Quyết định giám đốc thẩm 25/2009/KDTM-GĐT ngày 26/11/2009 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TÒA KINH TẾ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM  25/2009/KDTM-GĐT NGÀY 26/11/2009 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ 

Ngày 26 tháng 11 năm 2009, tại trụ sở Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại theo Quyết định số 31/QĐ-KNGDT-V12 ngày 22/9/2009 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 03/2009/KDTM-PT ngày 16, 19/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Sao Nam Phong; có trụ sở tại số 219 đường Hoàng Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; do ông Bùi Tuấn Sơn, Giám đốc Công ty đại diện;

Bị đơn: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội; có trụ sở tại 42 Tô Hiến Thành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; do ông Vũ Anh Tuấn làm đại diện theo Giấy ủy quyền số 09/HAPEC-TH ngày 11/01/2009 của Giám đốc Công ty.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2008 (BL5), Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 22/9/2008 (BL 23) và các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn xuất trình thì:

Ngày 15/6/2008, Trung tâm thiết kế điện thuộc Công ty điện lực Hà Nội (sau này cổ phần hóa thành Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội-viết tắt là Công ty HaPec) và Công ty cổ phần Sao Nam Phong (sau đây viết tắt là Công ty Sao Nam Phong) ký Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ về khảo sát, thu thập số liệu phục vụ công tác thiết kế nội dung (tóm tắt) như sau:

Điều 1: Nội dung công việc: khảo sát, đo đạc lấy số liệu tại hiện trường; cùng tham gia lập phương án thiết kế; cùng tham gia tính toán lập phương án tổ chức và đề ra giải pháp thi công; cùng tham gia tính toán chi phí cho công trình cải tạo, sắp xếp lại hệ thống cáp xuất tuyến tại Trạm 110 KV-E14.

Điều 2: Hai bên thỏa thuận giá trị hợp đồng bằng 35% giá trị tư vấn thiết kế (trước thuế) dược duyệt theo quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền; Để có cơ sở ký hợp đồng, hai bên thỏa thuận tạm tính giá trị tư vấn thiết kế của công trình là 260.000.000 đ x 35% = 90.000.000 đồng; giá trị để thanh lý hợp đồng sẽ là giá trị của phần tư vấn thiết kế có ghi trong dự toán sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt…

Điều 3: Thời gian hoàn thành khối lượng công việc khảo sát để phục vụ công tác thiết kế là 4 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng.

Điều 4: Trách nhiệm của mỗi bên.

Trung tấm thiết kế điện: chịu trách nhiệm pháp lý với chủ đầu tư, chủ trì thiết kế, tổ chức bảo vệ đề án trước cơ quan có thẩm quyền và chủ đầu tư; cung cấp đầy đủ số liệu, phương án kỹ thuật được duyệt, hồ sơ mặt bằng và các hồ sơ pháp lý liên quan khác để Công ty Sao Nam Phong có thời gian chuẩn bị những điều kiện tham gia khảo sát, thu thập số liệu tại hiện trường phục vụ công tác thiết kế.

Công ty Sao Nam Phong : phối hợp khảo sát lấy số liệu thực tế tại hiện trường tham gia khảo sát các yêu cầu và những dự kiến xây dựng hệ thống hạ tầng và các công trình ngầm trong khu vực theo yêu cầu của Trung tâm thiết kế điện…; cấp số liệu thiết kế sơ bộ phải có cơ sở tính toán và các số liệu liên quan khác đủ điều kiện để Trung tâm thiết kế điện hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế kỹ thuật…

Điều 5: Thể thức thanh toán…thời gian chuyển tiền: Trung tâm thiết kế sẽ tạm ứng cho Công ty Sao Nam Phong số tiền tương đương 30% giá trị hợp đồng ngay sau khi Công ty Sao Nam Phong giao đủ 02 bộ hồ sơ có đầy đủ số liệu khảo sát hiện trường, có cơ sở tính toán và biện pháp thi công hợp lý (có biên bản nghiệm thu bàn giao tài liệu giữa hai bên) để Trung tâm thiết kế hoàn chỉnh đề án đưa đi phê duyệt. Số tiền còn lại sẽ được thanh toán hết theo giá trị tư vấn thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sau khi trừ đi số tiền tạm ứng đợt 1.

