Quyết định giám đốc thẩm 241/2014/DS-GĐT ngày 11/06/2014 về việc Tranh chấp quyền sở hữu nhà

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 241/2014/DS-GĐT NGÀY 11/06/2014 VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ 

Ngày 11/6/2014, tại trụ sở Cơ quan thường trực Tòa án nhân dân tối cao tại phía Nam, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lương Việt Hà - Sinh năm 1982

Địa chỉ: 87G1 Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.,

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Bình - Sinh năm 1971

Địa chỉ: 87G1 Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 25/18/6/36 Nguyễn Minh Châu, phường Phú Trung, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện và các văn bản liên quan nguyên đơn bà Lương Việt Hà trình bày:

Năm 2000 bà Lương Việt Hà mua căn nhà mang số 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, Hợp đồng mua bán số 110745/HĐMBN lập ngày 22/12/2000 tại phòng công chứng số 1, thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Phan Văn Mé, bà Đặng Thị Hương bán cho bà Lương Việt Hà và đã đăng bộ quyền sở hữu đứng tên Lương Việt Hà.

Năm 2004 bà Lương Việt Hà kết hôn với ông Nguyễn Quốc Bình theo giấy chứng nhận kết hôn sổ 091, quyển 1 do ủy ban nhân dân phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/07/2004 (sau đó ly hôn theo Quyết định sổ 28/2009/HNGĐ-ST ngày 10/6/2009). Theo quyết định này thì vấn đề tài sản chưa giải quyết.

Năm 2007 do chủ trương của chính quyền địa phương cấp đối số đại trà cho tất cả các hộ dân có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở màu trắng sang giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở màu hồng. Thời điểm này vợ chồng bà Lương Việt Hà còn chung sống với nhau nên mọi thủ tục giấy tờ chuyển đổi sổ chồng bà là ông Nguyễn Quốc Bình đứng ra làm. Ông Bình đem một số giấy tờ mẫu về bảo bà ký tên rồi ông Bình tự khai và đem nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan chức năng căn cứ vào thủ tục giấy tờ ông Bình nộp đã cấp sổ hồng mới số 2149/2007/GCN về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhà số 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, thành phổ Hồ Chí Minh đứng tên Lương Việt Hà và Nguyễn Quốc Bình. Sau khi được cấp sổ ông Bình giấu toàn bộ giấy chủ quyền không cho bà biết.

Khoảng tháng 3/2008 khi bà Lương Việt Hà cần tiền muốn lấy giấy tờ nhà thề chấp lúc đó bà mới biết hai người đứng tên chung trên giấy chủ quyền. Bà có yêu cầu ông Bình làm thủ tục trả lại quyền sở hữu cho riêng cho bà nhưng ông Bình không đồng ý. Ngày 10/6/2009 Toà án giải quyết việc ly hôn; về tài sản vợ chồng chưa giải quyết. Nay bà Hà khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, thành phổ Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Lương Việt Hà và không chia cho ông Bình bất kỳ một phần nào.

Bị đon ông Nguyễn Quốc Bình trình bày:

Ông kết hôn với bà Lương Việt Hà năm 2004 theo giấy chúng nhận kết hôn số 091, quyển 1 do ủy ban nhân dân phường 3, quận Bình Thạnh cấp ngày 16/07/2004. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông được ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyên sử dụng đất ở căn nhà 87G1 Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh số 2149/2007/GCN ngày 7/9/2007.

Nay bà Hà xin đứng tên cá nhân trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở căn nhà nêu trên sau ly hôn ông không đồng ý. Ông Bình cho rằng đây là tài sản chung được sát nhập trong thời kỳ hôn nhân nên trị giá một nửa căn nhà trên là của ông nhưng không yêu cầu chia tài sản nên không nộp tạm ứng án phí, đề nghị tòa án giải quyêt vụ án theo pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2011/DSST ngày 08/9/2011, Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

“Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lương Việt Hà. Xác định quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất căn nhà so 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, thành pho Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Lương Việt Hà.

Bà Lương Việt Hà cỏ quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin cấp lại giấy chứng nhận quyển sở hữu nhà và quyên sử dụng đât theo qui định của pháp luật.

Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với căn nhà sô 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, thành phổ Hồ Chí Minh mang sổ 2149/2007/GCN ngày 7/9/2007 đứng tên chung là Lương Việt Hà và Nguyễn Quốc Bình.

Không chấp nhận xác định căn nhà 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh là tài sản chung của ông Nguyễn Quốc Bình

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2011, bị đơn ông Nguyễn Quốc Bình có đơn kháng cáo không đồng ý quyết định của bản án sơ thẩm, xin được xem xét lại toàn bộ bản án để quyền lợi của ông không bị thiệt thòi.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 1286/2012/DSPT ngày 28/9/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

“Chấp nhận yêu cầu khảng cảo của bị đơn;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 66/2011/DSST ngày 8/9/2011 của Tòa án nhân dán quận Bình Thạnh, thành phổ Hồ Chí Minh như sau.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Việt Hà về việc xác định quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở căn nhà sô 87G1 đường Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Lương Việt Hà ”.

Ngoài ra Tòa cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí dân sự phúc thẩm.

