Quyết định giám đốc thẩm 30/2006/DS-GĐT ngày 03/10/2006 về vụ án tranh chấp về thừa kế

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 30/2006/DS-GĐT NGÀY 03/10/2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ

...

Ngày 03 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Giang Quốc Hai, sinh năm 1935; trú tại số 86, đường Cống Quỳnh, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh;

2. Ông Lợi Xú Há, sinh năm 1937; trú tại 34B lầu 3, Nguyễn Duy Dương, phường 8, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh;

3. Bà Lợi Muội, sinh năm 1943; trú tại số 33, tổ 6, xã Linh Động, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1. Ông Lợi Quốc, sinh năm 1952; trú tại số 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương;

2. Ông Lợi Ngưu, sinh năm 1946; trú tại số 214/12, khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lợi Phú, sinh năm 1941; trú tại Hoa Kỳ (ông Phú uỷ quyền cho con là anh Lợi Phúc Phát, trú tại 55/2 đường Trương Văn Ký, phường 12, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh);

2. Ông Lợi Tân, sinh năm 1949; trú tại Hoa Kỳ (ông Tân uỷ quyền cho cháu là Lợi Mỹ Ngân, trú tại 55/2 đường Trương Văn Ký, phường 12, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh);

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30-11-1994 và lời khai tại Toà án của ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội thì:

Cụ Lợi Chương (chết năm 1988) và vợ là cụ Giang Diu (chết năm 1985) có 7 người con là ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội, ông Lợi Phú, ông Lợi Tân, ông Lợi Ngưu và ông Lợi Quốc.

Về tài sản, cụ Chương và cụ Diu có căn nhà 2 gian mang số 8/18 (số cũ là 2/10) đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương (hiện ông Quốc quản lý).

Năm 1976, cụ Chương bỏ tiền ra mua thửa đất diện tích 7,1 sào (thực tế hiện nay là 6.451m2) của vợ chồng cụ Hiếu tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương nhưng để ông Lợi Quốc đứng tên trong giấy tờ mua bán, việc mua bán được chính quyền địa phương xác nhận. Sau khi mua đất, ông Quốc đã trực tiếp trồng nhiều cây ăn trái, cụ Chương, cụ Diu cất nhà tole, vách ván, nền đất tại thửa đất trên để ông Lợi Ngưu ở, còn ông Lợi Quốc vẫn ở cùng với cụ Chương, cụ Diu tại căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An. Quá trình ở tại Đông Hoà, ông Ngưu đã trồng thêm một số cây ăn trái và canh tác trên phần đất do cụ Chương, cụ Diu mua. Cụ Diu, cụ Chương chết đều không để lại di chúc, ông Quốc tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà 8/18 đường Cô Giang, khi căn nhà bị hư hỏng ông đã bỏ tiền riêng để sửa chữa, còn ông Ngưu vẫn ở trên nhà, đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà. Nay ông Hai, ông Há, bà Muội khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Chương, cụ Diu là căn nhà 8/18 đường Cô Giang và nhà, đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương theo pháp luật.

Phía bị đơn ông Lợi Ngưu và ông Lợi Quốc thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, nhưng ông Ngưu cho rằng di sản của cụ Chương, cụ Diu chỉ là căn nhà 8/18 đường Cô Giang, còn nhà, đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà hai cụ đã cho ông nên không đồng ý chia. Ông Quốc cho rằng thửa đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà do ông bỏ tiền đứng tên mua hợp pháp, được chính quyền địa phương xác nhận, sau khi mua ông đã trực tiếp canh tác, trồng nhiều cây lưu niên trên đất và ông đồng ý cho cụ Chương, cụ Diu cất nhà trên một phần đất để ông Ngưu ở, nhà, đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà là của ông nên ông không đồng ý chia. Ngoài ra, ông Quốc còn yêu cầu trích cho ông một phần công sức chăm sóc cha mẹ khi các cụ còn sống, mai táng khi hai cụ chết và công sức bảo quản, tôn tạo, duy trì căn nhà 8/18 đường Cô Giang.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSST ngày 12-3-1996, Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé (cũ) đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội đối với di sản của cụ Lợi Chương, cụ Giang Diu.

