Quyết định giám đốc thẩm 233/2014/DS-GĐT ngày 10/06/2014 về vụ án tranh chấp thừa kế

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 233/2014/DS-GĐT NGÀY 10/6/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ 

Ngày 10 tháng 6 năm 2014, tại trụ sở Cơ quan thường trực Tòa án nhân dân tối cao tại phía Nam đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp thừa kế” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, sinh năm 1955.

Trú tại: số 118 đường Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: số 958/8 đường Lạc Long Quân, phường 8, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Cúc, sinh năm 1944.

Ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc Thanh Tố, sinh năm 1973.

Cùng trú tại: số 118 đường Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Ngọc Thanh Tố, sinh năm 1973.

Trú tại: số 118 đường Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Anh Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, sinh năm 1957.

Trú tại: Ẩp Thanh Hùng, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

3/ Anh Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, sinh năm 1961.

Trú tại: Ắp Thanh Hùng, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

4/ Chị Nguyễn Ngọc Tố Tâm, sinh năm 1959.

Trú tại: số 66/1 đường Hùng Vương, phường 1, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Chị Nguyễn Đức Phúc, sinh năm 1989.

Trú tại: số 118 đường Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: số 958/8 đường Lạc Long Quân, phường 8, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

6/ Anh Nguyễn Công Quý, sinh năm 1959.

Trú tại: số 252/54 đường Lý Chính Thắng, phường 9, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2008 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ngân trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc Khiêm chung sống từ năm 1973 không có hôn thú, sống tại căn nhà số 118 Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (số cũ 132/25 Nguyễn Văn Thoại, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh) và có 01 con chung tên Nguyễn Đức Phúc. Trước khi chung sổng với bà, ông Khiêm có vợ là bà Phan Thị Nga và có 03 người con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Tố Tâm. Ồng Khiêm và bà Nga ly hôn năm 1973. Ông Khiêm chung sống với bà Phạm Thị Cúc từ năm 1971 không có hôn thú, có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh Tố.

Nguồn gốc căn nhà số 118 Lê Minh Xuân là của ông Nguyễn Ngọc Khiêm.

Năm 1973, khi bà về căn nhà sổ 118 Lê Minh Xuân sống, lúc bấy giờ bà thấy ông Khiêm sống cùng 03 người con của ông và bà Phan Thị Nga, không có mẹ con bà Phạm Thị Cúc. sống một thời gian bà có nghe ông Khiêm nói bà Cúc bị bệnh phụ nữ nên bà đề nghị cho mẹ con bà Cúc về sống chung và kể từ năm 1975 tất cả vợ con ông Khiêm đều sống chung trong căn nhà số 118 Lê Minh Xuân. Sau đó, lần lượt các con của bà Nga ra ngoài sống.

Ngày 07/12/2005, ông Khiêm lập di chúc để lại cho bà căn nhà số 118 Lê Minh Xuân. Trong thời gian chung sống, bà Cúc luôn đánh đập con của bà gây thương tích phải đi cấp cứu. Để đảm bảo an toàn nên hai mẹ con bà phải dọn ra ngoài sống. Việc anh Nguyễn Thanh Tố xuất trình giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do bà Cúc đứng tên là do bà Cúc đã khống chế bắt ông Khiêm ký xác nhận căn nhà nói trên là tài sản riêng của bà Cúc vì thời gian này ông Khiêm đã bị nhũn não có kết quả CT-Scan của Bệnh viện Trưng Vương ngày 15/01/2007. Khi biết được sự việc trên, bà có làm đơn khiếu nại đến ủy ban nhân dân quận Tân Bình và ủy ban nhân dân quận Tân Bình đã có quyết định số 1468/QĐ-UBND ngày 20/8/2008 thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã cẩp cho bà Phạm Thị Cúc.

Nay bà khởi kiện yêu cầu hưởng di sản thừa kế đối với căn nhà số 118 Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình theo di chúc của ông Khiêm lập ngày 07/12/2005; yêu cầu hủy Tờ cam kết tài sản riêng lập ngày 30/10/2007 vì lúc này ông Khiêm bị bệnh nhũn não, bà Cúc và anh Tố đã ép buộc ông Khiêm phải ký vào Tờ cam kết tài sản riêng do bà Cúc viết sẵn.

