phụ: Nhà để xe diện tích 67,20 m2, trị giá thành tiền 8.930.000 đồng, tường rào, móng đá, trụ bê tông, lưới B40 diện tích 85,1m2, giá trị thành tiền 5.106.000 đồng. Tường rào, móng đá, tường gạch, trụ bê tông, lưới B40 diện tích 163,8m2, trị giá thành tiền 19.901.700 đồng, sân bê tông diện tích 629m2 trị giá thành tiền 34.217.600 đồng và các tài sản trang thiết bị nội thất đã định giá theo biên bản định giá ngày 06-4-2005 là 118.296.500 đồng nằm trên diện tích đất 1.886,36m2 trị giá thành tiền giá trị quyền sử dụng đất là 2.263.632.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản nhà nghỉ Thanh Bình (Hòa Bình) là 3.231.278.180 đồng tại tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi là tài sản thuộc sở hữu chung (sở hữu chung theo phần) của ông Võ Văn Bình và vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn.

Tổng giá trị tài sản đang tranh chấp là 3.231.278.180 đồng trừ 105.300.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất của 85,65 m2 là lối đi chung và 42m2 tường rào, trụ bê tông, lưới B40 là diện tích sử dụng chung. Nên giá trị tài sản nhà nghỉ Thanh Bình là 3.231.278.180 đồng - 105.300.000 đồng = 3.125.979.228 đồng. Xác định tỉ lệ phần trăm sở hữu chung theo phần gồm:

- Phần vốn ông Võ Văn Bình được xác định là: 57,65%

- Phần vốn vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn được xác định là: 42,35%.

2. Ông Võ Văn Bình được sở hữu, quản lý và sử dụng nhà cấp 4.1B (tương đương nhà cấp 2B cũ), nhà 3 tầng, khung sàn bê tông, mái lợp tole, diện  tích xây dựng 234m2 (16,6m x 14,1m) trị giá thành tiền 701.824.500 đồng; Nhà một tầng cấp 4.3A (tương đương nhà cấp 4A cũ) diện tích xây dựng 94,05m2(5,7m x 16,5m) trị giá thành tiền 64.360.296 đồng; Nhà thuộc dạng khác NK1 (tương đương nhà cấp 4.1 cũ) diện tích xây dựng 35,26m2 (8,6mx 4,1m) trị giá thành tiền 15.010.182 đồng, tường rào gạch + lưới B40 diện tích 90,75m2 (60,5m x 1,5m) trị giá thành tiền 11.026.125 đồng (90,75mx 80.000 đồng x 75%), sân bê tông diện tích 397,30m2 (13,7mx29m) trị giá thành tiền 21.613.120 đồng (397,30mx 162.000 đồng x 75%). Tổng cộng nhà, công trình phụ trị giá: 813.834.223 đồng (1) trên diện tích đất 1002,71m2 là diện tích đất của phần A (theo bảng vẽ mặt bằng tổng thể nhà nghỉ Thanh Bình) và tài sản thiết bị nhà nghỉ (theo biên bản định giá ngày 06-4-2005) gồm:

-     19 tivi DEAWOO trị giá 14.820.000 đồng.

-     01 tivi ARIKA trị giá 812.500 đồng.

-     10 máy nước nóng hiệu Ariston trị giá 8.505.000 đồng.

-     10 máy điều hòa nhiệt độ trong đó có 2 máy 2 mảnh trị giá 12.800.000 đồng và 8 máy 1 mảnh trị giá 32.000.000 đồng.

-     Hệ thống điện thoại gồm 1 tổng đài và 24 máy, trong đó có hệ thống vi tính để tính cước nằm trong  tổng đài trị giá 24.500.000 đồng.

-     01 máy giặt hiệu TUBODRUM 6 kg trị giá 2.975.000 đồng.

-     01 bộ ghế đệm trị giá 680.000 đồng.

-     12 bộ vòi tắm gật gù trị giá 1.680.000 đồng.

