Quyết định giám đốc thẩm 19/2012/DS-GĐT ngày 19/04/2012 về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Trần Văn Đức và bị đơn ông Trần Văn Sửu

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 19/2012/DS-GĐT NGÀY 19/04/2012 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA NGUYÊN ĐƠN ÔNG TRẦN VĂN ĐỨC VÀ BỊ ĐƠN ÔNG TRẦN VĂN SỬU 

Ngày 19 tháng 4 năm 2012 tại trụ sở TANDTC đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đức sinh năm 1930; trú tại số 752 Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Trầm Văn Sửu sinh năm 1937; trú tại ấp chợ, xã Long Hiệp, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh ( Ông Sửu ủy quyền cho con là chị Trầm Hồng Đào sinh năm 1970; trú tại số 752A Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đại diện).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan.

1. Chị Trầm Hồng Đào sinh năm 1970.

2. Anh Nguyễn Hoàng Vũ sinh năm 1966.

Chị Đào và anh Vũ cùng trú tại số 752A Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện 17-01-2005 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Trần Văn Đức trình bày:

Nguồn gốc diện tích 156,9m2 đất tại thửa số 186 tại số 752A Phan Đình Phùng, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh là ông mua của bà Mạch Hiếu Nhi từ năm 1971, đồng thời ông Đức xuất trình “ Tờ chiết bán đứt đất thổ cư” thể hiện chiều ngang 5m, chiều dài 27-28m ( diện tích 134,5m2) tại thửa lô số 546. Năm 1983 ông kê khai thửa 735, diện tích 480 m2 đất thổ quả. Năm 1991 ông kê khai thành hai thửa: thửa 592 diện tích 165m2; thửa 593 diện tích 269m2. Năm 1997 ông Sửu là bạn của ông ở xã Long Hiệp, huyện Trà Cú lên hỏi ông mượn một phần đất trống liền kề nhà ông để cất nhà lá tạm cho cháu của ông Sửu ở nhờ để đi học. Sau khi cháu ông Sửu mãn khóa học, ông có đòi lại đất nhưng ông Sửu không trả mà còn đưa con gái của ông Sửu là chị Trầm Hồng Đào đến ở. Sau đó, chị Đào kê khai đăng ký thành thửa 186 số 752A Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, diện tích là 156,9m2 đất. Nay ông yêu cầu ông Sửu và chị Đào trả lại cho ông diện tích 156,9m2 đất tại thửa số 186 tại số 752A Phan Đình Phùng nêu trên.

Bị đơn ông Trần Văn Sửu trình bày:

Diện tích đất tranh chấp trên là ông mua của ông Mạch Phước Toàn ( em bà Mạnh Hiếu Nhi) vào năm 1965 có làm giấy tay nhưng năm Mậu Thân nhà ông bị cháy, giấy tờ không còn. Sau khi mua ông không sử dụng mà gửi lại cho ông Đức. Đến năm 1996 ông mới cất nhà cho cháu của ông ở để đi học. Khi cháu ông học xong thì con gái của ông là chị Đào quản lý, sử dụng. Năm 1998 -1999 ông đứng tên đăng ký thửa 186 diện tích 156,9m2, đồng thời ông đồng ý để vợ chồng chị Đào, anh Vũ xây nhà ở ổn định nên ông không chấp nhận yêu cầu của ông Đức.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan là chị Trầm Hồng Đào trình bày:

Chị không đồng ý trả đất cho ông Đức vì cho rằng đất của cha chị là ông Sửu mua.

Anh Nguyễn Hoàng Vũ ( chồng của chị Đào) đồng ý với lời trình bày của chị Đào với lý do đất tranh chấp cha vợ của anh là ông Sửu đã kê khai đăng ký. Đồng thời anh Vũ khai là khi ông Sửu kê khai thì ông Đức là người ký tên xác nhận ranh giới kế cận nên ông Đức đòi đất là không hợp lý. Trong quá trình sử dụng anh có mua 232m2 đất để san lấp mặt bằng, nếu buộc gia đình anh trả đất cho ông Đức thì yêu cầu đảm bảo lợi ích của anh đối với diện tích đất anh đã san lấp.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2006/DSST ngày 05-6-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đức.

