Quyết định giám đốc thẩm 216/2014/DS-GĐT ngày 05/06/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 216/2014/DS-GĐT NGÀY 05/06/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Họp phiên tòa ngày 05/6/2014, tại trụ sở Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất’ do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị; tại Quyết đinh số 82/2013/KN-DS ngày 26/7/2013 đối với bản án dân sự phúc thẩm số 243/2012/DSPT ngày 17/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thi Hợi, sinh năm 1947 (do bà Hoàng Thị Sửu, sinh năm 1950, trú tại thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đại diện).

Bị đơn: Ông Hoàng Tiến Chỉ, sinh năm 1961; trú tại thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Hiên, sinh năm 1963;

2. Anh Hoàng Tiến Cương, sinh năm 1986;

3. Anh Hoàng Tiến Lương, sinh năm 1993;

4. Chị Hoàng Thị Kim, sinh năm 1983;

5. Anh Nguyễn Văn Oanh, sinh năm 1981;

6. Bà Hoàng Thị Đãng, sinh năm 1932;

7. Bà Hoàng Thị Sửu, sinh năm 1950;

8. Ông Hoàng Tiến Khoái, sinh năm 1952;

9. Bà Hoàng Thị Hỡi, sinh năm 1957;

10. Bà Hoàng Thị Hời, sinh năm 1957;

11. Ông Lý Đàm Vinh, sinh năm 1935;

12. Ông Lý Đàm Loan, sinh năm 1954;

13.  Bà Lý Thị Phượng, sinh năm 1959;

14. Bà Lý Thị Thinh, sinh năm 1961;

15. Ông Lý Đàm Viễn, sinh năm 1966;

16. Ông Lý Đàm Vĩnh, sinh năm 1969;

17. Chị Lý Thị Dịu, sinh năm 1980;

18. Chị Lý Thị Phương, sinh năm 1982;

19. Chị Lý Thị Dung, sinh năm 1984;

20. Anh Lý Đàm Duy, sinh năm 1991;

21. Bà Lý Thị Nhàn, sinh năm 1964;

22. Chị Lý Thị Yên, sinh năm 1972;

23. Chị Lý Thị Luyên, sinh năm 1979;

24. Chị Lý Thị Chuyên, sinh năm 1975;

Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trú tại thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

25. Uỷ ban nhân dân xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. (do ông Trịnh Văn Hoà, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Đức Giang là người đại diện theo pháp lụât).

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 10/9/2011 nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hợi trình bày:

Theo tiêu chuẩn cấp đất của địa phương thì mỗi khẩu làm nông nghiệp được địa phương giao 13 thước đất lúa (9 thước cấp theo tiêu chuấn, 2 thước cấp theo diện khoán ngoài thuộc xứ Đồng Trôi) và 02 thước đất 10% (đất rau) (trước năm 1986 mỗi khẩu chỉ được giao 1,7 thước đất 10%, sau năm 1986 chia thêm mỗi người 0,3 thước là 2 thước đất 10%).

Do bà là đối tượng độc thân, tàn tật không chồng, con, chung hộ khẩu với gia đĩnh: gồm cha mẹ bà là cụ Đệ và em trai là ông Chỉ nên địa phương không cấp thêm 02 thước đất khoán ngoài ở xứ Đồng Trôi mà chỉ chia cho bà 1,7 thước đất % và 9 thước đất lúa. Tiêu chuẩn đất lúa của bà được giao chung cùng hộ gia đình ông Chỉ, đến nay gia đình ông Chỉ vẫn làm phần ruộng của bà.