-     12 bộ gương soi 7 món trị giá 560.000 đồng.

-     Hệ thống điện 3 pha trị giá 480.000 đồng.

-     8 cái bàn trị giá 1.120.000 đồng.

-     16 cái ghế trị giá 1.680.000 đồng.

-     8 cái giường 1,4m trị giá 1.920.000 đồng.

-     15 cái giường 1,2m trị giá 4.000.000 đồng.

-     20 cái tủ sắt trị giá 4.000.000 đồng.

-     4 bộ đèn chùm trị giá 1.840.000 đồng.

-     1 bình nước Inox hiệu Toàn Mỹ 2000L trị giá 1.440.000 đồng.

-     1 tủ để hàng khung nhôm+ gương+gỗ cao 1m, dài 2,5m, rộng 0,5m trị giá 2.484.000 đồng.

-     Hệ thống điện, quạt, cấp thoát nước gắn liền với tài sản nhà nghỉ.

 Tổng trị giá trang thiết bị cho nhà nghỉ 118.296.500 đồng (2)

Giá trị quyền sử dụng đất 1.203.252.000 đồng (1002,71m2 x 1.200.000 đồng/m2) (3)

Tổng cộng giá trị tài sản nhà nghỉ Thanh Bình ông Võ Văn Bình được nhận là 2.135.382.723 đồng (1+2+3). Toàn bộ tài sản nhà nghỉ, công trình phụ, thiết bị nội thất nằm trên diện tích đất 1002,71m2 có giá trị 2.135.382.723 đồng nói trên tại tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Xác định ranh giới phân chia phần đất của phần A (Theo bảng vẽ mặt bằng tổng thể nhà nghỉ Thanh Bình) cho ông Võ Văn Bình.

Đường ranh giới phân chia là đường thẳng, có mốc giới từ vị trí điểm (1) đến mốc giới vị trí điểm (8) song song cách nhà NK1 (4.1cũ) là 4m và nhà 4.3A (tương đương nhà cấp 4A cũ) là 6,4m của phần A.

* Có chiều dài:

- Mốc (1) đến mốc (8) là 42m dài

- Mốc (1) đến mốc (2) là 29m

- Mốc (2) đến mốc (3) là 26,5m

- Mốc (3) đến mốc (4) là 1m

- Mốc (4) đến mốc (5) là 3,5m

- Mốc (5) đến mốc (6) là 21,4m

- Mốc (6) đến mốc (7) là 12,5m

- Mốc (7) đến mốc (8) là 8,2m

- Mốc (8) đến mốc (1) là 42m

3. Vợ chồng ông Võ Văn Kết được sở hữu quản lý sử dụng ngôi nhà 2 tầng cấp 4.2A (tương đương cấp 3.A cũ) diện tích xây dựng 93,50m2 (18,70m x 5m) nhà để xe diện tích 67,2 m2 (6m x 11,2m) trị giá 8.930.000 đồng, tường rào xây gạch + lưới B40 diện tích 73,05m2(48,7m x 1,5m) trị giá 8.875.575 đồng (73,05m2 x 162.000 đồng x 75%).

- Tường rào móng đá, trụ bê tông + lưới B40 diện tích 43,1m2 (28,75m x 1,5m) trị giá 2.586.000 đồng (43,1mx 80.000 đồng x 75%). Sân bê tông 231,7m2 (629m- 397,3m2) trị giá 12.604.480 đồng (231,7mx 68.000 đồng x 80%). Tổng cộng nhà để xe + công trình phụ trị giá 32.996.055 đồng (1) trên diện tích đất 798m2 là diện tích đất của phần B (theo bản vẽ mặt bằng tổng thể nhà nghỉ Thanh Bình) tại tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Giá trị quyền sử dụng đất 957.600.000 đồng (2) (1.200.000 đồng x 798m2). Tổng giá trị tài sản ông Kết, bà Ngôn được nhận 990.596.055 đồng (1+2) (Ngôi nhà 4.2A tương đương cấp 3A cũ ông Lê Va xây dựng bà Ngôn đã giao trả tiền cho ông Lê Va, ông Va giao nhà cho ông Kết,  bà Ngôn sở hữu nên không tính giá trị tài sản tranh chấp).

