Quyết định giám đốc thẩm 27/2008/DS-GĐT ngày 07/10/2008 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 27/2008/DS-GĐT NGÀY 07/10/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN 

Ngày 07 tháng 10 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa:

Nguyên đơn:

1. Ông Nguyễn Văn Tấn sinh năm 1944; ông Tấn ủy quyền cho vợ là bà Nguyễn Thị Lắc sinh năm 1946 theo giấy ủy quyền đề ngày 20-8-2003 và 15-3-2005;

2. Bà Nguyễn Thị Dùng sinh năm 1934;

3. Chị Nguyễn Thị Điệm (chị Điệm đã chết trước khi xét xử phúc thẩm);

4. Chị Nguyễn Thị Đành sinh năm 1966;

5. Chị Nguyễn Thị Điểm sinh năm 1969;

6. Chị Nguyễn Thị Bình sinh năm 1971;

Ông Tấn, bà Dùng, chị Đành, chị Điểm, chị Bình đều trú tại: khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

6. Anh Nguyễn Thanh sinh năm 1951;

7. Chị Nguyễn Thị Ánh sinh năm 1957;

8. Chị Nguyễn Thị Én sinh năm 1963;

9. Anh Nguyễn Minh  sinh năm 1968;

10. Chị Nguyễn Thị Phượng sinh năm 1962;

Anh Thanh, chị Ánh, chị Én, anh Minh, chị Phượng đều trú tại: Phước Lộc 1, xã Hòa Thành, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn: Ông  Nguyễn Văn Thành sinh năm 1926; ông Thành ủy quyền cho con gái là chị Nguyễn Thị Lũy sinh năm 1970; ông Thành và chị Lũy đều trú tại: khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (theo giấy ủy quyền đề ngày 23-4-2003).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị Dệt sinh năm 1944; bà Dệt ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Thủy sinh năm 1968 theo giấy ủy quyền đề ngày 22-3-2005;

2. Chị Nguyễn Thị Thủy sinh năm 1968;

3. Bà Huỳnh Thị Đào sinh năm 1940;

Bà Dệt, chị Thủy, bà Đào đều trú tại: khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú yên.

4. Ông Trần Văn Linh; trú tại: khóm 4, thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 05-12-2001 và các lời khai của các nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì:

Cụ Nguyễn Ất (chết năm 1964) có vợ là cụ Lê Thị Xuân (chết năm 1984), đều không để lại di chúc, có mười hai người con chung nhưng chết lúc nhỏ sáu người còn lại sáu người là: ông Nguyễn Văn Thành, bà Nguyễn Thị Kỹ (chết năm 1994, chồng là ông Nguyễn Mới chết năm 1977, có năm người con là anh Nguyễn Thanh, chị Nguyễn Thị Ánh, chị Nguyễn Thị Én, anh Nguyễn Minh và chị Nguyễn Thị Phượng), bà Nguyễn Thị Dùng, ông Nguyễn Văn Hòa (chết năm 1973, có vợ là bà Huỳnh Thị Đào, có bốn người con là chị Nguyễn Thị Điệm, chị Nguyễn Thị Đành, chị Nguyễn Thị Điểm và chị Nguyễn Thị Bình), ông Nguyễn Ân (chết năm 1974, có vợ là bà Trương Thị Dệt, có một con là chị Nguyễn Thị Thủy), ông Nguyễn Văn Tấn.

Tài sản chung của vợ chồng cụ Ất và cụ Xuân gồm có: 01 nhà cấp 4, 01 nhà phụ, sân, giếng làm trên diện tích đất 1.397,1m2 (diện tích thực tế đo ngày 03-01-2003). Đất thổ cư và vườn (diện tích đất nêu trên) có nguồn gốc do cha, mẹ cụ Ất cho cụ Ất 02 sào, 14 thước 7 tấc tại khóm 2, thị trấn Phú Lâm, huyện Tuy Hòa (nay là phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa), tỉnh Phú Yên.

Sau khi cụ Ất chết, vợ chồng ông Thành ở chung với cụ Xuân. Sau khi cụ Xuân chết, ông Thành quản lý, sử dụng nhà và diện tích 639,73m2 đất.