Năm 1982 bà làm 01 lán bán hàng nước tại dệ ao làng thôn Lũng Kênh để bán nước và bà ra ở quán bán nước này từ năm 1982 đến nay. Sau đó bà có đề nghị Hợp tác xã đổi tiêu chuẩn 1,7 thước đất phần trăm của bà ra chỗ quán bán nước của bà để tiện cho việc bà bán hàng và phù họp với sức khoẻ của bà. Năm 1990 bà được ủy ban nhân dân xã Đức Giang ưu tiên chấp nhận đổi tiêu chuẩn đất % của bà ra khu Ao Làng (nơi bà đang có quán bán hàng nước), Họp tác xã Lũng Kênh đã trực tiếp đo đất đổi cho bà. Khi đổi 1,7 thước đất % được quy đổi đổi gấp 2 thành 3,4 thước đất ở vị trí Ao Làng = 81,6m2 đất. Sau khi đổi đất, bà đã làm 01 móng nhà khoảng 15m2. Năm 1996 bà phá lán bán hàng nước cũ đi làm 01 nhà cấp 4, xây tường 10, lợp ngói, trần gỗ trên diện tích móng 15m2 xây trước đây.

Năm 2005 Nhà nước đo đạc lại để chuẩn bị làm công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích bà đang quản lý, sử dụng thực tế chỉ là 80m2.

Năm 2006 bà đã kê khai theo Chỉ thị 299 (Tại sổ mục kê đất xã Đức Giang lập ngày 07/4/2006 (kê khai theo chỉ thị 299), diện tích đất bà được cấp đổi tại vị trí Ao Làng thôn Lũng Kênh thuộc thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07 đo đạc năm 2005, diện tích 80m2 đứng tên chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị Hợi. Do bà không có chồng, con, ông nên ông Chỉ muốn cho 2 con trai là anh Hoàng Tiến Cương và anh Hoàng Tiến Lượng ra ở cùng bà để kinh doanh bán hàng, bà đồng ý để 2 cháu (con ông Chỉ) đến ở cùng với bà. Bà đã dùng tiền tiết kiệm được cùng sự hỗ trợ của anh chị em trong gia đình xây tiếp 1 gian nhà cấp 4 mái ngói tràn gỗ trên nền móng 20m2 bà làm trước đây cho 2 anh Cương, Lượng ở và đồng ý cho gia đình ông Chỉ làm mái tôn phía trước để bán hàng và rửa xe, làm thêm phần gác xép.

Tháng 10/2008 ông có mua thêm 45m2 đất đầu thừa đuôi thẹo của HTX liền sau thửa đất bà đang ở. Sau đó ông Chỉ đã kê khai luôn cả diện tích đất của bà, nhưng bà không biết. Năm 2011 hai vợ chồng ông Chỉ mới ra ở cùng để trông nom bán hàng cùng các con của ông Chỉ.

Theo thông báo số 18/TB-UBND ngày 19/10/2011 ủy ban nhân dân xã xác nhận bà được quyền sử dụng diện tích 80m2 thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07. Ngày 11/11/2011 UBND xã Đức Giang cấp cho bà “Trích lục bản đồ địa chính” thể hiện thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07 diện tích 80m2 đứng tên chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị Hợi. Nay bà khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Tiến Chỉ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại cho bà quyền sử dụng diện tích đất 80m2 tại thửa số 315, tờ bản đồ số 07, thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và tài sản trên đất.

Bị đơn ông Hoàng Tiến Chỉ trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Hợi vì nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp không phải của riêng cá nhân bà Hợi mà là của cả hộ gia đình ông, trong đó có tiêu chuẩn của bà Hợi; việc cấp đổi đất 10% năm 1990 là cấp cho cả hộ gia đình ông gồm: cụ Cao Thị Đệ, bà Hoàng Thị Hợi, ông Hoàng Tiến Chỉ, bà Lê Thị Hiên (vợ ông Chỉ), chị Hoàng Thị Kim, anh Hoàng Tiến Cưomg, (là con ông Chỉ).

Thời điểm giao đất nông nghiệp năm 1987, hộ ông gồm 06 người có tên trên, mỗi người được giao 13 thước như bà Hợi trình bày ở trên, nay tiêu chuẩn đất nông nghiệp của bà Hợi vẫn nằm chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời cấp năm 1996 cho hộ gia đình ông.