Ranh giới phân chia diện tích đất phần B cho vợ chồng ông Võ Văn Kết và bà Trần Thị Phương Ngôn như sau:

Đường  ranh giới phân chia là đường thẳng, có mốc giới từ vị trí điểm (13) đến môc giới vị trí điểm (8) có chiều dài là 45m, song song cách nhà NK1 (4.1cũ) là 4m và nhà 4.3A (4A cũ) là 6,4m của (phần A)

Chiều dài cạnh phần B:

-     Mốc (8) đến mốc (9) là 19,7m

-     Mốc (9) đến mốc (11) là 39m

-     Mốc (11) đến mốc (13) là 18,3m

-     Mốc (13) đến mốc (8) là 45m

4. Hủy hợp đồng thuê nhà, nhà nghỉ Thanh Bình (Hòa Bình) giữa ông Lê Va và vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn lập ngày 27-12-2003

- Ông Lê Va có trách nhiệm giao lại  toàn bộ tài sản nhà nghỉ Thanh Bình, nhà 3 tầng (cấp 2B) diện tích xây dựng 234m2, gồm các tầng: Tầng 1: phòng lễ tân, 101, 123, 124, 116, 117, 118, 119, 121, phòng Ôsin 1, Ôsin 2 (nguyên phòng vợ chồng ông Kết ở) phòng vật lý trị liệu, phòng khách, phòng kho.

- Tầng 2: Phòng khách, 221, 226, 224, 223, 233, 234, 231, 230

- Tầng 3: 301, 302, 303, 304, 305, 306, 307, 308

Nhà một tầng cấp 4.3A; diện  tích xây dựng 94,05m2 nhà 1 tầng cấp nhà NK1 diện tích xây dựng 35,26m2 toàn bộ thiết bị nội thất nhà nghỉ Thanh Bình (Hòa Bình) theo biên bản định giá ngày 06-4-2005, cùng nhà để xe, các công trình phụ khác cho vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn nhận đủ.

- Bà Ngôn và ông Kết có trách nhiệm hoàn trả lại tiền thuê nhà cho ông Lê Va số tiền 25.000.000đ {(120.000.000đ - (19 tháng x 5.000.000đ)} (vì hủy hợp đồng thuê nhà).

- Ông Lê Va có trách nhiệm thu dọn các tài sản trong 2 phòng Ôsin 1 và Ôsin 2 (để giao trả 2 phòng cho nhà nghỉ Thanh Bình) gồm:

-     Quạt Tozokita Trung Quốc 2 cái

-     Ti vi Akina 14in 2 cái

-     Tủ nhôm kính màu cao 1m rộng 0,6m: 1 cái

-     Bàn hình bầu dục: 2 bộ

-     Đèn chùm: 2 bộ

-     Nệm ngồi 20 cái

-     Bệ xí vệ sinh; 2 bộ

Ông Lê Va không được quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 34A 8000942 ngày 05-5-2004 của Phòng tài chính - kế hoạch thị xã Quảng Ngãi về việc kinh doanh nhà nghỉ Hòa Bình (vì đã hủy hợp đồng thuê nhà nghỉ)

5 Ông Lê Va giao trả toàn bộ tài sản nhà nghỉ Thanh Bình, các công trình phụ, thiết bị nội thất nói trên cho vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn. Ông Kết, bà Ngôn phải có trách nhiệm giao lại cho ông Bình nhận toàn bộ số tài sản nhà nghỉ Thanh Bình (Hòa Bình), các công trình phụ, thiết bị nội thất trên diện tích đất 1002,71m2 (được  phân chia  cho ông Bình được nhận nói trên) để ông Bình trọn quyền sở hữu, quản lý và sử dụng.