2. Chia thừa kế di sản của cụ Diu, cụ Chương trị giá là 162.939.680 đồng cho 7 người con là ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội, ông Lợi Phú, ông Lợi Tân, ông Lợi Ngưu và ông Lợi Quốc mỗi kỷ phần là 23.277.097,14 đồng.

Về hiện vật:

- Chia cho ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội sở hữu chung một gian nhà bên phải (từ ngoài đường nhìn vào) của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An. Diện tích nhà 77,35m2 nằm trên diện tích 90,3m2 có kết cấu: mái ngói, nền gạch tầu, tường xây trị giá 70.224.363 đồng trong đó có 2.508.113 đồng phần sửa chữa của ông Lợi Quốc và được quyền quản lý, sử dụng diện tích 2.280m2 đất tại ấp Đông, xã Đông Hoà theo ký hiệu là A trị giá 518.400 đồng trên đất có cây trái trị giá là 3.650.000 đồng. Tài sản được chia trị giá tổng cộng 74.392.763 đồng trong đó di sản là 68.234.650 đồng.

Ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội có trách nhiệm hoàn lại cho ông Lợi Quốc 2.508.113 đồng. Phần ông Lợi Quốc sửa chữa gian nhà bên phải của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An và hoàn lại giá trị cây trái trên diện tích đất 2280m2 là 3.650.000 đồng cho ông Lợi Ngưu, đồng thời được nhận 1.596.641,42 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại phần di sản nhận bằng giá trị.

- Chia cho ông Lợi Quốc được sở hữu gian nhà bên trái (từ ngoài đường nhìn vào) của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An có diện tích đất thổ cư 90,3m2 đất, nhà kết cấu: mái ngói, nền gạch tầu, vách tường trị giá nhà và đất là 71.491.513 đồng trong đó phần di sản là 67.716.250 đồng, phần sửa chữa là 3.775.313đồng. Ông Lợi Quốc có trách nhiệm hoàn cho ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há và bà Lợi Muội 1.596.641,42 đồng và hoàn lại cho ông Lợi Phú 23.277.097,14 đồng, hoàn lại cho ông Lợi Tân là 19.565.414,30 đồng. Ông Lợi Quốc được nhận 2.508.113 đồng phần sửa chữa gian nhà bên phải của căn nhà 8/18 Cô Giang do ông Lợi Xú Há, ông Giang Quốc Hai và bà Lợi Muội hoàn lại.

- Chia cho ông Lợi Ngưu diện tích đất 3.571m2 toạ lạc ở ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An (theo sơ đồ ký hiệu B) trong đó có 300m2 đất thổ cư, trị giá là 26.988.780 đồng và được sở hữu nhà, giếng nước do các đương sự tự nguyện để ông Lợi Ngưu sở hữu. Ông Lợi Ngưu được sở hữu số cây ăn trái trên diện tích đất được chia và được bồi hoàn giá trị cây trái trên diện tích 2.280m2 (theo sơ đồ ký hiệu A) do ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há và bà Lợi Muội hoàn lại là 3.650.000 đồng.

Ông Lợi Ngưu có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị tài sản nhận quá kỷ phần thừa kế cho ông Lợi Tân là 3.711.682,86 đồng.

- Ông Lợi Phú được hưởng thừa kế bằng giá trị là 23.297.097,14 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại.

- Ông Lợi Tân được hưởng thừa kế bằng giá trị là 23.297.097,14 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại 19.565.414,30 đồng và do ông Lợi Ngưu hoàn lại 3.711.682,86 đồng.

Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xử sơ thẩm, ngày 14-3-1996 ông Lợi Quốc kháng cáo cho rằng thửa đất ở khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà là của ông, nhưng Toà án lại xác định là di sản của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế là không đúng, ngoài ra ông còn yêu cầu tính công sức trong việc bảo quản, duy trì di sản và chăm sóc và mai táng cho hai cụ.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 183/DSPT ngày 01-10-1996, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Y án sơ thẩm, xử:

- Bác yêu cầu của ông Lợi Quốc đòi sở hữu miếng đất có diện tích 6.451m2 tại ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé và yêu cầu giữ toàn bộ di sản thừa kế về đất và nhà số 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé.

- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội đối với di sản của ông Lợi Chương, bà Giang Diu.

- Chia thừa kế di sản của cụ Diu, cụ Chương trị giá là 162.939.680 đồng cho 7 người con là ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội, ông Lợi Phú, ông Lợi Tân, ông Lợi Ngưu và ông Lợi Quốc mỗi kỷ phần là 23.277.097,14 đồng.

Về hiện vật:

+ Chia cho ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội sở hữu chung một gian nhà bên phải (từ ngoài đường nhìn vào) của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (cũ). Diện tích nhà 77,35m2 nằm trên diện tích đất đất thổ cư 90,3m2, có kết cấu: mái ngói, nền gạch tầu, tường xây trị giá 70.224.363 đồng trong đó có 2.508.113 đồng phần sửa chữa nhà của ông Lợi Quốc và được quyền quản lý, sử dụng diện tích 2.280m2 đất tại ấp Đông, xã Đông Hoà theo sơ đồ ký hiệu A, trị giá 518.400 đồng trên đất có cây trái trị giá là 3.650.000 đồng. Tài sản được chia trị giá tổng cộng 74.392.763 đồng, trong đó di sản là 68.234.650 đồng.

Ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há, bà Lợi Muội có trách nhiệm hoàn lại cho ông Lợi Quốc 2.508.113 đồng phần ông Lợi Quốc sửa chữa gian nhà bên phải của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An và hoàn lại giá trị cây trái trên diện tích đất 2.280m2 là 3.650.000 đồng cho ông Lợi Ngưu, đồng thời được nhận 1.596.641,42 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại phần di sản nhận bằng giá trị.

+ Chia cho ông Lợi Quốc được sở hữu gian nhà bên trái (từ ngoài đường nhìn vào) của căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An có diện tích nhà 77,35m2 nằm trên diện tích đất thổ cư 90,3m2, nhà kết cấu: mái ngói, nền gạch tầu, vách tường, trị giá nhà và đất là 71.491.513 đồng, trong đó phần di sản là 67.716.250 đồng, phần sửa chữa nhà là 3.775.313đồng. Ông Lợi Quốc có trách nhiệm hoàn lại cho ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há và bà Lợi Muội 1.596.641,42 đồng và hoàn lại cho ông Lợi Phú 23.277.097,14 đồng, hoàn lại cho ông Lợi Tân là 19.565.414,30 đồng. Ông Lợi Quốc được nhận 2.508.113 đồng phần sửa chữa gian nhà bên phải của căn nhà 8/18 Cô Giang do ông Lợi Xú Há, ông Giang Quốc Hai và bà Lợi Muội hoàn lại.

+ Chia cho ông Lợi Ngưu diện tích đất 3.571m2 toạ lạc ở ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An (theo sơ đồ ký hiệu là B) trong đó có 300m2 đất thổ cư, trị giá là 26.988.780 đồng và được sở hữu nhà, giếng nước do các nguyên đơn tự nguyện để ông Lợi Ngưu sở hữu. Ông Lợi Ngưu được sở hữu số cây ăn trái trên diện tích đất được chia và được bồi hoàn giá trị cây trái trên diện tích 2.280m2 (theo sơ đồ ký hiệu A) do ông Giang Quốc Hai, ông Lợi Xú Há và bà Lợi Muội hoàn lại là 3.650.000 đồng.