Ngoài ra, trước năm 1990 gia đình ông được giao 228m2 đất 10% tại Cửa Chiền trong đó có cả tiêu chuẩn của bà Hợi. Năm 1990 gia đình ông đổi 96m2 về khu cổng Làng (Ao Làng, chính là thửa đất đang có tranh chấp), phần diện tích đất nông nghiệp tại Cửa Chiền chỉ còn 192m2 (ông Chỉ đã đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp tạm thói năm 1996).

Diện tích đất đang tranh chấp với bà Hợi thực tế là 96m2 chứ không phải là 80m2.

Năm 2006 các con của ông có ra ở trên thửa đất đang tranh chấp cùng với bà Hoàng Thị Hợi và phát triển được 02 gian nhà cấp 4 (trong đó có 01 gian nhỏ và 01 gian to), 01 lán vảy... có công sức đóng góp của bà Hợi và vợ con ông.

Năm 2008 gia đình ông có mua thêm 45m2 đất liền sau thửa đất đang tranh chấp, mua của thôn Lũng Kênh và xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, với giá 60.000.000đ. Chính quyền thôn Lũng Kênh đã lập một “Biên bản giải quyết đất đầu thừa đuôi thẹo” trong đó có chữ ký của trưởng thôn và các thành phần của tổ chức xã hội của thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang. Phần diện tích đất này hiện nay vẫn là đất ao, mặt nước gia đình ông chưa sử dụng, chưa xây dựng gì trên phàn diện tích 45m2 đó. Do vậy, tổng diện tích hiện nay gia đình ông được sử dụng là 141m2. Ngày 02/10/2008 UBND xã Đức Giang cấp cho ông “Trích lục bản đồ địa chính” thể hiện thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07 diện tích 14 lm2 đứng tên ông chủ sử dụng đất (Hoàng Tiến Chỉ). Nay bà Hợi khởi kiện yêu cầu ông trả lại diện tích đất 8 Om2 và tài sản trên đất do gia đình ông đang quản lý, ông không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: vợ và con của ông Chỉ nhất trí với lời khai của ông Hoàng Tiến Chỉ và không bổ sung yêu cầu gì.

Các ông bà, Hoàng Tiền Khoái, bà Hoàng Thị Đãng, bà Hoàng Thị Hỡi, bà Hoàng Thị Hời, bà Hoàng Thị Sửu (là anh, chị, em của ông Chỉ, bà Hợi) trĩnh bày: Bố mẹ các ông bà là cụ Cao Thị Đệ (chết nắm 2005), Hoàng Tiến Du (chết năm 1987); sinh thời các cụ sinh được 8 người con là: ông Khoái, bà Hợi, bà Hỡi, bà Hời, ông Đãng, bà Sửu, ông Chỉ và ông Đỗng; trong đó có bà Hợi là người bị tàn tật từ nhỏ, không chồng, con nên ở cùng các cụ trên diện tích nhà đất của các cụ mà hiện gia đình ông Chỉ đang ở trong thôn Lũng Kênh. Bà Hợi ở cùng cụ Đệ và gia đình ông Chỉ, đến năm 1983 -1984 thì bà Hợi làm 1 quán bán hàng tranh tre tại dệ ao cổng Làng để ở và bán hàng nước.

Tiêu chuẩn đất nông nghiệp của cụ Đệ và bà Hợi trước đây do chung mã hộ (chung hộ khẩu nhà ông Chỉ) nên HTX cấp chung theo tiêu chuẩn nhà ông Chỉ. Do bà Hợi không làm nông nghiệp được nên tiêu chuẩn đất nông nghiệp của bà Hợi để cho gia đình ông Chỉ sản xuất, ủy ban nhân dân xã Đức Giang đổi cho bà Hợi tiêu chuẩn đất 10% ra khu Ao Làng để làm nơi sinhsống nuôi bản thân. Ông Chỉ và vợ con ông Chỉ cũng có tiêu chuẩn đất trồng lúa và đất 10% riêng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hoàng Tiến Chỉ, không liên quan gì đến tiêu chuẩn của bà Hoàng Thị Hợi.

