Quyết định giám đốc thẩm 30/2014/HC-GĐT ngày 25/09/2014 về việc khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA HÀNH CHÍNH TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO   
QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 30/2014/HC-GĐT NGÀY 25/09/2014 VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 25 tháng 9 năm 2014, tại trụ sở Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính đối với “Quyết định hành chính về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa:

Người khởi kiện: Cụ Hồ Thị Quy, sinh năm 1929.

Địa chỉ: Quốc lộ 1A, xã Hải Trạch, huyện Bổ Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Người bị kiện: UBND huyện Bổ Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn Còn - Chủ tịch UBND huyện Bố Trạch.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh Hiền - Trưởng phòng tài nguyên môi trường (Giấy ủy quyền ngày 10/10/2012. BL15).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Hiền, sinh năm 1959 và vợ là bà Phan Thị Thảo sinh năm 1959.

Cùng trú tại thôn Hải Nội, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN THẤY

Người khởi kiện (Cụ Hồ Thị Quy) trình bày: Vợ chồng (cụ Hồ Thị Quy và cụ Phan Bô) được chính quyền địa phương giao và sử dụng 181m2 thuộc thửa đất số 465, tờ bản đồ số 12; toạ lạc tại: Thôn Hải Nội, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch từ năm 1956. Năm 1979, cụ Bô chết (trong hồ sơ không có di chúc). Hai vợ chồng cụ (cụ Quy và cụ Bô) sinh được bốn người con là: Bà Phan Thị Hảo, sinh năm 1957; bà Phan Thị Thảo, sinh năm 1959; bà Phan Thị Thu sinh năm 1961 và bà Phan Thị Hoài sinh năm 1964. Các con cụ đều đã xây dựng gia đình (ba người đi ở riêng, còn bà Phan Thị Thảo và chồng là ông Phan Hiền ở với cụ). Năm 1986, cụ Quy cùng các con cụ (bà Phan Thị Hảo, bà Phan Thị Thu và bà Phan Thị Hoài) đồng ý cho vợ chồng người con gái thứ hai là bà Phan Thị Thảo và chồng là ông Phan Hiền ở lại trong nhà trên thửa đất nêu trên của gia đình cụ Quy và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và phụng dưỡng cụ Quy lúc tuổi già. Năm 1997 vợ chồng ông Hiền đã tháo dỡ ngôi nhà cũ của cụ Quy, xây nhà mới kiên cổ hai tầng trên diện tích đất 181m2 nêu trên. Cũng năm 1997, bà Thảo và chồng là ông Hiền đã tự ý làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được UBND xã Hải Trạch, thẩm định và xác nhận là “đất của ông, bà để lại không cỏ tranh chấp, sử dụng ổn định” và đề nghị UBND huyện Bố trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Hiền. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên bị mất, vợ chồng ông Hiền làm thủ tục xin cấp lại. Ngày 29/6/2000, UBND xã Hải Trạch làm tờ trình đề nghị UBND huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Phan Hiền. Ngày 20/7/2000, UBND huyện Bố Trạch ban hành Quyết định số 401/QĐ- UB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P719494 cho gia đình ông Phan Hiền (BL 20- 24).

Tháng 12/2011, cụ Quy mới biết UBND huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Hiền. Tháng 08/2012, cụ Quy khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P719494 ngày 20/7/2000 mang tên anh Hiền và buộc UBND huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Quy.