Ông Lợi Ngưu có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị tài sản nhận quá kỷ phần thừa kế cho ông Lợi Tân là 3.711.682,86 đồng.

+ Ông Lợi Phú được hưởng thừa kế bằng giá trị là 23.297.097,14 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại.

+ Ông Lợi Tân được hưởng thừa kế bằng giá trị là 23.297.097,14 đồng do ông Lợi Quốc hoàn lại 19.565.414,30 đồng và do ông Lợi Ngưu hoàn lại 3.711.682,86 đồng.

Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Lợi Quốc có nhiều đơn khiếu nại bản án phúc thẩm trên với nội dung: Toà án xác định diện tích đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An là di sản của cụ Chương và cụ Diu để lại là gây thiệt hại cho ông.

Tại Quyết định kháng nghị số 32/KNDS ngày 16-9-1997, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm số 183/DSPT ngày 01-10-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với nhận định: Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã xác định căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dơng là di sản của cụ Chương, cụ Diu, trên cơ sở đó định giá để chia thừa kế là đúng.

Xét về thửa đất 6.451m2 tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương thấy rằng nguồn gốc thửa đất trên là của vợ chồng ông Phạm Trung Hiếu. Ngày 16-1-1976 vợ chồng ông Hiếu lập “Tờ sang nhượng vĩnh viễn” để vợ chồng ông Lợi Quốc “làm chủ vĩnh viễn phần đất nói trên”. Việc sang nhượng trên được chính quyền địa phương đồng ý xác nhận (BL 69). Sau khi mua đất ông Quốc đã trực tiếp canh tác trồng nhiều cây lâu niên tại thửa đất trên (xác nhận ngày 11-4-1996 của Uỷ ban nhân dân xã Đông Hoà), đồng thời ông đã đồng ý để cụ Chương, cụ Diu cất nhà tole, vách ván để ông Lợi Ngưu ở. Vì vậy, có cơ sở xác định thửa đất trên là của ông Lợi Quốc, lẽ ra trong trường hợp này phải công nhận khuôn viên đất có căn nhà của cụ Chương, cụ Diu là của hai cụ do ông Quốc cho, phần đất còn lại là của ông Lợi Quốc, nhưng Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại căn cứ vào lời khai của các nguyên đơn, lời khai của một số nhân chứng để công nhận toàn bộ thửa đất là của cụ Chương, cụ Diu, từ đó định giá để chia thừa kế là không đúng.

Tuy nhiên, theo biên bản điều tra tại chỗ, biên bản định giá (BL 27,33), của Toà án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất trên gồm đất thổ cư, đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây hàng năm, nhưng Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm không điều tra xác định rõ diện tích mỗi loại đất là bao nhiêu và không điều tra làm rõ người trực tiếp canh tác và kê khai, nộp thuế phần đất trồng cây hàng năm (đất nông nghiệp) để xác định người có quyền sử dụng đất nông nghiệp là không chính xác.

Nếu ông Lợi Ngưu trực tiếp canh tác và kê khai nộp thuế từ trước đến nay đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, hoặc nuôi trồng thuỷ sản thì xác định ông Ngưu có quyền sử dụng đối với phần đất đó, còn khuôn viên có căn nhà (hiện ông Ngưu quản lý) là của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế, riêng phần đất trồng cây lưu niên là của ông Lợi Quốc. Nếu ông Lợi Quốc trực tiếp canh tác, nộp thuế cho Nhà nước thì phải xác định khuôn viên đất có căn nhà là của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế, phần đất còn lại là của ông Lợi Quốc (kể cả đất trồng cây lưu niên và đất trồng cây hàng năm).

