Quyết định giám đốc thẩm 27/2014/HC-GĐT về khiếu kiện quyết định hành chính về hủy kết quả đấu thầu

TÒA HÀNH CHÍNH TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 27/2014/HC-GĐT NGÀY 24/09/2014 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH VỀ HỦY KẾT QUẢ ĐẤU THẦU

Ngày 24 tháng 9 năm 2014, tại trụ sở Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính đổi với “Quyết định hành chính về huỷ kết quả đấu thầu” giữa:

Người khởi kiện: Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh

Địa chỉ: số 121 ấp 4, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Hoài Anh - Giám đốc Công ty; tạm trú tại số: 570/39B Điện Biên Phủ, Phường 10, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cừu, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ khu phố 5, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn Thanh Sơn - Chủ tịch ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Quang Tú - cán bộ ƯBND thị trấn Vĩnh An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. UBND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Lý - Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương - Chánh Thanh tra huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

2. Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ

Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Nữ - Giám đốc Công ty

Địa chỉ: 1/7 ấp 1, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

3. Công ty TNHH xây dựng Kim Quy

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn Tình - Giám đốc Công ty; địa chỉ: 75, tổ 17, khu phố 2, phường Bình Đa, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

4. Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư xây lắp Lập Tín

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Chí Hùng - Giám đốc Công ty; địa chỉ: J12, khu phố 2, phường Bửu Long, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN THẤY

Ngày 08/4/2010, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu có Công văn số 699/UBND-KT về việc giao UBND thị trấn Vĩnh An làm Chủ đầu tư dự án thi công xây dựng đường liên tổ 2-4-5 khu phố 2, thị trấn Vĩnh An. Tổng mức đầu tư là 14.056.862.592 đồng, trong đó:

- Chí phí xây dựng là 9.322.550.201 đồng.

- Nguồn vốn đầu tư: hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm trong đó:

+ Ngân sách tỉnh hồ trợ: 40% xây lắp: 3.729.020.000đ

+ Ngân sách huyện năm 2011             : 7.736.455.072đ

+ Nhân dân đóng góp                        : 2.591.387.520đ

-  Đơn vị quản lý dự án, thẩm tra mời thầu và kết quả đấu thầu: Công ty TNHH xây dựng Kim Quy.

-  Đơn vị lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu: Công ty TNHH tư đầu tư vấn xây dựng Lập Tín.

- Đơn vị thẩm tra hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu: Công ty TNHH xây dựng Kim Quy.

- Đơn vị giám sát: Công ty TNHH xây dựng Kim Quy.

Sau khi được giao làm Chủ đầu tư dự án, ngày 24/11/2010, UBND thị trấn Vĩnh An có Tờ trình số 119/TTr-UBND trình Phòng Tài chính kế hoạch huyện Vĩnh Cửu xem xét, thẩm định sau đó trình UBND huyện Vĩnh Cửu phê duyệt kế hoạch đấu thầu và đã thực hiện việc đấu thầu.

Ngày 25/4/2011, Chủ tịch UBND thị trấn Vĩnh An ra Quyết đinh số 74/QĐ- UBND về việc phê duyệt kết quả đấu thầu gói thầu xây lắp thuộc công trình đường liên tổ 2-4-5 khu phố 2 thị trẫn Vĩnh An. Đơn vị trúng thầu là Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh.

Sau khi trúng đấu thầu, ngày 26/4/2011, Chủ đầu tư - ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An và Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh đã ký kết Họp đồng kinh tế số 072/2011/HĐKT về việc thi công xây dựng công trình Đường liên tổ 2, 4, 5 khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Thực hiện họp đồng xây lắp trên, Liên doanh Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh và Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ đã thi công được gần 30% khối lượng xây lắp theo thỏa thuận của hợp đồng nhưng ngày 08/11/2011, ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An ra Thông báo số 131/UBND hủy bỏ kết quả đấu thầu đường liên tổ 2, 4, 5 khu phố 2, thị trấn Vĩnh An.

