Quyết định giám đốc thẩm 143/2014/DS-GĐT ngày 28/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 143/2014/DS-GĐT NGÀY 28/03/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 28/3/2014, tại trụ sở Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có Quyết định kháng nghị số 15/2014/KN-DS, ngày 08/01/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2011/DS-PT ngày 22/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ có các đương sự là

Nguyên đơn:

1. Ông Phan Văn Trị sinh năm 1919;

2. Anh Phan Hoàng Sơn sinh năm 1972;

3. Chị Phan Thị Nuôi sinh năm 1938;

4. Chị Phan Thị Tuyết sinh năm 1951;

Cùng trú tại: Ấp Đông Thắng, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; cùng ủy quyền cho anh Phan Văn Minh đại diện (văn bản ngày 29/10/2007)

5. Anh Phan Văn Minh sinh năm 1953;

Trú tại: Ấp Thới Phong A, huyện Thói Lai, thành phố cần Thơ.

Bị đơn:

1. Anh Trần Văn Lẽ sinh năm 1948;

2. Anh Trần Văn Lực sinh năm 1964;

3. Chị Lê Thị Huệ sinh năm 1954;

4. Anh Trần Văn út sinh năm 1964;

5. Chị Trần Thị Tám sinh năm 1947;

6. Chị Bùi Thị Rô (Ngô) sinh năm 1955;

Cùng trú tại: ấp Đông Thắng, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Ngưòi có quyền lợi, nghĩa yụ liên quan:

1. Chị Lâm Thị Phiên;

2. Chị Trịnh Thị Nga;

3. Chị Nguyễn Thị Oanh;

4. Anh Trần Văn Huê;

5. Chị Hứa Thị Thương;

6. Anh Dương Hoàng Liệt;

7. Chị Huỳnh Bạc Lũy;

Cùng trú tại: Ấp Đông Thắng, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 09/4/2007 nguyên đơn là ông Phan Văn Trị và các anh chị: Phan Văn Minh, Phan Văn Sơn, Phan Thị Nuôi, Phan Thị Tuyết trình bày

Ông Phan Văn Trị có 42.980m2 đất. Năm 1991, ông Trị tách quyền sử dụng đất cho các con là chị Phan Thị Nuôi 6.000m2 (thửa số 899B, 691), chị Phan Thị Tuyết 6.000m2 (thửa số 899). Năm 1997, ông Trị tách cho anh Phan Hoàng Sơn 6.500m2(thửa số 1064) và anh Phan Văn Minh 17.680m2 (thửa số 692, 787). ông Trị còn 6.800m2 (thửa số 816).

Trong quá trình sử dụng, anh Trần Văn út, ông Trần Văn Lành (đã cho con là anh Trần Văn Lẽ, anh Trần Văn Oai (đã chết có vợ là chị TrầnThị Huệ), Trần Văn Lực sử dụng đất), bà Bùi Thị Rô (vợ ông Dương Văn Hàm), lấn ranh đất của ông Trị và các con ông Trị:

Anh Út lấn ranh chiều ngang đầu trong 2,5m; chiều ngang đầu ngoài 2m.

Anh Lẽ, anh Lực, bà Huệ lấn ranh đầu trong l,2m.

Bà Rô lấn ranh chiều ngang giáp kênh đầu ngàn 2m, chiều ngang còn laị là 2,5m. Nguyên đơn yêu cầu các gia đình lấn chiếm trả đất (BL 27, 87, 127, 126, 116, 139).

Các bị đơn trình bày như sau:

1. Anh Trần Văn Lực trình bày: Ông Lành tách giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho anh thì phần đất anh đứng tên không liền kề ranh với nguyên đơn. Tuy nhiên, anh thừa nhận các mốc giới được đo đạc ngày 10/6/2010 của Hội đông đo đạc đúng với vị trí đất anh canh tác. Sau khi được bố chia đất, anh Oai chuyến nhượng cho anh Lực một phần đất từ kênh 1500 đến giáp ranh anh Lẽ (nhưng chưa sang tên cho anh Lực) nên hiện nay anh Lực sử dụng một phần đất của anh Oai đứng tên và giáp ranh tranh chấp với anh Minh và ông Trị. Từ khi ông Lành canh tác đất và sau này tách đất cho các con sử dụng, bố con anh không lấn ranh đất của gia đình ông Trị nên anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (BL244)     .