Trên diện tích đất nêu trên thì năm 1968, vợ chồng ông Ân xây dựng nhà trên khu vườn về phía Nam; năm 1975, vợ chồng ông Tấn xây nhà trên khu vườn phía Bắc; năm 1977, ông Thành chuyển nhượng cho ông Trần Văn Linh 56m2 đất.

Năm 1992, các hộ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất ở cụ thể:

- Ông Thành đăng ký diện tích 510m2 (nhưng diện tích thực tế đo ngày 03-01-2003 là 703,7m2, sau đó Nhà nước làm đường quốc lộ đi qua đất thì số đất còn lại đo ngày 15-3-2005 là 573,73m2).

- Ông Tấn đăng ký diện tích 245m2 (nhưng diện tích thực tế đo ngày 03-01-2003 là 278,8m2, sau đó Nhà nước là đường quốc lộ đi qua đất thì số đất còn lại đo ngày 15-3-2005 là 220,01m2).

- Chị Thủy (con của ông Ân) đăng ký diện tích 300m2. Năm 1995, chị Thủy bán một phần cho ông Trần Văn Linh, diện tích còn lại thực tế sau khi Nhà nước làm đường quốc lộ đi qua đất là 249,18m2.

- Ông Linh đã đăng ký kê khai diện tích 169,5m2 đất (nhưng diện tích thực tế đo sau khi Nhà nước làm đường quốc lộ đi qua đất là 155,03m2).

Hiện tại tất cả các hộ nêu trên đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn yêu cầu chia toàn bộ nhà và diện tích đất 1.197,95m2 (diện tích cũ là 2 sào 14 thước 7 tấc đất nhưng sau làm đường đi qua đất nên chỉ còn là 1.197,95m2) là di sản thừa kế của cụ Ất, cụ Xuân theo pháp luật. Ngày 12 và 18-3-2005, chị Đành đã làm giấy nhường quyền hưởng kỷ phần di sản thừa kế của chị cho ông Tấn. Ngày 21-3-2005, bà Dùng, chị Điệm, chị Điểm, chị Bình, anh Thanh, chị Ánh, chị Én, anh Minh, chị Phượng đã làm giấy nhường quyền hưởng kỷ phần di sản thừa kế của bà và các anh, chị cho ông Tấn.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn Thành thừa nhận lời khai của các nguyên đơn về quan hệ huyết thống, di sản thừa kế của cụ ất, cụ Xuân; nhưng cho rằng khi cha, mẹ còn sống đã chia nhà, đất (bằng miệng) cho các con như các bên đang sử dụng nên không đồng ý chia lại theo yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Dệt và chị Nguyễn Thị Thủy thừa nhận lời khai của các nguyên đơn về quan hệ huyết thống, di sản của cụ ất, cụ Xuân và quá trình sử dụng đất nhưng đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị Đào trình bày sau khi ông Hòa chết bà đã đi lấy chồng khác nên không nhận thừa kế.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/DSST ngày 01-7-2003, Tòa án nhân dân huyện Tuy Hòa đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, chia giá trị di sản thừa kế là 1 ngôi nhà cấp 4 kèm theo sân nhà, giếng nước và giá trị 100m2 đất ở nằm ở trong thửa đất có diện tích 703,7m2 của bị đơn ông Nguyễn Văn Thành đang quản lý sử dụng; giao cho bị đơn ông Nguyễn Văn Thành được tiếp tục sở hữu ngôi nhà cấp 4 kèm theo sân nhà và giếng nước và giá trị 100m2 đất có giá trị là 77.886.170đ và thanh toán giá trị cho các thừa kế khác.

Ngày 09-7-2003, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Hòa kháng nghị cho rằng di sản thừa kế của cụ Ất, cụ Xuân không còn để chia, đề nghị Tòa án bác yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn.

Ngày 11-7-2003, các đồng nguyên đơn kháng cáo cho rằng di sản của cụ ất, cụ Xuân là nhà xây gạch, sân, giếng nước trên phần đất là 2 sào 14 thước 7 tấc nhưng Tòa án chỉ xác định có nhà, giếng nước và 100m2 để chia là không đúng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 60/DS-PT ngày 19-9-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Bác yêu cầu chia thừa kế của các đồng nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn Thành chia di sản thừa kế của cụ Ất, cụ Xuân.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Tấn, bà Dùng, chị Điệm, anh Thanh khiếu nại giám đốc thẩm yêu cầu chia thừa kế nhà và diện tích đất 1.197,2m2 theo pháp luật.