Hai ngôi nhà cấp 4 trên diện tích đất đang tranh chấp do bà Hợi bỏ tiền ra và anh chị em giúp đỡ thêm làm toàn bộ vào năm 2006, sau đó thì 2 con trai ông Chỉ ra ở nhờ trên nhà đất của bà Hợi để bán hàng cà phê, rửa xe, gần đây vợ chồng ông Chỉ mới qua lại trông nom quán và bán hàng cùng các con; ông Chỉ đã kê khai luôn cả phần diện tích đất của bà Hợi. Anh chị em trong nhà đã họp hoà giải và yêu cầu ông Chỉ trả nhà cho bà Hợi nhưng không được vi ông Chỉ tuyên bố không phải nhà đất của bà Hợi. Nay bà Hợi kiện đòi nhà đất đối với gia đình ông Chỉ thì đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của bà Hợi để bà nhận lại nhà đất của mình, không phải đi ở nhờ nữa.

Đại diện ủy ban nhân dân xã Đức Giang, huyện Hoài Đức có ý kiến: Diện tích đất tranh chấp là tiêu chuẩn đất % của bà Hợi được xã ưu tiêu đổi riêng cho bà Hợi chứ không phải cấp đổi cho cả hộ gia đình ông Chỉ theo mã hộ. Gia đình ông Chỉ từ năm 1987 mới được chia đất 10% ở khu vực Cửa Chiền theo tiêu chuẩn 4 người gồm ông Chỉ và vợ, cùng 2 con ông Chỉ. Vì vậy, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp tạm thời cho ông Chỉ chỉ còn tiêu chuẩn đất nông nghiệp cấy lúa của bà Hợi là 09 thước chứ không có tiêu chuẩn đất phần trăm của bà Hợi.

Trong sổ sách quản lý đất của ủy ban nhân dân xã Đức Giang từ năm 1986 thi diện tích diện tích là 80m2 (số đo thực tế sử dụng là 96m2 là có sự lấn chiếm ra đất ao do xã quản lý, thuộc đất chuyên dùng của xã), ủy ban nhân dân xã đã cấp trích lục bản đồ địa chính cho bà Hợi vào năm 2011 ghi thửa 135 tờ bản đồ số 7 thôn Lũng Kênh diện tích 80m2, chủ sử dụng là bà Hợi là đúng với sổ sách lưu của xã; còn việc cấp trích lục bản đồ địa chính cho ông Chỉ năm 2008 cũng ghi thửa 135, diện tích 141m2 là do ông Chỉ tự kê khai, chứ không căn cứ vào sổ sách lưu của xã.

Các ông Lê Văn Vực, ông Nguyễn Xuân Quán, ông Nguyễn Tiến Khánh thống nhất trĩnh bày: Phần diện tích đất ao 45m2 liền kề đắng sau thửa đất đang tranh chấp do ông Chỉ khai mua của thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang thì các ông khẳng định không có. Tại thời điểm tháng 10/2008 thì thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang có chủ trương vận động những hộ đang ở trên phàn đất liền kề với khu đất Ao làng tự nguyện hỗ trợ một khoản tiền là 5 triệu đồng để tu sửa đình, chùa của thôn Lũng Kênh chứ thôn không bán, không đổi trác gì cho hộ ông Chỉ. Phần diện tích đất ao còn lại liền với phần diện tích đất đang tranh chấp giữa bà Hoàng Thị Hợi và ông Hoàng Tiến Chỉ thì vẫn đang do UBND xã Đức Giang quản lý, thôn Lũng Kênh chịu trách nhiệm báo cáo về sự biến cố của đất với UBND xã Đức Giang chứ thôn Lũng Kênh không có quyền gì. Nay bà Hợi có đơn kiện đòi tài sản là nhà đất với gia đình ông Chỉ, ủy ban nhân dân xã đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của bà Hợi. Phần diện tích lấn chiếm 16m2, UBND xã nhất trí tạm giao cho bà Hợi quản lý.