Không đồng ý với thông báo nêu trên, ngày 30/11/2011 Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh do bà Nguyễn Hoài Anh là giám đốc công ty có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án hủy bỏ Thông báo số 131/UBND ngày 08/11/2011 của ƯBND thị trấn Vĩnh An về việc hủy bỏ kết quả đấu thầu đường liên tổ 2,4,5 khu phố 2, thị trấn Vĩnh An và ngày 04/4/2012 có đơn khởi kiện bổ sung đề nghị Tòa án hủy Kết luận thanh tra số 523/KL-UBND ngày 20/10/2011 của ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2012/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh; giữ nguyên Quyết định số 131/UBND ngày 08/11/2011 của ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An về việc hủy bỏ kết quả đấu thầu đường 2, 4, 5 khu phổ 2, thị Trấn Vĩnh An.

Ngày 06/7/2012, Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Thông báo số 131/UBND ngày 08/11/2011 của ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An và Ket luận thanh tra số 523/KL-UBND ngày 20/10/2011 của ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; buộc ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An (chủ đầu tư) phải khôi phục và tiếp tục thực hiện hợp đồng thi công xây dựng đường liên tổ 2, 4, 5 đã ký với Liên doanh Nguyễn Hoài Anh và Công ty TNHH Ngọc Nữ.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

“Bác kháng cáo của Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh, sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm so 01/20Ỉ2/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu về phần án phí.

Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh, về việc yêu cầu huy Quyết định số 131/UBND ngày 08/11/2011 của UBND thị trấn Vĩnh An.

Ngày 19/02/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trối cao đã có Quyết định số 02/2014/QĐKN-HC kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, với nội dung: “Kháng nghị đổi với Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và đề nghị Tòa Hành chính Tòa án nhãn dân toi cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và Bản án hành chỉnh sơ thẩm số 01/2012/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; giao hổ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Tạm đình chỉ thi hành Bản án hành chính phúc thấm so 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cho đến khi cỏ Quyết định giám đốc thẩm của Tòa hành chính Toà án nhân dân tối cao ”.

Lý do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị như sau:

Công việc tổ chức đấu thầu đã thực hiện xong và đcm vị trúng đấu thầu là Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh (sau đó) Chủ đầu tư (ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An) và Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh đã ký Họp đồng xây dựng số 072/2011/HĐKT ngày 26/4/2011 và đã thi công được gần 30% khối lượng công trình.

Việc UBND thị trấn Vĩnh An là Chủ đầu tư dự án ra Thông báo số 131/UBND ngày 08/11/2011 hủy kết quả đấu thầu công trình Đường liên tổ 2, 4, 5 là trái với quy định của Điều 43 Luật đấu thầu năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 66 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng và qui định pháp luật về hợp đồng kinh tế.

Vì việc hủy kết quả đấu thầu chỉ được tiến hành trước khi phê duyệt kết quả đấu thầu và trước khi ký hợp đồng. Trong thực tế ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An đã thẩm định và tiến hành ký Hợp đồng và Công ty Nguyễn Hoài Anh đã thi công và hoàn thành một sổ hạng mục của công trình, đã được nghiệm thu đảm bảo chất lượng do đó không thể kết luận Công ty Nguyễn Hoài Anh không đủ năng lực thi công công trình.

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Nguyễn Hoài Anh; giữ nguyên Quyết định sổ 131/UBND ngày 8/11/2011 của UBND thị trấn Vĩnh An về việc huỷ bỏ kết quả đấu thầu đường 2-4-5, thị trấn Vĩnh An (đơn phương chấm dứt họp đồng) là không có căn cứ, trái pháp luật về đấu thầu và pháp luật về hợp đồng kinh tế dẫn đến hậu quả việc thi công đã bị dừng lại đến nay.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Theo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như nội dung Kết luận thanh tra số 523/KL-UBND ngày 20/10/2011 cho thấy dự án đường liên tổ 2-4-5 khu phố 2, thị trấn Vĩnh An được Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu quyết định đầu tư tại Văn bản 699UBND-KT ngày 08/4/2010 với tổng mức vốn 14.056.862592 đồng chủ yếu là ngân sách Nhà nước, nhân dân chỉ đóng góp 2.591.387.520 đồng (là đất và tài sản trên đất), UBND thị trấn Vĩnh An là chủ đầu tư dự án. Như vậy, nếu căn cứ vào khoản 8 Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung Luật đấu thầu năm 2009 thì người có thẩm quyền trong dự án này là UBND huyện Vĩnh Cửu.