Bị đơn bà Phạm Thị Cúc và người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Ngọc Thanh Tố trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phạm Thị Cúc chung sống với nhau có 01 người con chung là anh Nguyền Ngọc Thanh Tố. Trước khi chung sống với bà Cúc, ông Khiêm đã có vợ và 03 người con đúng như bà Nguyễn Thị Kim Ngân trình bày, sau đó ông Khiêm tiếp tục chung sống với bà Ngân và có 01 con chung là chị Nguyễn Đức Phúc, sinh năm 1989. Căn nhà số 118 Lê Minh Xuân được mua vào năm 1973 do bà Cúc đưa tiền cho ông Khiêm mua. Tháng 12/2007, ông Khiêm và bà Cúc ly hôn trong đó phần tài sản chung ông bà tự thỏa thuận giải quyết. Trước đó, ngày 30/10/2007 ông Khiêm có viết Tờ cam kết tài sản riêng xác nhận căn nhà số 118 Lê Minh Xuân là tài sản riêng của bà Cúc nên bà Cúc mới làm thủ tục đứng tên căn nhà nói trên. Nay bà Cúc khẳng định căn nhà số 118 Lê Minh Xuân là tài sản riêng của bà Cúc nên bà Cúc không đồng ý với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Bà Ngân cho rằng bà Ngân chung sống với ông Khiêm từ năm 1973 đến năm 2006 là không đúng bởi lẽ trong tờ khai gia đình của chế độ cũ cũng như hộ khẩu sau năm 1975 không hề có tên bà Ngân mà chỉ có tên bà Cúc.

Ngưòi có quyền lọi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Ngọc Thanh Tố trình bày: Anh là con ruột duy nhất của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phạm Thị Cúc. Ông Khiêm và bà Cúc chung sống với nhau từ năm 1971 tại Gò vấp, đến năm 1973 mẹ anh có nhờ cha anh đứng tên mua căn nhà số 118 Lê Minh Xuân và ở cho đến nay. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Ngân vì căn nhà là tài sản của mẹ anh.

- Anh Nguyên Ngọc Thanh Tùng trình bày: Anh là con ruột của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phan Thị Nga. Cha mẹ anh lấy nhau có hôn thú và có 03 người con là Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, Nguyễn Ngọc Tố Tâm và anh.

Cha mẹ anh ly hôn trước ngày giải phóng. Nay cha anh đã chết, anh xin được hưởng thừa kế căn nhà số 118 Lê Minh Xuân với số tiền là 150.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Ngọc Thanh Đạm trình bày: Anh là con ruột của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phan Thị Nga. Anh xin được hưởng thừa kế căn nhà số 118 Lê Minh Xuân với số tiền là 150.000.000 đồng.

- Chị Nguyễn Ngọc Tố Tâm trình bày: Chị là con ruột của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phan Thị Nga. Chị xin được hưởng thừa kế căn nhà số 118 Lê Minh Xuân với số tiền là 450.000.000 đồng.

- Chị Nguyễn Đức Phúc trình bày: Chị là con ruột của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Cha mẹ chị không có đăng ký kết hôn. Căn nhà số 118 Lê Minh Xuân là tài sản của cha mẹ chị. Nay cha chị mất đế lại di chúc cho mẹ chị căn nhà trên nên chị không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu gì.

- Anh Nguyễn Công Quý trình bày: Trước đây anh và ông Nguyễn Ngọc Khiêm, bà Phạm Thị Cúc, bà Nguyễn Thị Kim Ngân không có quan hệ gì.

Tháng 01/2002, anh đến thuê căn nhà số 118 Lê Minh Xuân để kinh doanh vải, anh gặp trực tiếp ông Khiêm. Năm 2005, ông Khiêm nói cần tiền để điều trị bệnh nên yêu càu anh đưa tiền thuê cho đến năm 2013. Khi ông Khiêm mất, bà Cúc vẫn cho anh thuê mà không lấy tiền vì anh dã trả trước. Hiện nay anh không có yêu cầu gì đổi với số tiền mà anh đã trả trước cho ông Khiêm. Tranh chấp giữa bà Cúc và bà Ngân không liên quan gì đến anh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2010/DSST ngày 13/10/2010, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1.  Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ngân về việc yêu cầu được hưởng Vĩ di sản thừa kế của ông Nguyên Ngọc Khiêm theo di chúc lập ngày 07/12/2005 tại Phòng công chímg so 4 thành pho Hồ Chí Minh.

2.  Không châp nhận yêu câu của các ông Nguyên Ngọc Thanh Tùng, ông Nguyễn Ngọc Thanh Đạm và bà Nguyễn Ngọc To Tâm về việc yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của ông Nguyên Ngọc Khiêm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hủy quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm; quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/10/2010, bà Nguyễn Thị Kim Ngân kháng cáo.

