Quyết định giám đốc thẩm 142/2014/DS-GĐT ngày 28/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 142/2014/DS-GĐT NGÀY 28/03/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 28/3/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử tái thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do có kháng nghị số 26/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 26/3/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 27/DSPT ngày 22/7/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định; giữa các đưong sự:

Nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh Bình (tức Đỗ Văn Bình), sinh năm 1954; trú tại xóm 22, xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Ông Đỗ Văn Tân (Đỗ Xuân Tân), sinh năm 1952; trú tại xóm 22, xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Cõn (tức Đỗ Thị Tích mẹ anh Bình)

2. Bà Hoàng Thị Đậu (vợ ông Tân)

Đều trú tại xóm 22, xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2007 và trong quả trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Đỗ Thanh Bình và bà Đỗ Thị Tích trình bày:

Ông Bình và ông Tân đều là cháu nội của cụ Đỗ Văn Tấn. Bố ông Tân là ông Đỗ Văn Huấn, bố ông Bình là ông Đỗ Văn Tích. Khi cụ Tấn còn sống đã chia đất cho các con là ông Huấn, ông Tích, ông Thảnh từ khi chưa cải cách ruộng đất, còn phần đất gieo mạ và ao sử dụng chung. Khi cải cách ruộng đất cụ Tấn bị quy là địa chủ và diện tích dược mạ bị tịch thu, giao cho một số hộ canh tác. Nhưng do canh tác không có hiệu quả nên một số hộ dân đã không canh tác nữa và trong thời gian (năm 1965) này Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Thọ đã giao cho gia đình bà Tích sử dụng tính bằng 0.9 sào đất phần trăm. Năm 1970 xã Thọ Nghiệp nắn lại đường dong xóm, có lấy đất lắp đường, sau đó gia đình cải tạo lại để làm ao thả cá và trồng cây ăn quả.

Mẹ con bà Tích, ông Bình đã sử dụng từ năm 1965 cho đến năm 2005 thì ông Tân đòi lại diện tích đất nêu trên. Trong suốt quá trình sử dụng đất, nhà nước đã nhiều lần khảo sát, vẽ bản đồ và gia đình cũng đã chuyển tên sử dụng đất từ bà Tích sang cho ông Bình. Lúc đầu chỉ tranh chấp ngõ đi chung của gia đình (Hộ ông Tân, hộ ông Thảnh và hộ bà Tích), Ủy ban nhân dân xã đã giải quyết, gia đình bà Tích chấp nhận để cho ông Tân một phần đất phía Nam thổ đất của gia đình liền kề với thổ đất của gia đình ông Tân. Ông Tân đã xây tường rào sang phần đất đó. Nhưng sau đó ông Tân đã dùng cột bê tông và lưới thép B40 rào quanh diện tích đất của gia đình bà Tích và ông Bình đã được nhà nước giao cho sử dụng 40 năm, chặt phá cây, hút cát lấp ao làm ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình bà tích, ông Bình. Nay bà Tích và ông Bình đề nghị Tòa án buộc ông Tân trả cho gia đình 288m2 đất mà ông Tân đã tự san lấp, những thiệt hại về hoa màu, cá thả dưới ao không đề nghị bồi thường.

Ông Đỗ Xuân Tân trình bày: Diện tích đất mà mẹ con bà Tích sử dụng là đất của cụ Tấn là ông nội của ông đã cho ông là cháu đích tôn. Diện tích đất này đã được ghi ở bản đồ năm 1988 diện tích là 683m2. Ông Tân cho rằng đất đã ghi trong bản đồ là của ông và ông là trưởng tộc nên ông có quyền sử dụng đất. Ông không đồng ý với yêu cầu của ông Bình, bà Tích.

Với nội dung trên,

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2008/DSST ngày 24/4/2008 Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường quyết định:

- Buộc ông Đỗ Văn Tân (Đỗ Xuân Tân) trả cho ông Đỗ Thanh Bình 288m2 đất ghi tại bản đồ số 11 thửa 112, lập năm 2000 của Ủy ban nhân dân xã Thọ Nghiệp.

- Ông Bình được quyền sử dụng họp pháp 335,8m2 ghi tại bản đồ số 11 thửa 112, lập năm 2000 của UBND xã Thọ Nghiệp (có sơ đồ kèm theo).

-  Buộc ông Tân phải tháo dỡ những cột bê tông, lưới thép rào trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng họp pháp của ông Bình (đường rào phía Bắc và phía Tây).