Căn cứ khoản 1 Điều 66 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP thì hủy, đình chỉ hoặc không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu là biện pháp của người có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu... như vậy trong trường họp này nếu có căn cứ để hủy, đình chỉ, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu thì cũng thuộc thẩm quyền của UBND huyện Vĩnh Cửu, không thuộc thẩm quyền của UBND thị trấn Vĩnh An và như vậy nếu coi thông báo số 131/UBND ngày 8/11/2011 của Chủ tịch UBND thị trấn vĩnh An là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thì văn bản này cũng là không đúng thấm quyền. Hơn nữa nếu văn bản này được ban hành trên cơ sở của Kết luận thanh tra 523 /KL-UBND ngày 20/10/2011 nêu trên thì phần xử lý sai phạm được nêu trong kết luận là: “Giao trưởng phòng Tài Chỉnh - Kế hoạch tham mưu UBND huyện lập quyết định hủy đẩu thầu'’ trong kết luận này cũng không giao UBND thị trấn Vĩnh An quyết định hủy đấu thầu. Căn cứ vào luật đấu thầu và văn bản hướng dẫn thì cũng không có quy định UBND huyện có thể ủy quyền cho UBND cấp dưới thực hiện quyền hủy đấu thầu.

về căn cứ hủy đấu thầu quy định tại điểm d Điều 43 Luật Đấu thầu “Có bằng chứng cho thấy tất cả các nhà thầu cỏ sự thông đồng làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên mời thầu”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 66 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP quy định hủy đấu thầu, tại khoản 3 Điều 66 quy định: “Đình chỉ hoặc không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu được áp dụng khi cỏ bằng chứng cho thấy tổ chức, cá nhân tham gia đẩu thầu có hành vỉ vỉ phạm pháp luật về đẩu thầu hoặc các quy định khác của pháp luật có liên quan dẫn đến không đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu, làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu”...Trong các điều viện dẫn trên không có quy định nào có cụm từ hủy bỏ kết quả đấu thầu như trong thông báo 131/UBND ngày 8/11/2011 của Chủ tịch UBND thị trấn Vĩnh An. Cũng tại khoản 3 Điều 66 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP quy định: Biện pháp đình chỉ được áp dụng để khắc phục ngay vi phạm đã xảy ra và được thực hiện đến trước khi phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Biện pháp không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu được thực hiện từ ngày phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đến trước khi ký kết hợp đồng.

Như vậy, theo quy định trên thì căn cứ để hủy đấu thầu (Điều 43 Luật Đấu thầu) hoặc đình chỉ, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu đều quy định là phải có bằng chứng, trong khi Kết luận thanh tra số 523/KL-UBND ngày 20/10/2011 mới kết luận có dấu hiệu vi phạm, như vậy chưa đủ căn cứ vững chắc để hủy, hoặc không công nhận kết quả đấu thầu. Hơn nữa, theo quy định trên thì biện pháp không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu phải thực hiện trước khi ký họp đồng. Khi giải quyết lại vụ án cũng cần làm rõ trong trường hợp này là hủy đấu thầu hay là không công nhân kết quả lựa chọn nhà thầu vì hai khái niệm này được xử lý ở hai giai đoạn khác nhau, trong trường hợp này quyết định của ƯBND huyện Vĩnh Cửu hủy đấu thầu nhưng lại ở giai đoạn bên trúng thầu đã được bên mời thầu công nhận kết quả, sau đó hai bên đã ký hợp đồng thi công xây dựng để thực hiện dự án và bên trúng thầu đã thực hiện được 17,81% giá trị công trình (Kết luận 523 nêu) là không đúng quy định trên. Do đó, tại quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nhận định: Công việc tổ chức đấu thầu đã thực hiện xong và đon vị trúng đấu thầu là Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh (sau đó) Chủ đầu tư (ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An) và Liên doanh Công ty TNHH xây dựng Ngọc Nữ và Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh đã ký Hợp đồng xây dựng số 072/2011/HĐK ngày 26/4/2011 và đã thi công được gần 30% khối lượng công trình. Việc UBND thị trấn Vĩnh An là Chủ đầu tư dự án ra Thông bảo sổ 131/UBND ngày 08/11/2011 hủy kết quả đấu thầu công trình Đường liên tổ 2, 4, 5 là trái với qui định của Điêu 43 Luật đấu thầu năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 66 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 củă chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng và qui định pháp luật về hợp đồng kinh tế.