Xét về chia hiện vật, thấy rằng: Trong thực tế, ông Lợi Quốc đã trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà 8/18 đường Cô Giang từ trước đến nay, ông đã bỏ tiền riêng để sửa chữa căn nhà và đang ở ổn định cuộc sống, ông Lợi Ngưu đã quản lý, sử dụng căn nhà ở ấp Đông, xã Đông Hoà từ năm 1976 đến nay, còn ông Hai, ông Há, bà Muội đã có nơi ở ổn định tại thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị (BL 34, 35, 36), riêng ông Phú, ông Tân đã định cư ở nước ngoài, không có nhu cầu về nhà đất tại Việt Nam. Do đó, cần chia căn nhà 8/18 đường Cô Giang cho ông Quốc, chia căn nhà ở ấp Đông, xã Đông Hoà cho ông Ngưu, còn lại chia bằng giá trị cho các thừa kế khác, như vậy mới phù hợp với thực tế và ổn định về nhà đất cho đương sự. Nhưng Toà án các cấp lại chia chung cho ông Hai, ông Há, bà Muội một gian nhà ở thị trấn Dĩ An và một phần đất ở xã Đông Hoà làm xáo trộn không cần thiết về nhà ở của các đương sự. Mặt khác, trong thực tế ông Quốc đã trực tiếp ở tại 8/18 đường Cô Giang với cụ Chương, cụ Diu, ông đã có nhiều công sức chăm sóc cho hai cụ khi còn sống và lo mai táng khi các cụ chết, ngoài ra ông còn có công bảo quản, tôn tạo căn nhà này, do đó, trước khi chia thừa kế cần trích cho ông một phần thoả đáng từ giá trị khối di sản cho phù hợp với công sức của ông, như vậy mới giải quyết hợp tình, hợp lý vụ án.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án phúc thẩm nêu trên và bản án sơ thẩm số 07/DSST ngày 12-3-1996 của Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại theo hướng kháng nghị đã nêu.

Tại Kết luận số 264 ngày 17-10-1997, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm trên, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương điều tra, xét xử từ giai đoạn sơ thẩm.

Tại Quyết định số 60/UBTP-DS ngày 06-11-1997 Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án nêu trên cho đến khi có quy định mới của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991.

Tại phiên toà giám đốc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án phúc thẩm số 183/DSPT ngày 01-10-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án sơ thẩm số 07/DSST ngày 12-3-1996 của Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé (cũ); Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại theo quy định chung của pháp luật.

XÉT THẤY

Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã xác định căn nhà 8/18 đường Cô Giang, thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế là đúng.

Về căn nhà trên diện tích 6451m2 đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (cũ) (nay là tỉnh Bình Dương) là đất thổ viên (BL74) nguồn gốc của gia đình cụ Phạm Trung Hiếu. Vào năm 1976 vợ chồng cụ Hiếu đã bán thửa đất trên; giấy tờ mua bán đứng tên ông Lợi Quốc và được chính quyền địa phương xác nhận. Tuy nhiên, tại lời khai của cụ Hiếu (BL33) thì cụ Hiếu cho rằng cụ bán đất cho cụ Chương, cụ Diu; cụ Chương trực tiếp trả tiền và cụ Hiếu chưa một lần nào giao dịch với ông Lợi Quốc. Các đương sự như ông Há, ông Hai, bà Muội và ông Ngưu đều có lời khai là cụ Chương, cụ Diu mua diện tích đất này nhưng để ông Lợi Quốc đứng tên và làm nhà để ông Ngưu ở. Trong khi đó, ông Lợi Quốc cho rằng ông là người trực tiếp giao dịch mua bán đất với vợ chồng cụ Hiếu và sau khi mua đất ông đã canh tác trồng nhiều cây lưu niên. Tại hồ sơ vụ án chỉ có “Tờ sang nhượng vĩnh viễn” đề ngày 16-01-1976 đứng tên người mua là ông Lợi Quốc. Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của các nguyên đơn và lời xác nhận của cụ Hiếu ngày 08-3-1996 (BL33) để từ đó cho rằng nhà đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (cũ) là di sản của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế là chưa đủ căn cứ vững chắc. Do đó, cần xác minh làm rõ thêm về việc mua bán đất tại khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (cũ). Nếu không có chứng cứ nào khác để chứng minh cụ Chương đứng ra mua đất thì phải xác định ông Quốc là người mua đất. Đồng thời, ông Quốc đồng ý cho cụ Chương, cụ Diu làm nhà cho ông Ngưu ở, nên phải xác định căn nhà và khuôn viên đất có căn nhà (hiện ông Ngưu đang quản lý) là di sản của cụ Chương, cụ Diu để chia thừa kế. Phần đất còn lại (trồng cây lưu niên) phải xác định ông Lợi Quốc là người có quyền sử dụng. Riêng phần đất trồng cây hàng năm phải xác minh làm rõ ai là người trực tiếp quản lý sử dụng, thực hiện nghĩa vụ kê khai với Nhà nước, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa để giải quyết cho phù hợp với chính sách, pháp luật đất đai.

