Quyết định giám đốc thẩm 243/2014/DS-GĐT ngày 11/06/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất

TOÀ DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 243/2014/DS-GĐT NGÀY 11/06/2014 VỀ  VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT & THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 11 tháng 06 năm 2014, tại Trụ sở Cơ quan thường trực của Tòa án nhân dân tối cao tại phía Nam đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Bà Ngô Thị A;

Địa chỉ: ấp 6A, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

Anh Nguyễn Văn Hoa;

Chị Ngô Thị Hạnh Dung;

Địa chỉ: ấp 6A, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Long, sinh năm 1927;

2. Anh Nguyễn Văn Đợi, sinh năm 1969;

3. Ông Hứa Văn Chí, sinh năml956;

4. Bà Nguyễn Thị Bạch, sinh năm 1958;

5. Chị Hứa Thị Thắm, sinh năm 1979;

6. Anh Bùi Văn Vũ, sinh năm 1975;

Cùng địa chỉ: ấp 6A, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

7. Anh Nguyễn Văn Mối, sinh năm 1971;

8. Chị Ngô Thị Trinh, sinh năm 1971;

9. Chị Ngô Thị Điệp, sinh năm 1972;

Cùng địa chỉ: ấp 1, xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

10. Anh Nguyễn Văn Sang, sinh năm 1961;

11. Chị Trương Thị Phụng, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: ấp Mỹ Phước 1, xã Mỹ Quý, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

NHẬN THẤY

Nguyên đơn bà Ngô Thị A có anh Nguyễn Văn Mối là ngưòi đại diện theo ủy quyền trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp diện tích 137.384 m2 là của cụ Ngô Văn Ba và cụ Nguyễn Thị Ca có từ trước giải phóng. Năm 1977 ông Ba chết, bà Ngô Thị A sống chung với cụ Ca và canh tác. Năm 1995 bà A được ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 20/04/1998 cụ Ca làm di chúc cho bà A toàn bộ phần đất nhưng anh Nguyễn Văn Hoa và chị Ngô Thị Thanh Dung chiếm hết đất vườn tạp trong phần diện tích 137.384 m2 mà bà A được sử dụng. Nay bà A đồng ý cho anh Nguyễn Văn Hoa và chị Ngô Thị Thanh Dung sử dụng phần đất vườn tạp ngang 4m X dài 62m (phần anh Hoa chị Dung đang ở) và yêu cầu anh Hoa chị Dung trả phần đất lấn chiếm còn lại.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Hoa, chị Ngô Thị Thanh Dung trình bày:

Anh sống chung với cụ Ca từ năm 6 tuổi. Năm 1983 khi Nhà nước trang trải ruộng đất, anh và cụ Ca được cấp 4 công tầm 3m, khi cấp còn thừa 2 công nên cấp luôn cho anh và cụ Ca, tổng cộng là 10 công. Năm 1984 anh đi nghĩa vụ quân sự, năm 1987 về vẫn tiếp tục sống chung với cụ Ca và sử dụng phần đất được cấp trước đây. Năm 1999 cụ Ca chết, năm 2000 mẹ anh là bà Ngô Thị A mượn 10 công đất để canh tác. Năm 2004 anh đòi đất thì phát sinh tranh chấp. Nay anh yêu cầu bà A tách quyền sử dụng đất cho anh là 2.275 m2 đất vườn tạp và 10 công tầm 3m đất ruộng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2009/DS-ST ngày 02/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Ngô Thị: Buộc bà Ngô Thị A ông Nguyễn Văn Long tách quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung đất thổ cư và vườn tạp diện tích 1.593,75 m2, tờ bản đồ sổ 7, thuộc một phần thửa 538 và 539, vị trí như sau:

+ Hướng Đông giáp kênh Tư Mới tỉnh từ ranh chị Chung (Tư Cho) ngang 25m;

+ Hướng Tây giáp đất ruộng ngang 25m;

+ Hướng Nam giáp phần đất ruộng còn lại của Ngó Thị A dài 67,5m;

+ Hướng Bác giáp đất chị Chung (Tư Cho) dài 60m.

(Phần đất trên có nhà anh Hoa sử dụng và được hưởng những cây trên đất được chia)

Buộc anh Nguyên Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung có nghĩa vụ di dời một phần nhà của bà Ca về phần đất được chia để bảo đảm việc thờ củng.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Hoa chị Dung: Buộc anh Nguyễn Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung giao lại phần đất thổ cư và vườn tạp diện tích 1.977,75 m2, tờ bản đồ sổ 7, thuộc một phần thửa 538 và 539, vị trí như sau:

+ Hướng Đông giáp kênh Tư Mới tính từ ranh mới chia cho anh Hoa đo ngang đến đất ông Trường là ngang 27,8m;

+ Hướng Tây giáp đất ruộng ngang 30,8m (tính từ ranh đất mới chia cho anh Hoa đến đất ông Trường);

+ Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Công Trường dài 67,5m;

+ Hướng Bác giáp đất anh Hoa mới chia dài 67,5m.