2. Anh Trần Văn Lẽ trình bày: Ông Lành tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh gồm thửa 693 và 695, liền kề đất của anh Minh nhưng anh không lấn đất của anh Minh, anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Minh (BL245)     .

3. Chị Lề Thị Huệ trình bày: Ông Lành cho anh Oai 22.320m2 ruộng gồm thửa 694, 786, 817, 1000 liền kề đất của ông Trị, anh Minh, anh Sơn, chị Nuôi, chị Tuyết. Lúc anh Oai còn sống có chuyển nhượng một phần đất (từ kênh 500 đến giấp đất anh Lẽ) cho anh Lực sử dụng nhưng chưa sang tên, hiện nay anh Lực vẫn đang sử dụng. Từ khi ông Lành sử dụng đến khi tách đất cho vợ chồng chị canh tác không lấn đất của nguyên đơn nên chị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (BL 245).

4. Anh Trần Văn út trình bày: Trong phần đất anh đang canh tác liền kề ranh với các nguyên đơn bao gồm các thửa số: 689, 690, 686B, 900, 686, 685, 788. Năm 1977, bà Lê Thị Năm (mẹ anh) cho anh, anh cùng ông Trị và anh Đại (con rể ông Trị) xác định cắm ranh, đào mương lên bờ trồng mía.

Năm 1998, ông Trị cho rằng ranh đất đầu trên không thẳng nên yêu cầu cắm lại, chính quyền địa phương hòa giải và cắm cột ranh xác định không ai lấn ranh đất của nhau. Hiện tại, phần đất của anh và của gia đình ông Trị có trụ đá, trước đây cắm ranh có sự chứng kiến của ấp (BL 32, 38, 252).

Năm 1991-1992, anh lấn kênh Trâm Bầu nên diện tích đất của anh có tăng thêm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, anh còn nhận chuyển nhượng và đang canh tác một phần đất của chị Trần Thị Tám (hiện bà Tám vẫn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, phần đất của chị Tám không liền ranh với đất của nguyên đơn nên anh yêu cầu tách phần đất chị Tám đứng tên (BL245).

5. Chị Bùi Thị Rô trình bày: Từ khi anh Dương Văn Hàm (chồng chị) còn sống canh tác đến nay, gia đình chị không lấn ranh chiếm đất của ai nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (BL 247).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2007/DS-ST ngày 15/5/2007, Tòa án nhân dân huyện Thói Lai quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trị đối với anh út. Buộc anh út phải trả lại cho ông Trị 1.484,7m2. Bác yêu cầu của ông Trị đối với ông Lành.

Ngày 19/5/2007, anh út kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 290/2007/DS-PT ngày 20/9/2007, TAND TP Cần Thơ đã hủy án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2010/DS-ST ngày 18/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thói Lai quyết định: Buộc anh út phải trả lại đất cho ông Trị và các anh, chị: Sơn, Minh, Nuôi, Tuyết diện tích đất bề ngang phía Kinh Đâu Ngàn là 2m, phía đối diện là 2,5m; chiều dài 783,8m với tổng diện tích là 1.684,8m2. Buộc chị Bùi Thị Rô phải trả cho các hộ ông Trị và các anh, chị: Sơn, Minh, Nuôi, Tuyết diện tích đất bề ngang phía Kinh 1500 là 2,2m, phía đối diện là 2,3m; chiêu dài 239,9 của thửa 788B có diện tích 372,3m2 + 164,3m2 = 536,6m2. Bác yêu cầu của các nguyên đơn về việc đòi đất của anh Lẽ, anh Lực, chị Huệ.

Ngày 29/11/2010, anh út kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do đất của anh sử dụng thực tế nhiều hơn là do anh lấp kênh Trâm Bầu, anh không lấn đất của nguyên đơn (BL 270).