Với nội dung trên,

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 08/2012/DSST ngày 17/8/2012 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Hợi.

- Buộc ông Hoàng Tiến Chỉ, bà Lê Thị Hiên, chị Hoàng Thị Kim, anh Hoàng Tiến Cương và anh Hoàng Tiến Lượng trả lại cho bà Hoàng Thị Hợi quyền sử dụng diện tích đất 80m2 tại thửa số 315 tờ bản đồ số 07 tại thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Giao cho bà Hoàng Thị Hợi được quyền sở hữu toàn bộ các tài sản trên thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07 xã Đức Giang năm 1986 gồm: 01 gian nhà cấp 4 có diện tích 19,15m2 + lán vảy + 01 gian nhà cấp 4 có diện tích 23,85m2, 01 bếp và 01 bể trên bếp, 01 nhà vệ sinh (gồm cả lối đi vào) 01 gác xép trong nhà bằng gỗ, 01 lán ngoài có hai tầng lợp tôn, 01 mái vảy, 01 cửa sắt, 01 giếng khoan, 01 nền gạch (của lán ngoài nhà).

- Bà Hoàng Thị Hợi có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản phát triển trên đất cho ông Hoàng Tiến Chỉ, bà Lê Thị Hiên, chị Hoàng Thị Kim, anh Hoàng Tiến Cương và anh Hoàng Tiến Lượng (do ông Hoàng Tiến Chỉ là người đại diện nhận) số tiền là 134.276.833đ.

- Tạm giao cho bà Hoàng Thị Hợi được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 16m2 (diện tích đất thừa do với diện tích đất được cấp) đến khi có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thấm quyền.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/9/2012 ông Chỉ có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 243/2012/DSST ngày 17/12/2012 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2012/DSST ngày 27/08/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí và trách nhiệm thi hành bản án của các đương sự.

Sau khi xét xử phúc thẩm ông Hoàng Tiến Chỉ có đơn yêu cầu xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm số 243/2012/DSPT ngày 17/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo thủ tục giám đốc thẩm Tại Quyết định số 82/QĐKNĐT-V5 ngày 26/7/2013 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 243/2012/DSPT ngày 17/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 08/2012/DSST ngày 27/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật; với nhận định:

- Theo lời khai của các nhân chứng là ông Lê Thiên Thực nguyên Trưởng thôn Lũng Kênh và ông Lê Thiên Quý nguyên Đội trưởng Đội sản xuất số 8 thời kỳ 1980 đến 1991 là những người trực tiếp thực hiện việc cấp đổi đất % cho hộ ông Hoàng Tiến Chỉ đã cho biết: “Việc ông Chỉ khai diện tích đất tranh chấp là do hộ ông Chỉ được HTX nông nghiệp thôn Lũng Kênh đổi Cửa Chiền về Ao Làng là đúng. Diện tích đổi là 96m2, cắt tại khu CửaChiền là 96m2 tương đương với 4 thước, cắt chung cả hộ mà không tách riêng tiêu chuẩn nào. Khi giao đất thì căn cứ vào mã hộ mà giao chung cho cả hộ, không giao riêng cho từng người..

- Ông Cao Ngọc Phú, nguyên chủ nhiệm HTX nông nghiệp thôn Lũng Kênh thời kỳ 1991-1993 xác nhận: Ban quản lý HTX trực tiếp ra đo và giao 96m2 cho gia đình ông Chỉ, bà Hợi sử dụng...đất đổi là đất % nhưng không ghi rõ là của riêng bà Hợi hay của ai vì ông Chỉ, bà Hợi là một mã hộ.