Sau khi ký hợp đồng trên, Công ty Sao Nam Phong đã thực hiện các công việc theo hợp đồng. Ngày 11/11/2005, hai bên ký Biên bản nghiệm thu bàn giao khối lượng công việc hoàn thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật, theo đó đã thống nhất: Công ty Công ty Sao Nam Phong đã hoàn thành và giao cho Trung tâm để trình duyệt: thuyết minh, dự toán, các bản vẽ thi công. Công ty Sao Nam Phong đã hoàn thành với chất lượng đạt yêu cầu của Trung tâm đề ra, là cơ sở cho Trung tâm thiết kế biên tập chỉnh sửa lại Đề án thiết kế kỹ thuật và Báo cáo đầu tư theo quy định của Công ty điện lực Hà Nội và chuyển kinh phí tạm ứng cho Công ty Sao Nam Phong . Sau khi ký biên bản trên, Trung tâm thiết kế đã tạm ứng 30% giá trị tạm tính của hợp đồng là 27.000.000 đồng.

Tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2006, Công ty HaPec (kế thừa quyền, nghĩa vụ của Trung tâm thiết kế điện) và Công ty Sao Nam Phong đã cùng nhau xác nhận những nội dung sau: Giá trị hợp đồng: chưa có giá trị tổng dự toán được duyệt nên chưa có giá trị thiết kế, Công ty HaPec đã ứng 27.000.000 đồng; Số tiền Công ty HaPec còn nợ Công ty Sao Nam Phong: chưa xác định được giá trị (vì chưa được phê duyệt). Biên bản chỉ xác nhận tại thời điểm hiện tại chưa có giá trị để thanh lý hợp đồng, chưa xác định được tổng dự toán được duyệt của công trình. Hai bên thống nhất thúc đẩy nhanh quá trình duyệt tổng dự toán và tổng mức đầu tư để kết thúc hợp đồng.

Ngày 14/12/2007, Chủ đầu tư là Công ty điện lực Hà Nội đã ban hành Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình: cải tạo và sắp xếp lại cáp xuất tuyến tại Trạm 110 KV–Giám–E14, theo đó tại mục 12. Tổng mức đầu tư của dự án là 22.060.382.754 đồng, trong đó trong phần chi phí tư vấn đầu tư xây dựng có chi phí lập dự án đầu tư là 162.687.876 đồng; chi phí thiết kế xây dựng công trình là 262.872.704 đồng.

Ngày 02/4/2008, Công ty điện lực Hà Nội đã ban hành Quyết định số 1757/QĐ-ĐLHN-P08, theo đó tại Điều 1 phê duyệt tổng mức đầu tư hiệu chỉnh dự án “Cải tạo và sắp xếp lại cáp xuất tuyến tại Trạm 110 KV–Giám–E14”, trong đó tại mục 12. Tổng mức đầu tư điều chỉnh của Dự án 22.740.890.582 đồng. Tại Điều 2 của Quyết định xác định tổng mức đầu tư hiệu chỉnh này thay thế tổng mức đầu tư đã được phê duyệt tại Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 14/12/2007. Trong mục 2 về chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thì chi phí lập dự án đầu tư (tiểu mục 2.1) và chi phí thiết kế công trình (tiểu mục 2.2) được giữ nguyên.