- Buộc ông Sửu, chị Đào, anh Vũ phải dỡ nhà trả lại diện tích đất tại thửa 186 diện tích 156,9m2 cho ông Đức.

- Ông Đức phải thanh toán cho anh Vũ 4.640.000đ ( tiền mua 232m3 để san lấp mặt bằng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13 -6-2006 ông Trầm Văn Sửu có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 390/2006/DSPT ngày 19-9-2006 Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP HCM quyết định:

- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 390/2006/DSST ngày 05-6-2006 của TAND tỉnh Trà Vinh;

- Giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2007/DSST ngày 03-5-2007, TAND tỉnh Trà Vinh quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đức.

- Buộc ông Trần Văn Sửu, chị Trầm Hồng Đào, anh Nguyễn Hoàng Vũ phải tháo dỡ nhà số 752A Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, trả toàn bộ thửa đất số 186 diện tích 156,9m2 tọa lạc tại đường Phan Đình Phùng, khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh cho ông Trần Văn Đức.

- Hộ ông Đức có nghĩa vụ đến cơ quan chức năng kê khai quyền sử dụng đất.

- Buộc ông Đức phải thanh toán cho anh Vũ 5.200.000đ tiền giá trị 200m3 đất để đổ mặt bằng.

Cho chị Đào và anh Vũ được quyền lưu cư trong hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11-5-2007 chị Trầm Hồng Đào có đơn kháng cáo yêu cầu xem lại bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 297/2007/DSPT ngày 17-9-2007, Tòa Phúc thẩm TANDTC tại thành phố HCM quyết định: chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn Sửu, chị Trầm Hồng Đào; sửa án sơ thẩm như sau:

- Bác đơn yêu cầu khởi kiện đòi lại đất giữa ông Trần Văn Đức đối với ông Trầm Văn Sửu tại thửa 186, diện tích đất 167,9m2 tại khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm ngày 24-12-2007 và ngày 11-4-2008 ông Trần Văn Đức có đơn khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên cho rằng ông Sửu khai mua đất của bà Mạch Hiếu Nhi ( do ông Mạch Phước Toàn đứng ra bán giúp), trong khi đó bà Nhi là chủ đất tại thời điểm đó vẫn còn sống nhưng Tòa án lại chấp nhận là không đúng. Ngoài ra, hai người làm chứng cho ông Sửu là bà Hà và ông Thọ đều là bà con với ông Sửu, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại chấp nhận yêu cầu của ông Sửu là không khách quan, gây thiệt hại đến quyền lợi của ông.

Tại Quyết định số 733/2010/KN-DS ngày 14-9-2010, Chánh án TANDTC kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 297/2007/DSPT ngày 17-9-2007 của Tòa phúc thẩm TANDTC xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nên trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2007/DSST ngày 03/5/2007 của TAND tỉnh Trà Vinh; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị HĐTP TANDTC chấp nhận kháng nghị của Chánh án TANDTC.

XÉT THẤY

Kháng nghị của Chánh án TANDTC là có căn cứ với các lý do:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì diện tích 156,9m2 đất tại khóm 3, phường 7, thị xã Trà Vinh đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà Mạch Hiếu Nhi. Theo ông Trần Văn Đức thì năm 1971 bà Nhi đã bán cho ông phần đất này, đồng thời ông Đức xuất trình “ Tờ chiết bán đất thổ cư” ngày 24-9-1971 ( bản phô tô) có nội dung: bà Nhi chiết ra phần đất có chiều rộng 5m, chiều dài 1 cạnh 27m va chiều dài một cạnh là 28m ( một phần thửa đất số 546 ie, tờ họa đồ số 12) bán cho ông Trần Văn Đức, “ Tờ chiết bán đất thổ cư” này có chữ ký đề tên bà Nhi, ông Đức và chữ ký của đại diện chính quyền chế độ cũ.