Ông Bình liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà, quyền quản lý sử dụng đất theo pháp luật quy định và liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy phép kinh doanh nhà nghỉ.

6. Vợ chồng ông Kết, bà Ngôn không được quyền sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00166/QSDĐ/770/QĐ-UB ngày 25-3-2002 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00189/QSDĐ/373/QĐ-UB ngày 28-6-2002. Ông Kết, bà Ngôn có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

7. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự không yêu cầu chia cây lâu niên: thông hai cây, khế một cây, xoài hai cây, chôm chôm một cây, cốc một cây vì các loại cây còn nhỏ, không có giá trị lớn, nên cây lâu niên nằm ở phần đất được chia cho người nào thì người đó được hưởng.

8. Phần đất phần C theo bảng vẽ mặt bằng tổng thể nhà nghỉ Thanh Bình có diện tích 85,65m2(28,1m + 29m) : 2 x 3 là diện tích lối đi chung và 42m2 (28m x 1,5m) tường rào trụ bê tông + lưới B40 là diện tích sử dụng chung cho phần đất A và phần đất B (phần đất được chia cho ông Võ Văn Bình và vợ chồng ông Kết, bà Ngôn). Ranh giới đất phần C; mốc (13) đến mốc (1) là 3m; mốc (1) đến mốc (2) là 29m; Mốc (2) đến mốc (15) là 3m; Mốc (15) đến mốc (13) là 28,10m. 

9. Huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 00166/QSDĐ/770/QĐ-UB ngày 25-3-2002 giữa vợ chồng ông Võ Văn Kết bà Trần Thị Phương Ngôn với bà Trần Thị Trinh. Vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn phải trả bà Trần Thị Trinh số tiền vay mượn gốc là 100.000.000 đồng.

10. Huỷ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 00189QSDĐ/373/QĐ-UB ngày 28-6-2002 giữa vợ chồng ông Võ Văn Kết và bà Trần Thị Phương Ngôn với bà Nguyễn Thị Bích Thanh. Vợ chồng ông Võ Văn Kết và bà Trần Thị Phương Ngôn phải trả bà Nguyễn Thị Bích Thanh số tiền vay mượn gốc là 350.000.000 đồng.

11. Bác yêu cầu của vợ chồng ông Võ Văn Kết và bà Trần Thị Phương Ngôn khai nại và yêu cầu vợ chồng ông Võ Trọng Thanh (Vũ Trọng Thanh) và bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm trả 73.000.000 đồng, ông Võ Văn Bình trả 43.000.000 đồng, bà Võ Thị Liên trả 6.000.000 đồng.

12. Bác yêu cầu của ông Võ Văn Bình về khoản tiền lãi kinh doanh nhà nghỉ (từ tháng 2/2002 đến ngày 28-7-2005) là 243.844.078 đồng (400.000.000 đồng - 156.155.922 đồng (tức là 270.868.902 x 57,65%) tiền lãi được hưởng theo cơ cấu vốn).  

13. Ông Võ Văn Bình có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn số tiền 577.099.777 đồng (trong đó tiền lãi không được chấp nhận: 243.844.078 đồng, tiền thối lại giá trị chênh lệch tài sản được chia: 333.255.699 đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí định giá, án phí tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật và trách nhiệm do chậm thi hành án.

Ngày 10-8-2005, ông Kết, bà Ngôn kháng cáo cho rằng: số tiền anh Bình gửi về là cho ông, bà mượn chứ không phải đầu tư chung; anh Bình là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được phép mua nhà đất tại Việt Nam; mặt khác, ngày 05-7-2003 anh Bình đã lấy lại 400.000.000 đồng để mua nhà cho vợ tại Hà Nội nên anh Bình không còn liên quan gì đến nhà nghỉ Thanh Bình.

