Quyết định giám đốc thẩm 29/2013/DS-GĐT ngày 23/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và bị đơn chị Trần Thị Thanh Tuyền

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 29/2013/DS-GĐT NGÀY 23/4/2013 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ GIỮA NGUYÊN ĐƠN BÀ NGUYỄN THỊ THANH XUÂN VÀ BỊ ĐƠN CHỊ TRẦN THỊ THANH TUYỀN 

Ngày 23 tháng 4 năm 2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân (Nancy Sue Nguyen) sinh năm 1960.

Địa chỉ liên hệ tại Việt Nam: số 28 đường số 03, khu phố 01, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Xuân ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Xuân Phượng sinh năm 1976; trú tại 327/9 Nơ Trang Long, phường 13, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2008).

Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh Tuyền sinh năm 1972; trú tại 98/30 đường Cách Mạng Tháng 8, phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Lê Thị Xuyến, sinh năm 1933;

2. Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1957;

Cụ Xuyến, bà Thủy cùng trú tại 13112 Safford St. Gardeb Grove - CA 92843 USA.

3. Bà Đoàn Thị Bích Chương sinh năm 1961;

4. Ông Trần Văn Đình sinh năm 1956;

Bà Chương, ông Đình đều trú tại 15892 Milles Circles - Wesmimter - CA 92683 USA.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 04/11/2004 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân trình bày:

Năm 1994, do pháp luật chưa cho phép Việt kiều được quyền mua nhà ở Việt Nam, nên bà đã gửi tổng cộng là 18.250 USD về cho chị Trần Thị Thanh Tuyền (cháu của bà) để nhờ mua nhà. Năm 1999, thông qua người quen giới thiệu, bà đã tìm được nhà. Ngày 20/4/1999, bà cùng với vợ chồng ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Vũ Thị Sai có lập giấy thỏa thuận việc mua bán nhà, theo đó, vợ chồng ông Hiếu, bà Sai bán cho bà căn nhà số 98/30 Thăng Long, phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, với giá là 120 lượng vàng SJC. Do không thể đứng tên trên hợp đồng, nên bà để chị Trần Thị Thanh Tuyền đứng tên trong hợp đồng (hợp đồng có công chứng). Sau khi mua nhà, một phần căn nhà được cho thuê, phần còn lại bà và các con của bà vẫn ở mỗi lần về Việt Nam. Năm 2004, chị Tuyền có ý định chiếm đoạt căn nhà, nên đã không cho bà vào sống trong căn nhà này. Do vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 98/30 nói trên thuộc quyền sở hữu của bà; buộc chị Tuyền phải trả lại tiền cho thuê nhà từ 01/8/2001 đến 31/7/2006, tổng cộng là 300.000.000 đồng.

Bị đơn là chị Trần Thị Thanh Tuyền trình bày:

Tiền mua căn nhà 98/30 nói trên không phải là của chị, và cũng không phải là tiền của bà Xuân gửi về. Toàn bộ số tiền mua nhà là của cụ Lê Thị Xuyến (mẹ của bà Xuân), bà Nguyễn Thị Thủy (chị gái của bà Xuân), vợ chồng bà Đoàn Thị Bích Chương và ông Trần Văn Đình (chú, thím của chị) gửi về, ngoài ra, chị còn vay thêm để mua nhà.

Việc mua bán nhà diễn ra giữa chị và vợ chồng ông Hiếu, bà Sai, được lập hợp đồng có công chứng. Hiện tại, chị đã đứng tên sở hữu căn nhà nói trên. Chị thừa nhận có việc bà Xuân gửi tiền về cho chị, nhưng tiền này là do bà Xuân nhờ chị làm giúp một số công việc, chứ không phải là tiền để mua nhà. Mặt khác, giá trị căn nhà là 120 lượng vàng, quy ra USD vào thời điểm mua nhà tương đương 45.000USD, tức là nhiều hơn gấp 03 lần số tiền mà bà Xuân đã gửi về cho chị.

Do vậy, chị không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cụ Xuyến, bà Thủy, ông Đình, bà Chương đều khai, tiền mua căn nhà đang tranh chấp là của những người này gửi từ Mỹ về (gửi tay nên không có giấy tờ chứng minh) để cho cháu là chị Tuyền mua nhà, nay tất cả đều đồng ý để chị Tuyền đứng tên sở hữu căn nhà.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 488/2008/DSST ngày 17/4/2008, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Xuân về việc xin được công nhận quyền sở hữu căn nhà 98/30 Thăng Long (nay là Cách Mạng Tháng Tám), phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Công nhận chị Trần Thị Thanh Tuyền là sở hữu chủ căn nhà 98/30 Thăng Long, phường 5, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh Xuân đòi chị Trần Thị Thanh Tuyền trả số tiền 300.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/4/2008, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân kháng cáo.

Tại Quyết định số 283/2008/DSPT ngày 12/8/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự nêu trên, với lý do, người kháng cáo (bà Xuân) và người đại diện theo ủy quyền của bà Xuân là chị Phượng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do chính đáng.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân khiếu nại.