Ngày 20/10/2010, chị Nguyễn Ngọc Tố Tâm, anh Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, anh Nguyễn Ngọc Thanh Đạm kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 401/2011/DSPT ngày 08/4/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Ngân, ông Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, ông Nguyên Ngọc Thanh Đạm, bà Nguyên Ngọc Tố Tâm.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Ngân về việc hủy bỏ tờ cam kết tài sản riêng ngày 30/10/2007 mang tên bà Phạm Thị Cúc làm tại Ủy ban nhân dân phường 7, quận Tân Bình và xin được hưởng di sản thừa kế của ông Nguyễn Ngọc Khiêm đối với căn nhà số 118 Lê Minh Xuân (sổ cũ 132/25 Nguyễn Văn Thoại), phường 7, quận Tân Bình, thành phổ Hồ Chí Minh theo Di chúc lập ngày 07/12/2005 tại Phòng công chứng số 4 thành phổ Hồ Chí Minh.

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, ông Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, bà Nguyễn Ngọc Tổ Tâm về việc xin được hưởng di sản thừa kế của ông Nguyễn Ngọc Khiêm đổi với căn nhà so 118 Lê Minh Xuân (sổ cũ 132/25 Nguyễn Văn Thoại), phường 7, quận Tân Bình, thành phổ Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí; quyết định hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hủy quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm.

Ngày 29/4/2011, bà Nguyễn Thị Kim Ngân có đon đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 29/2014/KN-DS ngày 20/02/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thấm, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân khởi kiện bà Phạm Thị Cúc yêu cầu hưởng di sản thừa kế đối với căn nhà sổ 118 đường Lê Minh Xuân, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (số cũ 132/25 hẻm Nguyễn Văn Thoại) theo di chúc của ông Nguyễn Ngọc Khiêm (chết ngày 08/7/2008) lập ngày 07/12/2005. Các anh chị Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, Nguyễn Ngọc Tố Tâm (là các con chung của ông Nguyễn Ngọc Khiêm với bà Phan Thị Nga) cũng có yêu cầu được hưởng di sản thừa kế đối với căn nhà nêu trên. Bà Phạm Thị Cúc không đồng ý với yêu cầu của bà Ngân và các anh chị Tùng, Đạm, Tâm vì cho rằng căn nhà tranh chấp là tài sản riêng của bà Cúc.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là “Tờ bán bất động sản” ngày 11/5/1973 giữa bà Lê Thị Mai Thu với ông Nguyễn Ngọc Khiêm; các biên nhận tiền ngày 11/3/1973, ngày 13/3/1973, ngày 31/3/1973, ngày 09/5/1973 của bà Lê Thị Mai Thu về việc nhận tiền cọc mua bán nhà của ông Nguyễn Ngọc Khiêm; Giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà số 1559 ngày 02/01/1978 đứng tên ông Nguyễn Ngọc Khiêm, thì có cơ sở xác định căn nhà tranh chấp số 118 đường Lê Minh Xuân có nguồn gốc do ông Nguyễn Ngọc Khiêm mua của bà Lê Thị Mai Thu vào ngày 11/5/1973.

Ông Nguyễn Ngọc Khiêm có người vợ đầu tiên là bà Phan Thị Nga và có 03 người con chung là các anh chị Tùng, Đạm, Tâm; đến ngày 25/01/1973 thì ông Khiêm và bà Nga ly hôn. Trước đó, ông Khiêm đã chung sống với bà Phạm Thị Cúc từ năm 1971 và có 01 con chung là anh Nguyễn Ngọc Thanh Tố. về bà Nguyễn Thị Kim Ngân, theo đơn đề ngày 02/4/2007 của ông Nguyễn Ngọc Khiêm thì bà Ngân đã chung sống với ông từ trước giải phóng nhưng không xác định cụ thể từ năm nào. Theo Báo cáo kết quả thẩm tra số 46/BC-TTr ngày 18/7/2008 của Thanh tra ủy ban nhân dân quận Tân Bình thì sau khi mua căn nhà số 118 đường Lê Minh Xuân vào năm 1973, ông Khiêm đã cho bà Ngân ở nhờ trong nhà, quá trình chung sống ông Khiêm và bà Ngân có quan hệ tình cảm và có 01 con chung là chị Nguyễn Đức Phúc sinh năm 1989. Theo bà Nguyễn Thị Kim Ngân trình bày thì bà chung sống với ông Khiêm từ năm 1973, sống tại căn nhà số 118 đường Lê Minh Xuân. Theo nội dung các tài liệu nêu trên thể hiện thì bà Ngân chung sống với ông Khiêm từ trước năm 1975 nhưng là sau khi ông Khiêm đã mua căn nhà tranh chấp.