Sau khi Công ty điện lực Hà Nội ban hành 02 Quyết định nêu trên, Công ty Sao Nam Phong đã có công văn yêu cầu Công ty HaPec thanh toán số tiền còn lại của giá trị tư vấn thiết kế nhưng Công ty HaPec chưa đồng ý thanh toán với lý do Đề án thiết kế chưa được cấp có thẩm quyên phê duyệt. Vì vậy, ngày 16/4/2008, Công ty Sao Nam Phong có đơn khởi kiện Công ty HaPec tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng với yêu cầu buộc Công ty HaPec phải thanh toán: tiền nợ gốc là 121.946.203 đồng [(162.687.876 đồng + 262.872.704 đồng) x 35% - 27.000.000 đồng]; tiền lãi được trả là 61.178.654 đồng. Sau đó, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 08, 09/10/2008, Công ty Sao Nam Phong bổ sung yêu cầu kiện, theo đó đề nghị buộc Công ty HaPec thanh toán tiền lãi chậm trả 108.836.986 đồng (tính từ ngày 11/11/2005 đến ngày 29/9/2008) và trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng là 17.873.544 đồng (tính theo tỷ lệ 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm).

Đại diện của bị đơn- Công ty HaPec trình bày: xác nhận việc ký kết, thực hiện hợp đồng và ký biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành do Trung tâm thiết kế điện đã ký như trình bày của nguyên đơn là đúng. Tuy nhiên, theo Điều 2 và Điều 5 của Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005 thì Công ty Sao Nam Phong chỉ được thanh toán khi giá trị của phần tư vấn thiết kế có ghi trong dự toán của chủ đầu tư phê duyệt. Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 14/12/2007 và Quyết định số 1757/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 02/4/2008 của Công ty điện lực Hà Nội mới phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình và tổng mức đầu tư hiệu chỉnh dự án. Còn giai đoạn thiết kế kỹ thuật (bản vẽ thi công), tổng dự toán chưa được chủ đầu tư phê duyệt nên chưa có cơ sở để thanh toán cho Công ty Sao Nam Phong. Khi nào có văn bản phê duyệt thiết kế, tổng dự toán và giá trị tư vấn thiết kế thì Công ty HaPec sẽ thanh lý hợp đồng với Công ty Sao Nam Phong .

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2008/KDTM-ST ngày 08, 09/10/2008, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã căn cứ vào khoản 2 Điều 8 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần; Điều 37, Điều 53, Điều 54 và Điều 59 Luật Xây dựng; khoản 1, 2 Điều 5, Điều 6, Điều 7; khoản 1 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 14, khoản 1, 2, 3 Điều 16, Điều 39, Điều 40 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; mục 8 phần I Quyết định số 11/2005/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình…và quyết định: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sao Nam Phong đối với Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội về việc yêu cầu thanh toán nghĩa vụ hợp đồng, tiền phạt và tiền lãi chậm trả theo Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005. Không xem xét các yêu cầu khác của các bên đương sự”.

Ngày 04/10/2008, Công ty Sao Nam Phong có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nêu trên với yêu cầu đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Lý do và căn cứ kháng cáo là: tuy hợp đồng số 78 chưa thanh lý nhưng sản phẩm của Công ty Sao Nam Phong đã được nghiệm thu, bàn giao. Cả hai bên đều cùng thực hiện hợp đồng với nội dung lập dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật với tổng dự toán công trình…Thực chất Công ty Sao Nam Phong đã lập Dự án đầu tư, thiết kế bản vẽ kỹ thuật và tổng dự toán.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 03/2009/KDTM-PT ngày 16, 19/01/2009,Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ: khoản 2 Điều 8 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ; Điều 37, Điều 53, Điều 54, Điều 59 Luật Xây dựng; khoản 3 Điều 14; khoản 1, 2, 3 Điều 16, Điều 39, Điều 40 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; mục 8, 9 phần I Quyết định số 11/2005/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình…và quyết định: “Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty Sao Nam Phong đối với Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội về việc thanh toán số tiền còn thiếu của Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005. Cụ thể: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội phải trả Công ty cổ phần Sao Nam Phong số nợ gốc 121.946.203 đồng; lãi chậm thanh toán của số tiền trên là 23.608.000 đồng. Cộng là 145.554.203 đồng…Ghi nhận Công ty cổ phần Sao Nam Phong rút yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội phải chịu phạt 12% giá trị hợp đồng, số tiền 17.873.544 đồng…”

Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty HaPec có đơn đề nghị xét lại bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 31/QĐ-KNGĐT-V12 ngày 22/9/2009, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 03/2009/KDTM-PT ngày 16, 19/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và đề nghị Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo trình tự giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2008/KDTM-ST ngày 08, 09/10/2008 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng và Bản án phúc thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm, bảo đảm đúng quy định của pháp luật với nhận định (tóm tắt) như sau:

- Căn cứ vào nội dung Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005 ký giữa Công ty Sao Nam Phong với Trung tâm thiết kế điện và Hợp đồng số 23/HĐTV-P12-2005 ngày 05/11/2005 ký giữa Trung tâm thiết kế điện với Ban quản lý dự án lưới điện – Công ty điện lực Hà Nội về khảo sát, lập dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật xây dựng công trình “Cải tạo và sắp xếp lại cáp xuất tuyến tại E14”, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng lẽ ra Công ty cổ phần Sao Nam Phong và giữa Trung tâm thiết kế điện phải ký lại hợp đồng để thực hiện Hợp đồng số 23 nêu trên nhưng do cả hai bên đã thực hiện Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ, giữa Trung tâm thiết kế điện đã thanh toán 30% giá trị hợp đồng tạm tính nên Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ không bị vô hiệu.

- Theo Quyết định số Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 14/12/2007 và Quyết định số 1757/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 02/4/2008 của Công ty điện lực Hà Nội có hai khoản” chi phí lập dự án đầu tư là 162.687.876 đồng và chi phí thiết kế kỹ thuật là 262,872,704 đồng nhưng giữa Công ty cổ phần Sao Nam Phong và Trung tâm thiết kế điện mới nghiệm thu, bàn giao khối lượng công việc, chưa có Biên bản thanh lý Hợp đồng số 78 nên chưa xác định được nội dung công việc tại Điều 1 của Hợp đồng số 78 là lập Dự án đầu tư hay thiết kế kỹ thuật. Tại Biên bản hòa giải ngày 23/5/2008, Công ty Sao Nam Phong xác nhận: “theo phía chúng tôi thì chưa xác định được giá trị nhưng HaPec vẫn đang nợ chúng tôi tiền” (BL69, 70) và tại Biên bản hòa giải ngày 9/6/2008, Công ty Sao Nam Phong thừa nhận Công ty chỉ khảo sát lấy số liệu thực tế, tính toán để Trung tâm hoàn thiện hồ sơ thiết kế kỹ thuật (BL94, 95). Từ đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chưa có cơ sở để tính giá trị hợp đồng là phù hợp nhưng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Sao Nam Phong, không xem xét các yêu cầu khác của các đương sự là gây thiệt hại đến quyền lợi của Công ty Sao Nam Phong. Tòa án cấp phúc thẩm dựa vào 02 Quyết định nêu trên của Công ty điện lực Hà Nội để cho rằng Công ty Sao Nam Phong có đủ cơ sở để yêu cầu thanh toán nốt số tiền còn lại là không phù hợp với khoản 1 Điều 2 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ vì Công ty Sao Nam Phong và Trung tâm thiết kế điện chưa thanh lý để thống nhất Công ty Sao Nam Phong thực hiện phần nào của giá trị tư vấn thiết kế trong dự toán công trình chưa được phê duyệt. Cho nên, Công ty HaPec chưa có căn cứ thanh toán cho Công ty Sao Nam Phong.