Còn ông Trầm Văn Sửu xác định là năm 1965 ông Mạch Phước Toàn ( em ruột của bà Nhi) đại diện cho bà Nhi viết giấy tay bán cho ông phần đất nêu trên ( nay các con của ông đang sử dụng đất này). Hiện nay ông Mạch Phước Toàn đã chết, giấy tờ mua bán đất không còn ( do nhà của ông bị cháy trong chiến tranh), nhưng có nhiều người biết việc mua bán đất này. Ông Sửu xuất trình “ Giấy xác nhận” ngày 22-6-2006 đề tên ông Từ Văn Thọ và “ Giấy xác nhận” ngày 22-8-2006 đề tên bà Đỗ Thị Hà ( vợ của ông Toàn) có nội dung : ông Toàn đại diện cho bà Nhi đứng ra bán cho ông Sửu phần đất nêu trên ( trong Giấy xác nhận đề tên ông Thọ còn ghi: “ Lúc đó ông Sửu có nhờ tôi đứng ra làm chứng và ký vào giấy mua bán viết tay”).

Theo “ Tờ chiết bán đất thổ cư” ngày 24-9-1971, thì diện tích đất ông Đức mua của bà Nhi chiều ngang 5m, chiều dài 27-28m ( diện tích 134,5m2). Năm 1983 ông Đức đăng ký kê khai thửa 735 diện tích 480 m2 đất thổ quả; năm 1991 ông kê khai thành hai thửa: thửa 592 diện tích 165m2; thửa 593 diện tích 269m2.

Trong quá trình giải quyết vụ án TA cấp sơ thẩm và TA cấp phúc thẩm chưa làm rõ thực tế diện tích đất ông Đức mua của bà Nhi nêu trên với thửa đất số 186 có diện tích 156,9m2 đang tranh chấp với ông Sửu có phải là mọt hay không? Lý do diện tích đất của ông Đức tăng so với diện tích đất ông Đức mua của bà Nhi theo “ Tờ chiết bán đất thổ cư”. Tại sao năm 1997 ông Sửu kê khai thửa đất số 186, diện tích 156,9m2 ông Đức không phản đối mà ông Đức còn ký tên với tư cách là chủ thửa đất liền kề trong biên bản xác định ranh giới sử dụng đất đô thị.

Ngoài ra, cần làm rõ bà Mạch Hiếu Nhi còn sống hay đã chết và nếu còn sống thì phải hỏi ý kiến của bà Nhi về việc mua bán đất nêu trên, nếu ó mua thì vị trí thửa đất này có phải là diện tích thửa đất đang tranh chấp hay không?

Các vấn đề nêu trên chưa được xác minh làm rõ nhưng TA cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đức để buộc ông Trầm Văn Sửu, chị Trầm Hồng Đào và anh Nguyễn Hoàng Vũ phải tháo dỡ nhà số 752A đường Phan Đình Phùng để trả lại đất cho ông Trần Văn Đức; còn TA cấp phúc thẩm lại bác đơn khởi kiện của ông Trần Văn Đức đều chưa đủ căn cứ.

Về người làm chứng là bà Đỗ Thị Hà và ông Từ Văn Thọ hiện đang định cư tại Mỹ và các giấy xác nhận đứng tên họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định cảu pháp luật nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại chấp nhận để xem xét là không đúng quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điểu 297 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29-3-2011 của Quốc Hội).

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 297/2007/DSPT ngày 17/09/2007 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại thành phố HCM và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2007/DSST ngày 03/05/2007 của TAND tỉnh Trà Vinh về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Trần Văn Đức với bị đơn là ông Trầm Văn Sửu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trầm Hồng Đào, anh Nguyễn Hoàng Vũ.

2. Giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 19/2012/DS-GĐT ngày 19/04/2012 về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Trần Văn Đức và bị đơn ông Trần Văn Sửu

Số hiệu:19/2012/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/04/2012
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về