Như vậy, tại thời điểm ông Nguyễn Ngọc Khiêm mua căn nhà tranh chấp thì ông Khiêm đã ly hôn với bà Phan Thị Nga, đang chung sống với bà Phạm Thị Cúc và chưa chung sống với bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Vì vậy, căn nhà tranh chấp là tài sản chung của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phạm Thị Cúc do được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông Khiêm và bà Cúc.

Ngày 07/12/2005, tại Phòng Công chứng số 4 thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Ngọc Khiêm lập di chúc với nội dung chỉ định bà Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ được thừa hưởng di sản thừa kế do ông để lại là phần thuộc sở hữu của ông trong căn nhà tranh chấp sau khi ông qua đời. Sau đó, tại “Tờ cam kết tài sản riêng” ngày 30/10/2007 (có xác nhận của ủy ban nhân dân phường 7), ông Nguyễn Ngọc Khiêm lại xác định căn nhà tranh chấp là tài sản riêng của bà Phạm Thị Cúc. Trước đấy, tại bản tự khai ngày 09/4/2007 (tài liệu trong hồ sơ vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc Khiêm và bà Phạm Thị Cúc), ông Nguyễn Ngọc Khiêm cũng xác định ông và bà Cúc không có tài sản chung. Theo nội dung Công văn số 462/BVCCTV ngày 15/7/2010 của Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương và “Biên bản giám định khả năng lao động” số 00726/GĐYK ngày 26/10/2007 của Hội đồng giám định y khoa quận Tân Bình thì ông Nguyễn Ngọc Khiêm về tinh thần tại thời điểm đó vẫn minh mẫn. Tuy nhiên, theo bản tự khai ngày 09/4/2007 và các đơn của ông Khiêm đề ngày 02/02/2007, 02/4/2007, 05/4/2007, 10/4/2007, 13/4/2007 lại có các nội dung như: “Tôi đang bị bạo hành xé nát tinh thần và sức khỏe ”, “Cái âm mưu của bà Cúc là tôi phải chết để đoạt của ”.v.v. về phía bà Phạm Thị Cúc thì không thừa nhận bà đã có những hành vi như ông Nguyễn Ngọc Khiêm trình bày nêu trên.

Lẽ ra, cần phải xác minh làm rõ những lời trình bày của ông Nguyễn Ngọc Khiêm về việc bà Phạm Thị Cúc đã có những hành vi bạo hành về tinh thần và sức khỏe đối với ông Khiêm có đúng sự thật hay không? Neu không đúng sự thật thì việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận “Tờ cam kết tài sản riêng” ngày 30/10/2007 của ông Nguyễn Ngọc Khiêm và không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Ngân và các anh chị Nguyễn Ngọc Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thanh Đạm, Nguyễn Ngọc Tố Tâm là phù họp, nhưng vẫn cần phải tính cho bà Ngân công sức đóng góp đối với căn nhà tranh chấp (nếu có). Còn nếu những lời trình bày của ông Nguyễn Ngọc Khiêm là đúng sự thật thì việc bà Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng ông Khiêm ký “Tờ cam kết tài sản riêng” ngày 30/10/2007 không do ý chí hoàn toàn tự nguyện mà đã bị bà Phạm Thị Cúc ép buộc là có cơ sở; “Tờ cam kết tài sản riêng” ngày 30/10/2007 của ông Khiêm là không họp pháp và Vi trị giá căn nhà tranh chấp là di sản thừa kế của ông Khiêm. Trong trường họp này, cần phải xem xét tính hợp pháp của di chúc do ông Nguyễn Ngọc Khiêm ký vào ngày 07/12/2005 tại Phòng Công chứng số 4 thành phố Hồ Chí Minh. Nếu di chúc đó là họp pháp thì bà Nguyễn Thị Kim Ngân là người được hưởng thừa kế theo di chúc, đồng thời cần xác minh làm rõ những người thừa kế khác có ai thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự 2005 hay không để chia thừa kế theo đúng quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng nghị số 29/2014/KN-DS ngày 20/02/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 401/2011/DSPT ngày 08/04/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2010/DSST ngày 13/10/2010 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim Ngân với bị đơn là bà Phạm Thị Cúc.


96
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 233/2014/DS-GĐT ngày 10/06/2014 về vụ án tranh chấp thừa kế

Số hiệu:233/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/06/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về