Tại quyết định số 58/KNDS ngày 16-8-2004 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:

Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 60/DS-PT ngày 19-9-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về việc giải quyết việc tranh chấp thừa kế giữa các nguyên đơn do ông Nguyễn Văn Tấn đại diện với bị đơn là ông Nguyễn Văn Thành.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 133/GĐT-DS ngày 28-10-2004, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 60 ngày 19-9-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số 15 ngày 01-7-2003 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Hòa; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2005/DSST ngày 08-4-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn do ông Nguyễn Văn Tấn đại diện theo ủy quyền xin chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Ất và cụ Lê Thị Xuân gồm 01 ngôi nhà cấp 4 gắn liền với diện tích đất 889,68m2 trị giá 1.268.390.774đ tại khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên do ông Nguyễn Văn Thành, ông Nguyễn Văn Tấn, bà Trương Thị Dệt, chị Nguyễn Thị Thủy đang quan lý; chia hiện vật cho ông Thành, ông Tấn, bà Dệt, chị Thủy và chia giá trị cho các thừa kế khác.

Ngày 21-4-2005, chị Nguyễn Thị Thủy kháng cáo.

Ngày 22-4-2005, ông Nguyễn Văn Thành kháng cáo.

Ngày 22-4-2005, ông Nguyễn Văn Tấn kháng cáo.

Ngày 22-4-2005, bà Nguyễn Thị Dùng, chị Nguyễn Thị Điệm, anh Nguyễn Thanh kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 47/2005/DS-PT ngày 05-8-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã quyết định:­

- Chấp nhận đơn khởi kiện của các đồng nguyên đơn do ông Nguyễn Văn Tấn làm đại diện theo ủy quyền, giải quyết thừa kế theo pháp luật và chia di sản của cố Nguyễn Ất và cố Lê Thị Xuân gồm một nhà cấp bốn gắn liền với diện tích đất 1.196,66m2, giá trị di sản 1.638.420.000đ. Nhà và đất được tọa lạc tại khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa hiện do ông Nguyễn Văn Thành, ông Nguyễn Văn Tấn, bà Trương Thị Dệt và chị Nguyễn Thị Thủy quản lý.

- Các ông bà: Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thị Kỹ, Nguyễn Thị Dùng, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Ân và ông Nguyễn Văn Tấn mỗi người được hưởng một phần thừa kế trị giá 273.070.000đ.

- Công nhận việc nhường quyền hưởng di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Dùng; các con bà Nguyễn Thị Kỹ; các con ông Nguyễn Văn Hòa cho ông Nguyễn Văn Tấn sở hữu và xây dựng nhà thờ cha mẹ.

- Ông Nguyễn Văn Tấn được chia quyền sử dụng đất diện tích 401,94m2 tại thửa số 22, tờ bàn đồ 328C.1 (có sơ đồ kèm theo). Được nhận tiền thối lại từ ông Nguyễn Văn Thành 202.772.000đ; từ bà Trương Thị Dệt và chị Nguyễn Thị Thủy 242.555.000đ.

- Ông Nguyễn Văn Thành được chia sở hữu một ngôi nhà cấp 4 gắn với diện tích đất 391,9m2 tại thửa số 23, tờ bản đồ số 328-C.1 (có sơ đồ kèm theo) và được nhận phần hưởng di sản của bà Huỳnh Thị Đào 54.614.000đ. Ông Thành có nghĩa vụ thối lại cho ông Tấn 202.772.000đ.

- Bà Trương Thị Dệt và chị Nguyễn Thị Thủy được chia quyền sử dụng đất diện tích 249,18m2 tại thửa số 03-24, tờ bản đồ 328-C.1 (có sơ đồ kèm theo). Đồng thời có nghĩa vụ thối lại cho ông Nguyễn Văn Tấn 242.555.000đ.