Về hiện vật: Trong thực tế, ông Lợi Quốc đã trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà 8/18 đường Cô Giang từ trước đến nay, ông đã bỏ tiền riêng để sửa chữa căn nhà và đang ở ổn định; ông Lợi Ngưu đã quản lý, sử dụng căn nhà ở khu 2, ấp Đông, xã Đông Hoà từ năm 1976 đến nay, còn ông Hai, ông Há, bà Muội đã có nhà ở ổn định tại thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị (BL 34, 35, 36). Do đó, để tránh làm xáo trộn không cần thiết về nhà ở của các đương sự thì Toà án cần xác minh rõ nhu cầu về chỗ ở của các đương sự để phân chia hiện vật cho hợp lý, phù hợp với thực tế. Ngoài ra, ông Quốc đã trực tiếp ở tại 8/18 đường Cô Giang với cụ Chương, cụ Diu, ông đã có nhiều công sức chăm sóc cho hai cụ khi còn sống, lo mai táng khi các cụ chết và có công bảo quản, tôn tạo căn nhà này. Vì vậy, trước khi chia thừa kế cần trích cho ông Quốc một phần thoả đáng từ giá trị khối di sản tương xứng với công sức của ông, như vậy mới đảm bảo quyền lợi cho ông Lợi Quốc.

Hơn nữa, việc định giá của Toà án cấp sơ thẩm từ năm 1995 cho đến nay giá nhà, đất có sự biến đổi rất lớn, để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự thì cần thiết phải định giá lại cho phù hợp với thực tế. Ngoài ra, vụ án đã bị tạm đình chỉ từ năm 1997 nên cũng phải xác minh làm rõ về việc thay đổi đương sự và yêu cầu của họ, từ đó mới có đủ cơ sở giải quyết vụ án.

Mặt khác, trong vụ án này khi Toà án xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì ông Lợi Phú và ông Lợi Tân đang trú tại Hoa Kỳ. Do đó, cần làm rõ thực trạng Quốc tịch của ông Lợi Phú và ông Lợi Tân để áp dụng các quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia để giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297; khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài 
tham gia;

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Kháng nghị số 32/KNDS ngày 16-9-1997 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 183/DSPT ngày 01-10-1996 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 07/DSST ngày 12-3-1996 của Toà án nhân dân tỉnh Sông Bé (cũ); giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

1. Chưa đủ căn cứ để xác định di sản thừa kế như quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm;

2. Cần tiến hành định giá lại di sản thừa kế;

3. Cần xác minh, làm rõ về việc thay đổi đương sự và yêu cầu của họ;

4. Cần xác minh lại quốc tịch của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

1. Thiếu sót trong việc thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ;

2. Do thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài.


269
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 30/2006/DS-GĐT ngày 03/10/2006 về vụ án tranh chấp về thừa kế
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    30/2006/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    03/10/2006
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!

Bình luận:

Mời bạn Đăng nhập để có thể bình luận