- Ngoài ra, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn nêu nội dung Công văn số 040/CV-ĐLHN-P12 ngày 23/01/2009 của Ban quản lý dự án lưới điện Hà Nội gửi Công ty HaPec theo đó thì “về chi phí lập thiết kế kỹ thuật-dự toán: theo Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, tại Điều 39 đã nêu rõ: Tổng mức đầu tư dự án là khái toán chi phí của toàn bộ dự án được xác định trong giai đoạn lập dự án gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, các chi phí khác…Tổng mức đầu tư dự án được ghi trong quyết định đầu tư là cơ sở để lập kế hoạch quản lý vốn đầu tư, do đó, chi phí thiết kế ghi trong tổng mức đầu tư chỉ là giá trị khái toán, chưa xác định được chính xác giá trị này được làm cơ sở thanh toán” và “…sản phẩm thiết kế bản vẽ thi công-Dự toán công trình do bên B (Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội) lập đã hoàn thành và bàn giao cho bên B (Ban quản lý lưới điện Hà Nội) nhưng chưa được chủ đầu tư (Công ty điện lực Hà Nội) phê duyệt do đó chưa thể thanh toán được chi phí thiết kế cho Quý Công ty”. Với những nhận định trên, tổng hợp lại, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã có sai lầm trong đánh giá hợp đồng giữa Công ty cổ phần Sao Nam Phong với Công ty cổ phần tư vấn xây dựng điện lực Hà Nội, gây thiệt hại đến quyền lợi của các bên đương sự.