Ngày 09-8-2005 bà Nguyễn Thị Bích Thanh kháng cáo, ngày 10-8-2005 bà Trần Thị Trinh kháng cáo, nội dung kháng cáo của bà Thanh và bà Trinh cho rằng: Các bà cho vợ chồng ông Kết, bà Ngôn vay tiền được đảm bảo bằng toàn bộ nhà đất đứng tên vợ chồng ông Kết là hợp pháp, nay Tòa án giao gần toàn bộ nhà đất cho anh Bình, nhưng lại buộc vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trả nợ cho các bà là vi phạm quyền được đảm bảo tiền vay của các bà, đồng thời Tòa án chỉ buộc trả gốc, không buộc trả lãi là thiệt hại quyền lợi của các bà.

Ngày 17-8-2005 ông Lê Va kháng cáo cho rằng ông Kết, bà Ngôn đứng tên chủ sở hữu nhà nghỉ Thanh Bình, nên việc ông ký hợp đồng với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn là hợp pháp. Tòa án huỷ hợp đồng thuê nhà của ông với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trước thời hạn, nhưng không buộc trả lại ông số tiền đã đầu tư nâng cấp nhà nghỉ, không buộc bồi thường thiệt hại cho ông là không đúng.

Tại Quyết định số 35/QĐKNPT-P5 ngày 15-8-2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 37/2006/DSPT ngày 29-6-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn, bà Nguyễn Thị Bích Thanh, bà Trần Thị Trinh và ông Lê Va có đơn khiếu nại.

Tại Công văn số 236/BC-GĐT ngày 02-8-2006, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Đà Nẵng kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 53/2008/KN-DS ngày 25-3-2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 09/2005/DSST ngày02-8-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:

“... Mặc dù không có văn bản thỏa thuận về việc góp vốn làm ăn chung giữa anh Bình với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn, nhưng theo nội dung sổ ghi chép của ông Kết thì “Tổng vốn đầu tư ban đầu 2 người, vốn Bình 401.000.000 đồng, vốn gia đình 387.000.000 đồng...” và nội dung giấy biên nhận” do chị Hà (vợ anh Bình) viết khi nhận 400 triệu đồng do vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trả để mua nhà ở Hà Nội thì: “Đây là số tiền anh Bình nhận của ba anh Bình từ nhà nghỉ Thanh Bình...”; đồng thời, căn cứ một số lời khai của các đương sự và nhân chứng, có đủ cơ sở xác định anh Bình gửi tiền về là để góp vốn mua đất, xây dựng và kinh doanh nhà nghỉ Thanh Bình chung với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định có việc anh Bình gửi tiền góp vốn cùng vợ chồng ông Kết, bà Ngôn mua đất, xây dựng và kinh doanh nhà nghỉ Thanh Bình là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh số tiền thực tế anh Bình đã góp vốn cùng vợ chồng ông Kết để xây dựng nhà nghỉ, nhưng lại xác định vợ chồng ông Kết, bà Ngôn dùng toàn bộ số tiền anh Bình gửi về là 454.584.500 đồng để đầu tư vào việc mua đất, xây dựng nhà nghỉ Thanh Bình trên cơ sở đó phân chia tài sản chung giữa vợ chồng ông Kết với anh Bình là chưa đủ căn cứ, bởi vì:

- Theo lời khai của ông Kết thì vợ chồng ông có nhận số tiền anh Bình gửi về là 454.584.500 đồng, nhưng chỉ sử dụng 401.500.000 đồng để mua đất xây dựng nhà nghỉ Thanh Bình, số còn lại vợ chồng ông đã chuyển cho những người thân của anh Bình theo yêu cầu của anh Bình;

- Tại sổ do ông Kết ghi chép chi phí trong quá trình đầu tư mua đất, xây dựng nhà nghỉ Thanh Bình chỉ thể hiện: “vốn Bình 401.000.000 đồng...”; trong khi đó Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa tiến hành đối chiếu với tổng số tiền thực tế mua đất, xây cất nhà nghỉ và số tiền của vợ chồng ông Kết đã cùng đóng góp.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn có những sai sót sau:

- Anh Bình là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 81/2001/NĐ-CP ngày 05-11-2001 của Chính phủ thì Nhà nước chỉ cho phép một số đối tượng là người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài gồm: “Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; Người có công đóng góp với đất nước; Nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam” được phép “sở hữu một căn nhà để ở (căn hộ, căn nhà, nhà biệt thự)”. Trong trường hợp này, nhà nghỉ Thanh Bình được xây dựng để kinh doanh không phải để ở; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ  anh Bình đã hồi hương về cư trú ở Việt nam hay chưa? nếu anh Bình vẫn định cư ở nước ngoài thì anh Bình có thuộc diện được sở hữu nhà ở theo quy định nêu trên hay không và anh Bình có được phép sở hữu cơ sở kinh doanh nhà nghỉ hay không? nhưng lại quyết định cho anh Bình có quyền sở hữu nhà nghỉ và giao toàn bộ nhà nghỉ Thanh Bình cho anh Bình, là chưa đủ căn cứ vững chắc.

- Theo kết quả đo đạc thực tế, diện tích đất gắn liền nhà nghỉ Thanh Bình là 1.886,6m2, trong đó chỉ có 1.596,6m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại 289,76m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa hỏi ý kiến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền về việc sử dụng 289,76m2 đất này; nhưng đã quyết định phân chia cả phần đất này cho các đương sự là không đúng quy định của pháp luật (trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng thì Tòa án cũng chỉ được tạm giao cho các đương sự sử dụng).

- Theo trình bày của vợ chồng ông Kết, để có tiền trả cho anh Bình 400.000.000 đồng, vợ chồng ông đã phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà nghỉ Thanh Bình để vay bà Thanh 350.000.000 đồng, vay bà Trinh 100.000.000 đồng, hiện nay chưa trả. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ, nhưng lại xác định đây là nợ riêng của vợ chồng ông Kết với bà Thanh và bà Trinh là chưa đủ cơ sở; và chỉ buộc vợ chồng ông Kết trả bà Thanh, bà Trinh vốn gốc mà không buộc trả lãi là không đảm bảo được quyền lợi chính đáng của bà Thanh và bà Trinh.

- Từ ngày 27-12-2003 vợ chồng ông Kết đã ký hợp đồng cho ông Lê Va thuê nhà nghỉ Thanh Bình để kinh doanh (hợp đồng được Phòng tài chính- kế hoạch thị xã Quảng Ngãi xác nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên huỷ hợp đồng thuê nhà và tuyên ông Lê Va chỉ được nhận lại số tiền ông đã trả cho những tháng chưa thuê (mà không xác định để giải quyết thiệt hại của ông Lê Va do bị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn) và không buộc bồi hoàn cho ông Lê Va số tiền ông đã bỏ ra cải tạo, sửa chữa nhà nghỉ, là không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Lê Va.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. 

XÉT THẤY

Căn cứ lời khai của các đương sự và của các nhân chứng; căn cứ nội dung sổ ghi chép của ông Kết có ghi:“Tổng vốn đầu tư ban đầu 2 người, vốn Bình 401.000.000 đồng, vốn gia đình 387.000.000 đồng...”; căn cứ nội dung “Giấy biên nhận” do chị Hà (vợ anh Bình) viết khi nhận 400.000.000 đồng của vợ chồng ông Kết, có ghi: “Đây là số tiền anh Bình nhận của ba anh Bình từ nhà nghỉ Thanh Bình”...; có đủ cơ sở xác định anh Bình có gửi tiền về để góp vốn mua đất, xây dựng và kinh doanh nhà nghỉ Thanh Bình chung với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn.

Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông Kết thừa nhận có nhận số tiền 454.584.500 đồng do anh Bình gửi về; nhưng trình bày rằng vợ chồng ông chỉ mượn của anh Bình 401 triệu đồng, số còn lại vợ chồng ông chuyển cho những người thân của anh Bình theo yêu cầu của anh Bình. Lời trình bày này phù hợp với nội dung ghi chép ở sổ do ông Kết ghi ngày 31-01-2002: “Tổng vốn đầu tư ban đầu 2 người, vốn Bình 401.000.000 đồng, vốn gia đình 387.000.000 đồng, tổng cộng 788.500.000 đồng...”. Do đó, chỉ có căn cứ để xác định anh Bình góp vốn 401.000.000 đồng; số tiền còn lại, nếu vợ chồng ông Kết không chứng minh được việc chuyển cho những người thân của anh Bình theo yêu cầu của anh Bình, thì phải coi đây là khoản nợ để buộc vợ chồng ông Kết phải thanh toán cho anh Bình mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định số tiền anh Bình góp vốn là 454.584.000 đồng là không đúng.

Cũng theo sổ ghi chép của ông Kết ngày 31-01-2002 thì: “...Giá trị nhà và đất: 1.422.160.000 đ - Vốn đã đầu tư ban đầu của 2 nguồn: 788.500.000 đồng = 633.660.000 đ; Vậy sau khi đã trừ chi phí trong kinh doanh còn thật lãi trong 2 năm là: 633.660.000đ, số tiền lãi này đã trả nợ vào công trình nhà và đất theo tổng giá trị trên là 1.422.160.000đ...” và theo quyết toán thuế với Chi cục thuế tỉnh Quảng Ngãi thì lãi kinh doanh của nhà nghỉ Thanh Bình trong 4 năm (2000-2003) là 280.201.138 đồng. Như vậy, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác minh làm rõ số tiền lãi thu được do kinh doanh nhà nghỉ Thanh Bình ở từng thời kỳ, từ đó mới có căn cứ xác định số tiền lãi thực tế, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định số tiền 400.000.000 đồng mà vợ chồng ông Kết trả cho anh Bình vào năm 2003 (do chị Hà nhận) là trả tiền lãi có được từ việc kinh doanh nhà nghỉ là chưa đủ căn cứ; mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm và  Tòa án cấp phúc thẩm cũng chưa xem xét về công sức của vợ chồng ông Kết, bà Ngôn mua đất, xây dựng và quản lý nhà nghỉ Thanh Bình khi xác định tổng giá trị của nhà nghỉ Thanh Bình, là không đảm bảo quyền lợi của vợ chồng ông Kết.

Theo trình bày của vợ chồng ông Kết thì để có tiền trả cho anh Bình 400.000.000 đồng, vợ chồng ông đã phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà nghỉ Thanh Bình để vay bà Nguyễn Thị Bích Thanh 350.000.000 đồng, vay bà Trần Thị Trinh 100.000.000 đồng; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh làm rõ vấn đề này, nhưng lại xác định đây là khoản nợ riêng của vợ chồng ông Kết là chưa đủ cơ sở; đồng thời việc buộc vợ chồng ông Kết trả bà Thanh, bà Trinh tiền nợ gốc mà không buộc trả tiền lãi là không đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của bà Thanh và bà Trinh.

Do kinh doanh bị thua lỗ, nên ngày 27-12-2003 vợ chồng ông Kết ký hợp đồng cho ông Lê Va thuê nhà nghỉ Thanh Bình để kinh doanh, hợp đồng được Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã Quảng Ngãi xác nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Như vậy, về pháp lý, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm huỷ hợp đồng thuê nhà mà không dành quyền ưu tiên tiếp tục thuê nhà cho người đang thuê và chỉ quyết định ông Lê Va được nhận lại số tiền đã thanh toán cho những tháng chưa thuê; đồng thời không xác định thiệt hại của ông Lê Va do bị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, không giải quyết cho ông Lê Va về số tiền đã bỏ ra cải tạo, sửa chữa nhà nghỉ, là không đúng quy định của pháp luật, không đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