Người bị kiện (UBND huyện Bố Trạch) trình bày: Năm 1997, Phòng Tài nguyên và Môi trường nhận được hồ sơ do UBND xã Hải Trạch chuyển đến, đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 22 hộ gia đình tại xã Hải Trạch, trong đó có hộ gia đình ông Phan Hiền. Trong hồ sơ có xác nhận của ƯBND xã xác định “nguồn gốc đất là của ông, bà để lại, không có tranh chấp”, nên UBND huyện mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Hiền. Kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 đến nay hộ gia đình ông Hiền sử dụng ổn định, không có tranh chấp và làm nghĩa vụ thuế với nhà nước, cụ Quy đã đồng ý cho ông Phan Hiền và bà Phan Thị Thảo ở trên thửa đất nói trên. Từ năm 1997 đến năm 2000, tất cả các hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND xã đề nghị lên huyện (thời gian này có hàng trăm hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trường hợp của ông Hiền, bà Thảo) đều ghi “đất của ông, bà để lại”, không ghi ông, bà còn sống hay chết và không bắt buộc phải có ý kiến của ông, bà. Từ năm 2005 trở lại đây mới có quy định cụ thể về vấn đề này. Thực tế Luật đất đai lúc đó vẫn còn có những quy định khập khiễng, chưa thống nhất, vì vậy UBND huyện Bố Trạch đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Hồ Thị Quy, công nhận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phan Hiền là hợp pháp có giá trị pháp lý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Phan Hiền và bà Phan Thị Thảo) trình bày: Năm 1982, ông Hiền, bà Thảo kết hôn và đã ra ở riêng. Năm 1986, sau khi các con cụ Quy đều có gia đình và ở riêng thì cụ Quy và các chị em trong gia đình gọi ông Hiền và bà Thảo về cho nhà, đất của mẹ (cụ Quy) và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, nuôi dưỡng cụ Quy lúc tuổi già. Năm 1997, ông Hiền bà Thảo phá ngôi nhà của cụ Quy, làm nhà hai tầng kiên cố, lúc này cụ Quy ở với con gái thứ ba ngoài chợ Lý Hòa, cụ Quy và các con cụ có biết nhưng không ai có ý kiến gì. Việc UBND huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên là đúng, ngôi nhà ông, bà xây trên đất là hợp pháp và có giá trị lớn hơn nhiều giá trị thửa đất (Theo Biên bản định giá tài sản ngày 28/11/2012 ngôi nhà có giá trị 763.045.000đ còn giá trị quyền sử dụng đất là 19.332.000đ), ông Hiền và bà Thảo đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Quy. Tại Tòa án ông Hiền, bà Thảo trình bày mua đất của cụ Quy là mẹ nên không làm giấy tờ mua bán, sau đó ông Hiền, bà Thảo rút lại ý kiến này.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 08/2013/HCPT ngày 13/05/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định: Bác yêu cầu kháng cáo của cụ Hồ Thị Quy, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2013/HCST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, cụ thể tuyên:

- Bác yêu cầu khởi kiện của cụ Hồ Thị Quy về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so P719494 ngày 20/7/2000 của UBND huyện Bổ Trạch mang tên ông Phan Hiền, đổi với thửa đất số 465, tờ bản đồ sổ 12, Bản đồ địa chính xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Công nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P719494 ngày 20/7/2000 của UBND huyện Bố Trạch mang tên ông Phan Hiền đổi với thửa đất sổ 465, tờ bản đồ sổ 12, Bản đồ địa chính xã Hải Trạch, huyện Bổ Trạch, tỉnh Quảng Bình là hợp pháp và có giá trị pháp lý.

- Cụ Quy yêu cầu Tòa án kiến nghị UBND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chủng nhận quyền sử dụng đất cho cụ, đây không thuộc thẩm quyền của Tòa án và do bác yêu cầu khởi kiện của cụ Quy, không có căn cứ, nên không được chấp nhận yêu cầu này của cụ Quy.

- Về ngôi nhà trên đất: Ông Phan Hiền và bà Phan Thị Thảo khi xây dựng được sự đông ỷ của cụ Quy và các con của cụ; ông Hiền, bà Thảo không cỏ lôi. Ngói nhà trên không cỏ tranh chấp, không phải là đổi tượng khởi kiện trong vụ án này vẫn là tài sản thực tế và hợp pháp của bà Thảo, ông Hiền và do bác đơn khởi kiện của cụ Quy nên vấn đề ngôi nhà không xem xét.

Sau khi có Bản án phúc thẩm, ngày 17/6/2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình có Văn bản số 899/VKS- P5 báo cáo đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên.