Ngày 21/11/2012, bà Lương Việt Hà có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm cho rằng căn nhà tranh chấp là do bà tạo lập trước thời kỳ hôn nhân, trong quá trình đổi giấy tờ nhà từ giấy trắng sang giấy hồng ông Nguyễn Quốc Bình đã tự ý điền tên và tự làm cam kết để được đứng tên giấy chứng nhận quyên sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà không có ý kiến của bà nhưng Tòa án câp phúc thâm vẫn xác định đây là tài sản chung làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà. Ngoài ra, căn nhà tranh chấp hiện nay bà vẫn đang cho bà Đồ Thị Mỹ Phượng thuê nhưng khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đưa bà Phượng và những người hiện đang ở tại căn nhà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tổ tụng.

Tại Quyết định kháng nghị số 34/2014/KN-DS ngày 20/02/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án phúc thẩm 1268/2012/DS-PT ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phổ Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2011/DSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Ngày 22/12/2000, bà Lương Việt Hà nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn Mé và bà Đặng Thị Hương căn nhà số 87G1 Đinh Tiên Hoàng phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là căn nhà số 87G1 Đinh Tiên Hoàng), sau đó bà Hà đã thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu mang tên Lương Việt Hà. Năm 2004, bà Lương Việt Hà kết hôn với ông Nguyễn Quốc Bình. Năm 2009 bà Lương Việt Hà và ông Nguyễn Quốc Bình thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sổ 28/2009/HNGĐ-ST ngày 10/6/2009 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, các bên không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Ngày 22/01/2010, bà Lương Việt Hà khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận căn nhà so 87G1 Đinh Tiên Hoàng là tài sản riêng của bà. Ông Nguyễn Quốc Bình cho rằng trong thời kỳ hôn nhân ông Bình và bà Hà được Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với căn nhà nên không đồng ý xác nhận đây là tài sản riêng của bà Hà.

Yêu cầu khởi kiện của bà Hà trong trường hợp nàu được xác định là tranh chấp tài sản sau ly hôn. Do đó, cần xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn”. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” là chưa chính xác.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Lương Việt Hà có xuất trình bản hợp đồng thuê tầng trệt căn nhà số 87G1 Đinh Tiên Hoàng được ký giữa bà Lương Việt Hà với bà Đỗ Thị Mỹ Phượng. Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không đưa bà Phượng và những người hiện đang ở tại căn nhà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng.

Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện lời khai của ông Nguyền Quốc Bình thừa nhận căn nhà tranh chấp là tài sản do bà Hà tạo lập trước khi kết hôn với ông Bình, nhưng ông Bình cho rằng trong thời kỳ hôn nhân bà Hà đã đồng ý sáp nhập vào tài sản chung của vợ chồng thông qua việc đồng ý cho ông Bình cùng đứng tên làm thủ tục xin cấp mới giấy chứng nhận quyền hữu nhà ở để ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất mang tên ông Bình và bà Hà. Tuy nhiên, bà Hà không thừa nhận đã đồng ý cho ông Binh cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mà cho rằng khi mà thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất vào năm 2007, do bà Hà đang có con nhỏ nên nhờ ông Bình đi lànm thủ tục và ông Bình đã tự ý điền tên của ông Bình vào mục tên người (vợ, chồng) và tự ký tên ở mục “Người viết đơn” mà không có văn bản thỏa thuận của bà Hà về việc sáp nhập tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ tại thời điểm đăng ký quyền sở hữu nhà thì thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có buộc phải đứng tên hai vợ chồng hay không. Theo lời khai của bà Hà thì ngay sau khi bà Hà biết ông Bình cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, bà Hà đã làm đơn khiếu nại gửi tới ủy ban nhân dân phường về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có tên ông Bình; do đó, cẩn làm rõ sau khi biết ông Bình cùng đứng tên sở hữu nhà, bà Hà có khiếu nại tại ủy ban nhân dân phường như đã trình bày hay không. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ những vấn đề trêm nhưng đã xác định ngay căn nhà là tài sản riêng của bà Hà là chưa có căn cứ vững chắc. Tòa án cấp phúc thẩm trong khi chưa xác minh làm rõ những vẩn đề trên và chưa đối chiếu với các quy định tại Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, nhưng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hà là cũng không có cơ sở. Mặt khác, đây là tài sản tranh chấp tài sản sau ly hôn, nếu có cơ sở bác yêu cầu khởi kiện của bà Hà về việc yêu cầu được công nhận căn nhà đang tranh chấp là tài sản riêng của bà Hà thì Tòa án phải xác định căn nhà này thuộc quyền sở hữu của những ai, công sức của mỗi người đóng góp vào khối tài sản chung này như thê nào, giao cho ai sở hữu, người được giao quyền sở hữu có nghĩa vụ thanh toán cho bên có quyền bằng giá trị hoặc bằng hiện vật, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chỉ giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của bà Hà là giải quyết chưa triệt đế vụ án.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 1, 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 1286/2012/DSPT ngày 28/09/2012 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản”, đê nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tôi cao xét xử giám đôc thâm hủy Bản án dân sự phúc thâm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2011/DSST ngày 08/09/2011 của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phổ Hồ Chí Minh; giữa nguyên đơn bà Lương Việt Hà và bị đơn Nguyễn Quốc Bình.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 241/2014/DS-GĐT ngày 11/06/2014 về việc Tranh chấp quyền sở hữu nhà

Số hiệu:241/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/06/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về