Theo đơn khởi kiện ngày 21-6-2004 của anh Bình thì năm 1989 anh Bình được cử sang Liên Xô học, năm 1994 anh Bình tốt nghiệp và định cư tại Cộng hòa Liên bang Nga cho đến nay; như vậy, anh Bình là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định81/2001/NĐ-CP ngày 05-11-2001 của Chính phủ thì Nhà nước chỉ cho phép một số đối tượng là người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài gồm: “Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; Người có công đóng góp với đất nước; Nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam” được phép “sở hữu một căn nhà để ở (căn hộ, căn nhà, nhà biệt thự)”; trong khi đó, anh Bình góp vốn mua đất, xây dựng nhà nghỉ Thanh Bình để kinh doanh chung với vợ chồng ông Kết, bà Ngôn (chứ không phải để ở). Do vậy, phải xác minh làm rõ tại thời điểm anh Bình gửi tiền về góp vốn với ông Kết, bà Ngôn thì anh Bình đã làm thủ tục hồi hương theo đúng quy định của pháp luật hay chưa, thì mới có cơ sở giải quyết vụ án; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh rõ về vấn đề nêu trên, nhưng lại giao cho anh Bình được sở hữu và sử dụng một phần nhà nghỉ là chưa đủ căn cứ, mà phải giao toàn bộ nhà nghỉ cho vợ chồng ông Kết và buộc vợ chồng ông Kết thanh toán giá trị tài sản cho anh Bình tương ứng với tỷ lệ góp vốn của anh Bình.

Diện tích đất gắn liền nhà nghỉ Thanh Bình là 1.886,6m2, trong đó chỉ có 1.596,6m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất còn lại 289,76 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa hỏi ý kiến Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền về việc sử dụng 289,76m2 đất này; nhưng đã quyết định phân chia cả phần đất này cho các đương sự là không đúng quy định của pháp luật (trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng thì Tòa án cũng chỉ được tạm giao cho các đương sự sử dụng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn có các sai sót về thủ tục tố tụng, như sau:

- Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì ngày 05-7-2003 chị Hà (vợ của anh Bình) có nhận 400.000.000 đồng do vợ chồng ông Kết, bà Ngôn giao; anh Bình thì cho rằng đây là khỏan tiền lãi anh được hưởng từ việc kinh doanh nhà nghỉ Thanh Bình, nhưng vợ chồng ông Kết, bà Ngôn cho rằng đây là khoản tiền vợ chồng ông trả nợ cho anh Bình; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không đưa chị Hà vào tham gia tố tụng là có thiếu sót.

- Bà Nguyễn Thị Bích Thanh và bà Trần Thị Trinh yêu cầu vợ chồng ông Kết, bà Ngôn trả nợ vốn vay cùng lãi suất, đây là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu bà Thanh và bà Trinh nộp tiền tạm ứng án phí, mà cả Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn giải quyết yêu cầu của bà Thanh và bà Trinh, là không đúng pháp luật.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Thanh và ông Lê Va có đơn kháng cáo; Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm thủ tục triệu tập ông Lê Va hợp lệ và triệu tập sai địa chỉ của bà Thanh (bà Thanh trú tại 163 Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi, giấy triệu tập lại gửi về “Khê Thanh, Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi”), nên ông Lê Va và bà Thanh không có mặt tại phiên Tòa phúc thẩm; nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xét xử vụ án vắng mặt là có vi phạm.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 37 ngày 29-6-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 09/2005/DSST ngày 02-8-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giải quyết việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” giữa nguyên đơn là anh Võ Văn Bình với bị đơn là vợ chồng ông Võ Văn Kết, bà Trần Thị Phương Ngôn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Va, bà Nguyễn Thị Bích Thanh, bà Trần Thị Trinh, vợ chồng ông Võ Trọng Thanh (Vũ Trọng Thanh), bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm và bà Võ Thị Liên.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã có nhiều thiếu sót trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ dẫn đến có những quyết định không bảo đảm quyền lợi của các đương sự; ngoài ra còn có những sai sót về thủ tục tố tụng.


219
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!