Vĩ việc huỷ kết quả đấu thầu chỉ được tiến hành trước khỉ phê duyệt kết quả đẩu thầu và trước khỉ ký hợp đồng. Trong thực tế ủy ban nhân dân thị trấn Vinh An đã thẩm định và tiến hành ký Hợp đồng và Công ty Nguyễn Hoài Anh đã thi công và hoàn thành một số hạng mục của công trình, đã được nghiệm thu đảm bảo chát lượng do đó không thể kết luận Công ty Nguyễn Hoài Anh không đủ năng lực thỉ công công trình.

Xem xét nội dung của Văn bản 131/UBND ngày 8/11/2011 của Chủ tịch UBND thị trấn Vĩnh An cũng không rõ đây là văn bản quyết định hủy kết quả đấu thầu hay chỉ là thông báo kết quả hủy đấu thầu của Kết luận 523 KL-UBND ngày 20/10/2011 của Chủ tịch ƯBND huyện Vĩnh Cửu, do đó, Tòa án các cấp chỉ xác định Thông báo 131 nêu trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là chưa chính xác và nếu trong trường hợp này người khởi kiện chỉ khởi kiện đối với Thông báo 131 thì cũng phải xem xét cả Kết luận 523 vì trong kết luận này mới nêu những căn cứ đế hủy kết quả đấu thầu, tại Thông báo 131 chỉ nêu căn cứ là thực hiện nội dung Kết luận 523. Bản án sơ thẩm cho rằng người khởi kiện đã rút yêu cầu khởi kiện Kết luận 523 nên không xét, và Bản án phúc thẩm cho rằng người khởi kiện kháng cáo và yêu cầu hủy Kết luận 523 là vượt quá yêu cầu khởi kiện và không xét đề nghị này của người khởi kiện là chưa đánh giá đúng bản chất của sự việc.

Tại điều 71 Luật sửa đổi Luật đấu thầu năm 2009 quy định về thanh tra đấu thầu:

“1. Thanh tra đấu thầu được tiến hành đổi với tổ chức, cả nhân liên quan đến hoạt động đấu thầu đế thực hiện gói thầu thuộc dự án quy định tại Điều 1 của Luật này.

2. Thanh tra đẩu thầu là thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực đẩu thầu. Tổ chức và hoạt động của thanh tra đẩu thầu được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Căn cứ vào Quyết định số 1835/QĐ-UBND ngày 02/6/2011 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu về thành lập Đoàn thanh tra để thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác đấu thầu đối với công trình Đường liên tổ 2-4-5, khu phổ 2, thị trấn Vĩnh An thì đây có phải là thanh tra chuyên ngành không.

Theo giải thích từ ngữ tại Điều 4 Luật thanh tra năm 2004 thì Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực...Theo quy định tại mục 2 Nghị định 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra về hoạt động của thanh tra chuyên ngành là thuộc thẩm quyền của cấp Bộ và cấp Sở vậy trong trường họp này Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu về thành lập Đoàn thanh tra để thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác đấu thầu có đúng thẩm quyền theo quy định trên không cần phải được làm rõ.

Từ những căn cứ nêu trên, thấy rằng Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2012/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Nguyễn Hoài Anh đổi với Quyết định so 131/UBND ngày 08/11/2011 của ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh An về việc huỷ bỏ kết quả đấu thầu đường 2,4,5 khu phổ 2, thị Trấn Vĩnh An, là chưa có căn cứ.

Do vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và đề nghị Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2012/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai để xét xử sơ thẩm lại theo qui định của pháp luật là có căn cứ và phù họp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 219; khoản 3 Điều 225 Luật tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/2014/QĐKN-HC ngày 19/2/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2012/HCPT ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2012/HCST ngày 06/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; 


174
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 27/2014/HC-GĐT về khiếu kiện quyết định hành chính về hủy kết quả đấu thầu

Số hiệu:27/2014/HC-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:24/09/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về