Tại Bản án phúc thẩm số 196/2011/DS-PT ngày 22/11/2011, Tòa án nhân dân TP Cần Thơ quyết định: Giữ nguyên án sơ thấm.

Tại Công văn số 121/ĐĐBQH của Đoàn Đại biểu Quốc hội TP cần Thơ ngày 24/9/2012 kiến nghị TANDTC xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm của anh Út đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 15/KN-DS, ngàỵ 08/01/2013 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2011/DS-PT ngày 22/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố cần Thơ. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thấm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2011/DS-ST ngày 18/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố cần Thơ; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm đại diện VKSND tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ông Phan Văn Trị và các con gồm anh Phan Văn Minh, anh Phan Hoàng Sơn, chị Phan Thị Nuôi, chị Phan Thị Tuyết được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 42.980m2 đất. Anh Trần Văn út được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 32.060m2 đất. Đất của ông Trị và các con ông Trị giáp ranh với đất của anh Út. Anh Minh (đại diện cho ông Trị và các con ông Trị) cho rằng ông út lấn sang đất của gia đình anh chiều ngang kênh đầu ngàn 2m, chiều ngang đầu trong 2m, doc chiều dài đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Minh và anh út trình bày thống nhất năm 1998 hai bên có cắm trụ đá ở hai đầu làm ranh đất. Tại phiên tòa sơ thâm ngàỵ 18/11/2010, anh Minh trình bày anh út lấn ranh ở phần giữa. Tại biên bản thực tế ngày 24/7/2012 (gửi kèm Công văn kiên nghị của Đoàn đại biêu Quôc hội Cân Thơ) có sự tham gia của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố cần Thơ, Ủy ban nhân dân xã Đông Bình, Phòng tài nguyên môi trường huyện Thói Lai, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, Đài truyền hình cần Thơ và ông Trị, anh Ut thê hiện: Trên bờ ranh khoảng 300m (giáp giữa hai hộ) có 3 trụ đá được căm làm ranh (đã căm rât lâu). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không xem xét thực trạng ranh đất, các trụ đá được cắm từ bao giờ và cắm ranh có còn nguyên vị trí không để làm rõ có việc anh út lấn ranh đất của gia đình anh Minh hay không nhưng đã xác định anh út lấn ranh chiều ngang đầu ngoài 2m, chiều ngang đầu trong 2,5m, dọc chiều dài thửa đất là chưa đủ cơ sở.

Ngoài ra, Anh út cho rằng diện tích đất anh đang sử dụng lớn hơn diện tích anh được cấp giấy chứng nhận là do anh lấp kinh Trâm Bầu khoảng 5000m2 (nộp kèm “Đơn xin lấp kênh Trâm Bầu ngàỵ 20/3/1991” và “Biên bản làm việc ngày 07/9/2011 tại Ban nhân dân ấp Đông Thắng”) thể hiện anh út có mượn Kinh Trâm Bầu (5000m2) từ năm 1991. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không thu thập chứng cứ để làm rõ việc lấp kinh thủy lợi của anh út, cũng như chưa thu thập hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên để xác định anh út có lấn chiếm đất của gia đình anh Minh là chưa thu thập đầy đủ chứng cứ.

Từ những phân tích trên, xét kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ chấp nhận.

Căn cứ Khoản 2 Điều 291; Khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2011/DS-PT ngày 22/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố cần Thơ và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2011/DS-ST ngày 18/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố cần Thơ về vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn nguyên đơn là ông Phan Văn Trị và anh Phan Văn Minh, anh Phan Hoàng Sơn, chị Phan Thị Nuôi, chị Phan Thị Tuyết với bị đơn là anh Trần Văn Lẽ, anh Trần Văn Lực, chị Lê Thị Huệ, anh Trần Văn út, chị Trần Thị Tám, chị Bùi Thị Rô (Ngô); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lâm Thị Phiên, chị Trịnh Thị Nga, chị Nguyễn Thị Oanh, chị Tràn Văn Huê, chị Hứa Thị Thương, anh Dương Hoàng Liệt, anh Huỳnh Bạc Lũy.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 143/2014/DS-GĐT ngày 28/03/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:143/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/03/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về