Tại Quyết định số 512/2011/KN-DS ngày 08/8/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 283/2008/QĐ-PT ngày 12/8/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Quyết định nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 488/2008/DSST ngày 17/4/2008 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì, tại Thông báo việc kháng cáo số 488/2008/TBKC ngày 22/5/2008 của Tòa án cấp sơ thẩm thì, bản án dân sự sơ thẩm số 488/2008/DSST ngày 17/4/2008 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có 04 người kháng cáo là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, cụ Lê Thị Xuyến, bà Nguyễn Thị Thủy và bà Đoàn Thị Bích Chương. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án không có tài liệu liên quan đến việc kháng cáo của cụ Xuyến, bà Thủy và bà Chương. Tại phiên tòa phúc thẩm cũng không thể hiện những người này có tiếp tục kháng cáo nữa hay không? Trong trường hợp này, lẽ ra Tòa án cấp phúc thẩm phải làm Công văn yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xác định rõ những người nào kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nói trên, có hay không việc rút kháng cáo của các đương sự. Trường hợp có đương sự rút kháng cáo, thì cấp phúc thẩm phải quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người kháng cáo đã rút kháng cáo, theo đúng hướng dẫn tại điểm a, tiểu mục 10.2, phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mới đúng. Tòa án cấp phúc thẩm không tiến hành các thủ tục nêu trên, nhưng lại xác định chỉ có bà Nguyễn Thị Thanh Xuân kháng cáo bản án sơ thẩm là chưa chính xác.

Ngoài ra, tại Hợp đồng ủy quyền ngày 06/5/2008, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Xuân Phượng được nhân danh bà Xuân, “...liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan chức năng thẩm quyền liên quan trong quá trình giải quyết vụ án dân sự… thời hạn ủy quyền từ ngày 06/5/2008 cho đến khi vụ kiện được giải quyết xong bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền...”. Như vậy, nội dung của hợp đồng ủy quyền này là không rõ ràng, không xác định được bà Xuân có tiếp tục ủy quyền cho chị Phượng tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm nữa hay không? Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bà Xuân tiếp tục ủy quyền cho chị Phượng tham gia tố tụng, nên sau 02 lần triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng chị Phượng vẫn vắng mặt để đình chỉ xét xử phúc thẩm là chưa đủ cơ sở.

Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm cũng chưa xem xét đánh giá đơn xin hoãn phiên tòa cũng như các lý do xin hoãn phiên tòa nêu trong đơn ngày 07/8/2008 của bà Xuân, nhưng đã quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án với lý do bà Xuân vắng mặt 02 lần, không có lý do chính đáng là đánh giá chưa đúng, chưa đầy đủ lý do vắng mặt của bà Xuân.

Về nội dung:

Tại Biên bản thỏa thuận về việc mua bán căn nhà 98/30 Thăng Long ngày 20/4/1999 có thể hiện, ông Nguyễn Văn Hiếu và bà Vũ Thị Sai đồng ý bán căn nhà nói trên cho bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, với giá 120 lượng vàng; hai bên sẽ tiến hành lập hợp đồng mua bán tại Phòng Công chứng nhà nước mang tên người mua la Trần Thị Thanh Tuyền.

Ngoài ra, tại các giấy biên nhận tiền vào các ngày 24 tháng 4; ngày 05, 10 và 18 tháng 6, thể hiện ông Hiếu, bà Sai đã nhiều lần nhận vàng của bà Xuân, tổng cộng là 120 lượng vàng.

Tuy nhiên, ông Hiếu, bà Sai thừa nhận có ký vào các văn bản nói trên, nhưng cho rằng ký vào thời điểm sau này theo yêu cầu của bà Xuân. Trong khi đó, ngày 10/5/1999 ông Hiếu, bà Sai ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà trên cho chị Tuyền với giá 200 triệu đồng. Hợp đồng này có xác nhận của Công chứng. Như vậy, ông Hiếu, bà Sai đã ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà trên cho chị Tuyền và bà Xuân. Do đó, trong trường hợp này cần phải đưa ông Hiếu, bà Sai vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để xác định nghĩa vụ của ông Hiếu, bà Sai đối với hợp đồng không được công nhận mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không đưa ông Hiếu, bà Sai tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót.

Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án chị Tuyền thừa nhận có nhận 18.200USD của bà Xuân gửi từ Mỹ về (có biên lai). Trong trường hợp này cần phải thu thập thêm chứng cứ để làm rõ, sau khi nhận tiền, chị Tuyền sử dụng vào mục đích gì? Trường hợp chị Tuyền không chứng minh được việc chị đã chi tiêu 18.200USD vào mục đích khác theo yêu cầu của bà Xuân, thì phải xác định khoản tiền này bà Xuân gửi cho chị Tuyền để mua nhà, và giải quyết quyền lợi của bà Xuân theo quy định mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ vấn đề này mà chỉ căn cứ vào lời khai của chị Tuyền và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bác yêu cầu của bà Xuân là chưa đủ cơ sở.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297; Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH

1. Huỷ quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 283/2008/QĐ-PT ngày 12/8/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 488/2008/DSST ngày 17/04/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân với bị đơn là chị Trần Thị Thanh Tuyền và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


64
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 29/2013/DS-GĐT ngày 23/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và bị đơn chị Trần Thị Thanh Tuyền
  • Số hiệu:
    29/2013/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    23/04/2013
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 29/2013/DS-GĐT ngày 23/04/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và bị đơn chị Trần Thị Thanh Tuyền

Số hiệu:29/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/04/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về