(Bà A được hưởng sổ cây và mồ mả ông bà trên đất, hiện bà đang đứng tên quyền sử dụng đất)

(Kèm theo biên bản khảo sát và sơ đồ đo đạc ngày 19/05/2008).

Buộc bà Ngô Thị A ông Nguyễn Văn Long cỏ trách nhiệm tách quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung phần đất ruộng diện tích 3.999,93 m2 thuộc tờ bản đồ số 7, thửa 534, vị trí như sau: (buộc Hứa Văn Chỉ, Nguyễn Thị Bạch, Hứa Thị Thắm và Bùi Vãn Vũ giao đất cho anh Hoa, chị Dung)

+ Hướng Đông giáp đất vườn tạp ngang 55,8m;

+ Hướng Tây kẻo theo hướng về đất ông Đợi ngang 54,3m;

+ Hướng Nam (Bắc) giáp đất ruộng ông Ba Long dài 72,66m;

+ Hướng Bác giáp đất chị Chung (Tư Cho) dài 72,66m.

(Chi phí tách bộ thửa đất thổ cư, vườn tạp và đất ruộng anh Hoa chị Dung chịu)

Bà A đến UBND có thẩm quyền điều chỉnh quyền sử dụng đất theo bản án đã chia và anh Hoa đến UBND có thẩm quyền đăng kỷ quyền sử dụng đất được chia.

- Bác yêu cầu của ông Long bà A yêu cầu lấy lại căn nhà của cụ Ca để thờ cúng.

- Bác yêu cầu của chị Ngô Thị Trinh và chị Ngô Thị Điệp yêu cầu được phân chia phần đất tho cư và đất ruộng.

Ngoài ra tòa án còn tuyên về án phí và quyền kháng cảo của các đưomg sự.

Ngày 16/11/2009, chị Ngô Thị Trinh và chị Ngô Thị Điệp kháng cáo.

Ngày 16/11/2009, bà Ngô Thị A kháng cáo.

Ngày 17/11/2009, anh Nguyễn Văn Hoa kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm 02/2011/DS-PT ngày 04/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị A, chị Ngô Thị Trinh và chị Ngô Thị Điệp.

- Chấp nhận một phần khảng cáo của anh Nguyễn Văn Hoa.

- Sửa một phần bản án sơ thẩm sổ 68/2009/DS-ST ngày 02/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Ngô Thị A, buộc anh Hoa chị Dung trả lại diện tích 1.738,2 m2 đất thổ và vườn, thuộc một phần thửa 538 và 539, tờ bản đồ sổ 7, tọa lạc ấp 6A, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp được giới hạn bởi các mốc c, D, E, F cổ tứ cận:

+ Hướng Đông giáp kênh Tư Mới cạnh 26,4m;

+ Hướng Tây giáp đất ruộng thửa 534 cạnh 27,75m;

+ Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Công Trường dài 55,4m;

+ Hướng Bắc giáp phần còn lại thửa 538 và 539 cạnh 55,4m.

(Theo sơ đồ đo đạc ngày 22/10/2010 của Tòa án nhận dân tỉnh Đồng Tháp)

Hộ bà A được sử dụng các cây trồng cỏ trên phần đất.

Buộc anh Hoa chị Dung tháo dỡ nhà và các vật kiến trúc trên phần đất trên để giao lại đất cho bà Ngô Thị A.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Văn Hoa, buộc bà A trả cho anh Hoa 5.560,05 m đất ruộng thuộc thửa 534, tờ bản đồ so 7 tại xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Có tứ cận:

+ Hướng Đông giáp thửa 538 cạnh 55,5m;

+ Hướng Tây giáp đất ruộng thửa 533 cạnh 54,3m;

+ Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Công Trường dài 98,2m;

+ Hướng Bẳc giáp đất bà Chung cạnh 103,8m.

(Theo sơ đồ đo đạc ngày 29/07/2010 của Tỏa án tỉnh Đồng Tháp)

- Anh Hoa chị Dung được sử dụng 1.738,2 m2 thuộc một phần thửa 538, 539 tờ bản đồ sổ 7 (giới hạn bởi các mốc A, B, c, D) có tứ cận:

+ Hướng Đông giáp kênh Tư Mới cạnh 26,4m;

+ Hướng Tây giáp đất ruộng thửa 534 cạnh 27,75m;

+ Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 538, 539 cạnh 55,4m;

+ Hưởng Bắc giáp đất bà Chung dài 55,4m;

(Theo sơ đồ đo đạc ngày 22/10/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp)

Anh Nguyễn Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung được quyền sử dụng các cây trồng có trên đất.