XÉT THẤY

Tại Điều 2 Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005, Công ty Sao Nam Phong và Trung tâm thiết kế thỏa thuận “…giá trị hợp đồng bằng 35% giá trị tư vấn (trước thuế) được phê duyệt theo quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền…” và “giá trị để thanh lý hợp đồng sẽ là giá trị của phần tư vấn thiết kế có ghi trong dự toán sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tại Điều 5 Hợp đồng nêu trên, hai bên cũng thỏa thuận “… số tiền còn lại sẽ được thanh toán hết theo giá trị tư vấn thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sau khi trừ số tiền tạm ứng đợt một”. Mặt khác, sau khi ký Biên bản nghiệm thu bàn giao khối lượng công việc hoàn thành ngày 11/11/2005 thì ngày 31/12/2006, Công ty Sao Nam Phong và Công ty HaPec đã lập Biên bản đối chiếu công nợ, theo đó thống nhất: giá trị hợp đồng chưa có giá trị tổng dự toán nên chưa có giá trị thiết kế…, số tiền Công ty HaPec nợ Công ty Sao Nam Phong chưa xác định được giá trị (vì chưa được phê duyệt), chưa có giá trị để thanh lý hợp đồng, chưa xác định được tổng dự toán được duyệt của công trình. Hai bên thống nhất thúc đẩy nhanh quá trình duyệt tổng dự toán và tổng mức đầu tư để kết thúc hợp đồng. Như vậy, căn cứ vào các tài liệu trên thì hai bên đã xác định giá trị tư vấn thiết kế sẽ được thanh lý, thanh toán khi dự toán của công trình “cải tạo sắp xếp lại hệ thống cáp xuất tuyến tại trạm 110 kV-Giám-E14” được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt/ Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Chủ đầu tư là Công ty điện lực Hà Nội mới phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình theo Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 14/12/2007 và phê duyệt tổng mức đầu tư hiệu chỉnh dự án trên theo Quyết định số 1757/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 02/4/2008. Tại Công văn số 155/HAPEC-TH ngày 23/6/2008 và Công văn số 202/PTH ngày 10/9/2008 của Công ty HaPec gửi Ban quản lý dự án lưới điện Hà Nội đã đề nghị Chủ đầu tư “xác nhận tại thời điểm này đề án thiết kế KTTC chưa được phê duyệt, do đó chưa xác định được giá trị phần KTTC làm cơ sở thanh toán các chi phí liên quan đến Công tác tư vấn thiết kế” và được Ban quản lý dự án lưới điện Hà Nội, thay mặt chủ đầu tư dự án xác nhận “hiện tại hồ sơ TKBVTC-DT công trình đang trình thẩm định tại P08, chưa được chủ đầu tư phê duyệt”. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định tại thời điểm xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm thì dự toán của công trình trên chưa được Công ty điện lực Hà Nội phê duyệt. Theo Điều 39, Điều 40, Điều 42 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ quy định về tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình và thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình và theo điểm 9 mục I Quyết định số 11/2005/QĐ-BXD ngày 15/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành định mức chi phí lập dự án và thiết kế xây dựng công trình thì: “Khi thương thảo để xác định giá trị hợp đồng giao nhận thầu thiết kế, chi phí xây dựng (hoặc chi phí thiết bị) được tạm xác định theo chi phí xây dựng (hoặc chi phí thiết bị) trong tổng mức đầu tư được duyệt để tạm để tạm xác định giá trị hợp đồng. Giá trị thanh toán của hợp đồng giao nhận thầu thiết kế được tính theo chi phí xây dựng (hoặc chi phí thiết bị) trong tổng dự toán hoặc dự toán được duyệt”. Với những phân tích và quy định của pháp luật đã dẫn ở trên thì việc Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Quyết định số 6469/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 14/12/2007 và Quyết định số 1757/QĐ-ĐLHN-P08 ngày 02/4/2008 của Công ty điện lực Hà Nội để buộc Công ty HaPec phải thanh toán giá trị tư vấn thiết kế còn lại là 121.946.203 đồng và tiền lãi chậm thanh toán của số tiền trên là 23.608.000 đồng là không phù hợp với thỏa thuận của hai bên đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án này. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì Công ty Sao Nam Phong “chưa đủ điều kiện khởi kiện” đối với vụ án này. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tại trang 9 của bản án sơ thẩm “…Mặc dù Công ty Sao Nam Phong đã thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng chưa có cơ sở để tính giá trị hợp đồng, do vậy cũng chưa có căn cứ để thanh lý hợp đồng” là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhưng việc quyết định “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Sao Nam Phong …không xem xét các yêu cầu khác của các bên đương sự” là không đúng với quy định tại khoản 2, Điều 192, điểm đ khoản 1 Điều 168 và khoản 3 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, theo thỏa thuận tại Điều 2 và Điều 5 của Hợp đồng số 78/HĐKT-TTTKĐ ngày 15/6/2005 đã ký giữa các bên, quan điểm và cam kết của Công ty HaPec thể hiện tại các Văn bản ngày 20/7/2008, ngày 05/01/2009 về việc khi cơ quan có thẩm quyền duyệt thiết kế, tổng dự toán và giá trị tư vấn thiết kế, Công ty sẽ cùng Công ty Sao Nam Phong thanh lý hợp đồng và nội dung Công văn số 040/CV-ĐLHN-P12 ngày 23/01/2009 của Ban quản lý dự án lưới điện Hà Nội gửi Công ty HaPec thì không cần thiết áp dụng khoản 2 Điều 192 và khoản 3 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự để hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện… cho Công ty Sao Nam Phong, cũng như giải quyết tiền tạm ứng án phí Công ty Sao Nam Phong đã nộp khi khởi kiện mà cần hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 03/2009/KDTM-PT ngày 16, 19/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2008/KDTM-ST ngày 08, 09/10/2008 của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật theo hướng: nếu trong quá trình thụ lý lại vụ án mà Công ty Sao Nam Phong cung cấp được tài liệu chứng minh giá trị tư vấn thiết kế ghi trong dự toán đã được chủ đầu tư phê duyệt thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trong trường hợp Công ty Sao Nam Phong chưa có tài liệu để chứng minh nghĩa vụ của Công ty HaPec trong việc thanh toán giá trị tư vấn thiết kế còn lại thì cần căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 168, khoản 2 Điều 192 và khoản 3 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho Công ty Sao Nam Phong ; đồng thời, trả lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty Sao Nam Phong .

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291; khoản 3 Điều 297; khoản 1, 3 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 03/2009/KDTM-PT ngày 16, 19/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2008/KDTM-ST ngày 08, 09/10/2008 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội để xét xử sở thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật


147
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về