- Tại sổ theo dõi việc thu nộp các khoản nghĩa vụ với Nhà nước do HTX nông nghiệp thôn Lũng Kênh trực tiếp thực hiện của hộ ông Chỉ thể hiện tổng diện tích đất của hộ ông Chỉ phải thu nộp nghĩa vụ về quyền sử dụng đất là 1561m2,trong đó bao gồm cả diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời cấp cho hộ ông Chỉ năm 1996 và diện tích là 80m2, nhưng chỉ có chữ ký của đại diện UBND xã và cán bộ địa chính xã.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm dựa trên cơ sở do UBND xã Đức Giang và Ban quản trị HTX nông nghiệp thôn Lũng Kênh xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp là 80m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Hợi, trên cơ sở đó chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hợi buộc ông Hoàng Tiến Chỉ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vợ và các con ông Chỉ phải trả lại cho bà Hợi quyền sử dụng của toàn bộ diện tích đất và tạm giao diện tích thừa là 16m2 cho bà Hợi được quyền quản lý, sử dụng là chưa xem xét đầy đủ các tài liệu, tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Chỉ.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng, đề nghị hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng bà Hoàng Thị Hợi và ông Hoàng Tiến Chỉ là hai chị em ruột. Bà Hợi là người tàn tật từ nhỏ, không có chồng, con; bà Hợi ở chung với cha mẹ và em trai là ông Hoàng Tiến Chỉ. Năm 1982 bà Hợi làm một lán bán hàng nước tại dệ ao làng thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và bà ở luôn tại quán bán nước.

Để tiện cho việc sinh hoạt hàng ngày và phù hợp với sức khoẻ, bà Hợi đã đề nghị Họp tác xã đổi tiêu chuẩn đất phần trăm của bà được cấp từ trước năm 1987 ra vị trí ao làng nơi bà đang bán nước. Năm 1990, ủy ban nhân dân xã Đức Giang ưu tiên chấp nhận yêu cầu xin đổi đất của bà Hợi ra khu vực ao làng (nơi bà đang ở và bán quán nước). Diện tích đất bà Hợi được đổi là tiêu chuẩn 1,7 thước đất % cũ của bà thành 3,4 thước đất ao (vì đổi từ đất % ra vị trí đất ao nên được gấp 2 lần) = 81,6m2, nhưng đo thực tế đất bà Hợi đang sử dụng là 80m2. Khi nhà nước có dự định mở rộng đường giao thông thì bà Hợi là người đứng ra làm thủ tục kê khai với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xác định bà Hoàng Thị Hợi là chủ sử dụng thửa đất này.

Căn cứ vào hồ sơ, sổ sách quản lý đất đai của xã Đức Giang như sổ mục kê đất đai năm 1987 (kê khai theo chỉ thị 299); sổ mục kê đất năm 2006 phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Đức Giang, thì diện tích diện tích 80m2 đất tại thửa 315 tờ bản đồ số 7 thôn Lũng Kênh, chủ sử dụng là bà Hoàng Thị Hợi.

Tại Thông báo số 18/TB-UBND ngày 19/10/2011 của ủy ban nhân dân xã Đức Giang đã trả lời kết quả giải quyết đơn khiếu nại của công dân trong đó có ghi rõ: bà Hoàng Thị Hợi được quyền sử dụng thửa đất số 315 tờ bản đồ số 07, diện tích 80m2.