Không chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Trinh và chị Ngô Thị Điệp yêu cầu được hưởng đất của cha để lại và yêu cầu phân chia thừa kế phần đất của bà Ca để lại.

- Bà A được sử dụng 8.147,2 m đất (2L) thuộc thửa 530, tờ bản đồ sổ 7 tọa lạc ấp 6a, xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền đến Cơ quan Nhà nước cỏ thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngày 29/03/2011 anh Nguyễn Văn Hoa chị Ngô Thị Thanh Dung có đơn đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 06/05/2013, bà Ngô Thị A có đơn đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 05/04/2011, chị Ngô Thị Trinh và chị Ngô Thị Điệp có đon đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số: 160/2013/KN-DS ngày 31/12/2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 02/2011/DS-PT ngày 04/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp theo thủ tục giám đốc thẩm, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và bản án dân sự sơ thẩm số 68/2009/DS-ST ngày 04/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Nguồn gốc phần đất tranh chấp các bên đều thống nhất phần đất thổ vườn 2.275 m2 (đo đạc thực tế 3.476,43 m2) do cụ Ngô Văn Ba và cụ Nguyễn Thị Ca tạo lập, phần đất ruộng 10.000 m2 (đo đạc thực tế 13.707,25 m2) cụ Ca được giao đất sau khi cụ Ba chết.

Bà A cho rằng đất tranh chấp là của cha mẹ cho bà nhưng không có chứng cứ chứng minh. Tại Công văn số 65 ngày 26/04/2010 và 104 ngày 17/06/2010 của ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xác nhận:

Năm 1995 việc cap giấy không có tham định, chỉ căn cứ kê khai của người đăng ký. Toàn bộ diện tích 137.384 m2 cấp cho bà A ngày 10/02/1995 là cấp cho hộ gia đình mà bà A là người đại diện đứng tên.

Tờ di chúc ngày 20/04/1998 không phải do cụ Nguyễn Thị Ca viết, không có chữ ký hay điểm chỉ của cụ Ca, không có người làm chứng và cũng không có công chứng nên không có giá trị pháp lý.

Anh Nguyễn Văn Hoa khai năm 1983 được trang trải 04 công đất với cụ Ca, nhưng căn cứ biên bản xác minh hộ khẩu thường trú ngày 26/08/2010 thì từ năm 1977 <ỉển năm 1985 hộ cụ Ca có 2 nhân khẩu là Nguyễn Thị Ca và Nguyễn Văn Đợi. Trước năm 1989 anh Hoa không sống chung với cụ Ca. sổ hộ khẩu NK3 ngày 03/03/1988 tại nhà 646c có 2 nhân khẩu là Nguyễn Thị Ca và Nguyễn Văn Hoa. Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra xác minh làm rõ năm 1983 UBND xã Trường Xuân, huyện Tháp Mười có trang trải đất cho cụ Ca và anh Hoa không.

Phần đất ruộng 10.000 m2 (đo đạc thực tế 13.707,25 m2) cụ Ca cho bà A đứng tên từ năm 1995 đến năm 1999 ai sử dụng và sau khi cụ Ca chết bà A hay anh Hoa sử dụng? Phần đất ruộng và đất thổ vườn đo đạc thực tế 17.183,68 m2 bà A đứng tên quyền sử dụng đất năm 1995 trước khi cụ Ca chết, nhưng đến năm 1998 cụ Ca làm tờ di chúc cho đất bà A. Cho thấy mặc dù bà A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 nhưng đến năm 1998 đất vẫn thuộc quyền sử dụng của cụ Ca. Như vậy trong trường họp tờ di chúc cụ Ca lập ngày 20/04/1998 không họp lệ thì cần xem xét quyền sử dụng đất là di sản của cụ Ca chết để lại để giải quyết chia thừa kế theo pháp luật cho các thừa kế của cụ Ba và cụ Ca. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ những vấn đề nêu trên đã chấp nhận một phần yêu cầu của bà A, bác yêu cầu của chị Trinh và chị Điệp, buộc bà A ông Long giao cho anh Hòa chị Dung phần đất thổ vườn 1.593,75m2 và phần đất ruộng 4.000m2. Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của anh Hoa, không chấp nhận kháng cáo của chị Trinh chị Điệp, giao cho anh Hoa chị Dung sử dụng phần đất ruộng 5.560,02m2 và 1.738,2m2 đất thổ vườn, buộc anh Hoa chị Dung trả cho bà A 1.738,2m2 đất thổ vườn là chưa đủ căn cứ vững chắc. Bởi các lẽ trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 02/2011/DS-PT ngày 04/01/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và bản án dân sự sơ thẩm số 68/2009/DS-ST ngày 04/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất”, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.


173
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 243/2014/DS-GĐT ngày 11/06/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất

Số hiệu:243/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/06/2014
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về