Ông Nguyễn Văn Tấn, ông Nguyễn Văn Thành, bà Trương Thị Dệt và chị Nguyễn Thị Thủy liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm do chậm thi hành án.

Sau khi xét xử phúc thẩm, chị Thủy có đơn khiếu nại cho rằng bản án phúc thẩm đưa số tiền mà chị đã bán 155m2 đất cho ông Linh vào để chia thừa kế và không trích 300m2 đất để trả công sức cho gia đình chị, gia đình ông Thành, gia đình bà Dệt là không đúng.

Tại Công văn số 2360/TANDTC-DS ngày 08-11-2005, Tòa án nhân dân tối cao đã trả lời khiếu nại của chị Thủy.

Sau khi xét xử phúc thẩm Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên có Công văn số 04/CV-THA ngày 09-01-2007, đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm vì phần đất diện tích 127,6m2 mà bản án buộc ông Thành phải giao cho ông Tấn thì trên phần đất này có nhà dưới cấp 4, bếp, chuồng lợn, chái ngói, nhà cấp 4 làm cửa hàng sắt của ông Thành đã có trước khi khởi kiện nhưng Tòa án chưa giải quyết nên không thi hành án được.

Tại quyết định số 111/2008/KN-DS ngày 19-5-2008 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định:

Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 47 ngày 05-8-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án tòa án nhân dân tối cao; hủy bản án dân sự phúc thẩm số 47 ngày 05-8-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 08-4-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Ngôi nhà tranh vách đất làm trên diện tích đất 1.196,66m2 (số đo thực tế) tại khóm 2, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đang có tranh chấp có nguồn gốc là của cha, mẹ của cụ Nguyễn Ất cho cụ Ất. Năm 1959, bão lụt làm sập ngôi nhà tranh nên vợ chồng cụ Ất xây dựng lại nhà cấp 4, nền xi măng, vách xây gạch, mái lợp ngói vẩy và một căn nhà phụ vách đất, nền đất, mái lợp tole. Cụ ất chết năm 1964, có vợ là cụ Lê Thị Xuân chết năm 1984; cả hai cụ chết đều không để lại di chúc. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định di sản thừa kế của hai cụ là nhà và diện tích đất 1.196,66m2  để chia thừa kế theo pháp luật và chia đất cho các bên đương sự là có căn cứ và phù hợp với thực tế.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định sau khi các cụ chết thì vợ chông ông Ân xây nhà ở riêng trên khu vườn về phía Nam, vợ chồng ông Tấn xây nhà ở riêng trên khu vườn về phía Bắc, vợ chồng ông Thành ở tại nhà của cha, mẹ và năm 1993, ông Thành dỡ nhà vách đất, mái tole đi để xây dựng lại thành một ngôi nhà tường xây, lợp ngói và làm thêm một ngôi nhà dùng làm cửa hàng gia công cửa sắt. Như vậy, trước khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì trên phần đất do ông Thành quản lý đã tồn tại một số tài sản của ông Thành. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định chia cho ông Tấn được quyền sử dụng 401,94m2 trong đó có 181,93m2 đất này lại có một ngôi nhà dưới, một ngôi nhà dùng làm cửa hàng sắt, chuồng lợn, nhà bếp của ông Thành, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét giải quyết buộc ông Thành phải dỡ bỏ hay buộc ông Tấn phải thanh toán lại giá trị tài sản cho ông Thành là có thiếu sót, chưa đảm bảo quyền lợi cho ông Thành và khó khăn cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 47 ngày 05-8-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và bản án dân sự sơ thẩm số 01/2005/DSST ngày 08-4-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Tấn, bà Nguyễn Thị Dùng, chị Nguyễn Thị Đành, chị Nguyễn Thị Điểm, chị Nguyễn Thị Bình, anh Nguyễn Thanh, chị Nguyễn Thị Ánh, chị Nguyễn Thị Én, anh Nguyễn Minh, chị Nguyễn Thị Phượng với bị đơn là ông Nguyễn Văn Thành.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chia di sản (là đất) cho các đương sự nhưng lại không xem xét giải quyết tài sản có trên đất là thiếu sót.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 27/2008/DS-GĐT ngày 07/10/2008 về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản

Số hiệu:27/2008/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/10/2008
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về