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 08/5/2008 ông Đỗ Văn Tân kháng cáo với nội dung: Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thấm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 27/2008/DSPT ngày 22/7/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2008/DSST ngày 24/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Đỗ Văn Tân có đơn đề nghị xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Công văn số 685/VKS-P5Ngày 17/10/2012 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm số 27/2008/DSPT ngày 22/7/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Tại Quyết định kháng nghị số 26/QĐ KNGĐT-V5 ngày 26/3/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 27/2008/DSPT ngày 22/7/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử tái thẩm hủy bản án phúc thẩm nêu trên và bản án sơ thẩm số 02/2008/DSST ngày 24/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật, với nhận định:

Theo Công văn số 10/CV-UBND ngày 10/10/2012 và Công văn số 11/CV-UBND ngày 24/10/2012 của UBND xã Thọ Nghiệp xác định:

Cụ Đỗ Văn Tấn không bị quy là địa chủ, không bị tịch thu đất. Đất phần trăm của bà Tích (mẹ ông Bình) Hơp tác xã Xuân Thọ xã Thọ Nghiệp không chia vào thửa số 140 tờ bản đồ số 3, diện tích 683m2 lập năm 1988 mang tên ông Tân, tức là không chia vào đất đang tranh chấp mà bà Tích được chia đất phần trăm tại thửa 140 tờ bản đồ số 3, diện tích 138m2 bản đồ năm 1990 thuộc xứ đồng giáp dân cư, liền kề với các hộ đang canh tác, phía Đông giáp hộ ông Tân, phía Tây giáp hộ ông Ngô Bình, phía Nam giáp bờ sông, phía Bắc giáp hộ ông Cận. Diện tích đất này hiện nay hộ bà Tích và ông Bình đang canh tác. Như vậy, cụ Tấn không bị quy là địa chủ nên không bị tịch thu ruộng đất và diện tích đất phần trăm của gia đình bà Tích được chia không nằm trong diện tích đất tranh chấp như Toá án cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định mà được chia tại thửa khác thuộc xứ đồng giáp dân cư.

Do đó, nội dung Công văn số 10/CV-UBND ngày 10/10/2012 và Công văn số 11/CV-UBND ngày 24/10/2012 của UBND xã Thọ Nghiệp nêu trên là tình tiết làm thay đổi cơ bản nội dung giải quyết vụ án và được coi là tình tiết mới để kháng nghị tái thẩm đối với bản án theo quy định tại Điều 304, Điều 304 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị hội đồng xét xử tái thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Trong quá trình giải quyết vụ án cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Đỗ Văn Tấn (là ông nội của ông Tân và ông Bình). Tuy nhiên ông Bình cho rằng trong cải cách ruộng đất cụ Tấn bị quy là địa chủ, diện tích đất đang tranh chấp đã bị nhà nước tịch thu giao cho các hộ canh tác không có hiệu quả nên năm 1965 Họp tác xã đã giao cho gia đình ông 0,9 sào vào đất phần trăm của gia đình ông, gia đình ông đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. Còn ông Tân thì cho rằng diện tích đất tranh chấp là của cụ Tấn. Sau cải cách ruộng đất cụ Tấn không bị quy là địa chủ và không bị tịch thu đất, một số hộ đã gieo mà nhờ khoảng 1-2 vụ sau đó trả lại đất cho cụ Tấn. Khi còn sống cụ tấn đã chia đất cho các con trai, do ông là cháu đích tôn của dòng họ nên cụ Tấn chia cho 683m2 đất ở cạnh ao, ông đã kê khai và đứng tên tại thửa 140, tờ bản đồ số 3 năm 1988.

Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Thọ Nghiệp tại Công văn số 10/CV-UBND ngày 10/10/2012 và Công văn số ll/CV-UBND ngày 24/10/2012 thì cụ Đỗ Văn Tấn không bị quy là địa chủ, nên không bị tịch thu tài sản, ruộng đất. Diện tích đất phần trăm của bà Tích (mẹ ông Bình) Hợp tác xã Xuân Thọ xã Thọ Nghiệp không chia vào thửa đất đang tranh chấp mà đất phần trăm của gia đình bà Tích, ông Bình được chia tại thửa 140, tờ bản đồ số 3, diện tích 138mtờ bản đồ năm 1990 thuộc xứ đồng giáp dân cư, liền kề với các hộ đang canh tác có tứ cân: phía Đông giáp hộ ông Tân, phía Tây giáp hộ ông Ngô Bình, phía Nam giáp bờ sông, phía Bắc giáp hộ ông Cận; diện tích đất nay hiện nay gia đình bà Tích, ông Bình vẫn đang sử dụng.

Như vậy, Ủy ban nhân dân xã Thọ Nghiệp xác định cụ Tấn không bị quy là địa chủ nên không bị tịch thu ruộng đất và diện tích đất phần trăm của gia đình bà Tích được chia không nằm trong diện tích đất tranh chấp.

Do đó, nội dung của Công văn số 10/CV-UBND ngày 10/10/2012 và Công văn số 11/CV-UBND ngày 24/10/2012 của UBND xã Thọ Nghiệp nêu trên là tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án mà Tòa án không biết khi ra bản án. Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử tái thẩm hủy cả bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 1 Điều 305, khoản 1 khoản 3 Điều 307 và khoản 2 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 27/2008/DSPT ngày 22/07/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và bản án dân sự sơ thẩm số 02/2008/DSST ngày 24/04/2008 Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Đỗ Thanh Bình (tức Đỗ Văn Bình) với bị đơn là ông Đỗ Văn Tân (Đỗ Xuân Tân) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Cõn (tức Đỗ Thị Tích), bà Hoàng Thị Đậu.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 142/2014/DS-GĐT ngày 28/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:142/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/03/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về