XÉT THẤY

Theo hồ sơ phản ánh cũng như kháng nghị đã nhận định thì: Diện tích đất 181m2, thuộc thửa số 465, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại thôn Hải Nội, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có nguồn gốc do nhà nước giao cho cụ Phan Bô và vợ là cụ Hồ Thị Quy trong thời kỳ cải cách ruộng đất năm 1956. Hai cụ liên tục sử dụng từ đó. Năm 1979, cụ Bô mất, trong hồ sơ không thể hiện có sự chuyển quyền sử dụng đất từ cụ Quy và các thừa kế của cụ Bô sang ông Hiền, ông Hiền chỉ là con rể của hai cụ theo luật thừa kế thì không phải là diện thừa kế theo luật. Sau khi cụ Bô mất, mặc dù có việc cụ Quy và các thừa kế khác đồng ý cho vợ chồng ông Hiền về ở đất này cùng cụ Quy, nhưng theo cụ Quy và các thừa kế khác chỉ cho ở để trông nom và thờ cúng tổ tiên, không phải cho sang tên quyền sử dụng đất. Năm 2011, cụ Quy mới biết việc sang tên của ông Hiền nên đã khởi kiện. Ông Hiền cũng không đưa ra được căn cứ để xác định đã được cụ Quy và các thừa kế đồng ý cho sang tên quyền sử dụng đất. Lời khai của vợ chồng ông Hiền và bà Thảo cũng có những mâu thuẫn lúc thì khai được mẹ và các chị em khác cho, lúc thì khai mua nhưng vì là mẹ con nên không làm giấy do vậy lời khai cũng không có cơ sở tin cậy.

Theo lời khai của ông Hiền thì đất này ông đã được cấp giấy năm 1997, nhưng đã bị thất lạc và ông đã xin để được cấp lại năm 2000, nhưng trong hồ sơ cũng không làm rõ có việc cấp giấy cho ông Hiền năm 1997 không, nếu có thì thời điểm này việc cấp giấy cho ông Hiền có đúng Luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn tại thời điểm đó không. Từ đó xem xét tiếp việc cấp giấy cho ông Hiền năm 2000 theo Luật đất đai năm 1993 và Luật đất đai sử đổi năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cả án sơ thẩm và phúc thẩm đã không đánh giá nhận định theo hướng này nhưng lại quyết định bác yêu cầu của người khởi kiện về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hiền là chưa có căn cứ.

Qua xem xét đơn và lời trình bày của cụ Quy, cũng như lời trình bày của vợ chồng ông Hiền, bà Thảo thì bản chất việc này là tranh chấp quyền sử dụng đât và đất đã có giấy chứng nhận là tranh chấp thuộc quan hệ dân sự. Cụ Quy đòi lại đất và cho rằng chỉ cho ở, không cho đất nay vợ chồng bà Hiền đã đi ở nơi khác cụ đòi lại. Vợ chồng bà Thảo, ông Hiền khai mẹ đã cho và phải mua mất 5.000.000đ đã xây dựng lại nhà, đã được cấp giấy nên không đồng ý trả đất. Như vậy, về bản chất là tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong nhận định của án sơ thẩm và phúc thẩm đều nhận định như án dân sự về quyền sử dụng đất và nhà trên đất nhưng lại chưa xem xét đầy đủ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng hay sai theo Luật đất đai như đã nêu trên.

Trong vụ án này để giải quyết triệt để vụ án cần hướng dẫn cho đương sự khởi kiện bằng vụ án dân sự, khi giải quyết vụ án dân sự thì xem xét luôn tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cẩp cho ông Hiền.

Vì các lẽ nêu trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 219; khoản 3 Điều 225; khoản 2 Điều 227 Luật tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đổc thẩm số 15/QĐKNGĐT-V12 ngày 15/5/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 08/2013/HCPTngày 13/05/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 08/2013/HCPT ngày 13/05/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2013/HCST ngày 25/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, giao hồ sơ vụ án để Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. 


216
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 30/2014/HC-GĐT ngày 25/09/2014 về việc khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Số hiệu:30/2014/HC-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:25/09/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về