Tại biên bản làm việc các ngày 13/1/2012 và 10/2/2012 và đơn đề nghị ngày 29/11/2012 và Công văn số 28/UBND ngày 16/8/2013 của ủy ban nhân dân xã Đức Giang cung cấp thì diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là đất % của bà Hợi được chia từ trước năn 1986 (khoảng từ năm 1960), diện tích 1,7 thước ở khu Gốc Đề. Sau đó bà Hợi xin đổi về Ao Làng, vì thực tế bà Hợi đã làm quán bán nước và ở trên diện tích đất này từ năm 1982. Năm 1987 gia đình ông Chỉ mới được chia đất % ở khu vực Cửa Chiền với 4 khẩu là 192m2 (đã được cấp GCNQSDĐ năm 1992). Tiêu chuẩn đất phần trăm của gia đình ông Chỉ không liên quan gì đến tiêu chuẩn của bà Hợi, vì tiêu chuấn đất phần trăm của bà Hợi không nằm trong diện tích đất phần trăm của gia đình ông Chỉ. Việc ủy ban nhân dân xã cấp trích lục bản đồ địa chính cho ông Chỉ diện tích 141m2 (trong đó có cả phần diện tích đất đang tranh chấp với bà Hợi) tại thửa số 315, tờ bản đồ số 7 là sai vì không căn cứ vào sổ sách lưu trữ về quản lý đai mà cấp theo tự khai của ông Chỉ. Theo ý kiến của ủy ban nhân dân xã Đức Giang thì ông Hoàng Tiến Chỉ không thuộc đối tượng được địa phương ưu tiên cấp đổi đất % tại khu vực ao làng, thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ô đất 80m2 của bà Hợi nằm riêng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Chỉ. Việc ông Chỉ cho rằng hộ gia đình ông gồm 6 người là cụ Đệ, bà Hợi, ông Chỉ, bà Hiên, chị Kim, anh Cương được chia 12 thước đất 10% ở khu vực Cửa Chiền từ năm 1987, năm 1990 hộ gia đình ông được đổi 4 thước đất 10% từ khu vực Cửa Chiền về khu vực đất tranh chấp là không có căn cứ; bởi lẽ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời năm 1992 thể hiên cấp cho ông Chỉ mà không thể hiện cấp cho “Hộ”. Theo “Trích lục bản đồ địa chính trích đo hiện trạng thửa đất” ông Chỉ kê khai năm 2008 cũng đứng tên ông Chỉ mà không đứng tên “Hộ”. Hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện việc cấp đất cho “Hộ” ông Chỉ trong đó có cả tiêu chiểu đất % của bà Hợi. Thực tế bà Hợi đã ở ữên diện tích đất này từ năm 1982 (từ khi chưa đổi đất) cho đến nay và đã được ủy ban nhân dân xã Đức Giang đã cấp trích lục bản đồ địa chính ngày 11/11/2011 cho chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị Hợi, diện tích 80m2 đất tại thửa số 315, tờ bản đồ số 07 tại thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Từ những căn cứ nêu trên, hội đồng xét xử giám đốc thấm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Hoàng Thị Hợi được quyền sử dụng diện tích 80m2 đất và các tài sản trên đất tại thửa 315 tờ bản đồ số 07 thôn Lũng Kênh, xã Đức Giang, buộc bà Hợi phải thành toán giá trị tài sản trên đất cho ông Chỉ, bà Hiên, chị Kim, anh Cương và Anh Lượng là có căn cứ.

Quyết định kháng nghị số 82/QĐKNGĐT-V5 ngày 26/7/2013 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ căn cứ vào lời khai của các ông Lê Thiên Thực, Lê Thiên Quý (nguyên là trưởng thôn Lũng Kênh, chủ nhiệm HTXNN thôn Lũng Kênh, đội trưởng đội sản xuất) cho rằng diện tích đất tranh chấp là cấp đổi cho cả mã hộ gia đình ông Chỉ để xác định diện tích đất tranh chấp là cấp cho cả mã hộ gia đình ông Chỉ là không có cơ sở.

Vì vậy, hội đồng xét xử giám đốc thẩm thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao là không có căn cứ để chấp nhận nên giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng nghị số 82/QĐKNGĐT-V5 ngày 26/7/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 243/2012/DSPT ngày 17/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gan liền với đất’ giữa nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hợi với bị đơn là ông Hoàng Tiến Chỉ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 216/2014/DS-GĐT ngày 05/06/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Số hiệu:216/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/06/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về