Quyết định giám đốc thẩm 35/2013/DS-GĐT ngày 20/05/2013 về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản và yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 35/2013/DS-GĐT NGÀY 20/5/2013 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN VÀ YÊU CẦU XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN 

Ngày 20/5/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản và yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Cụ Hồ Thị Liễu, sinh năm 1915; trú tại 49A, đường Trương Công Định, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đổng.

2. Ông Nguyễn Earl (tức Nguyễn Cửu Chi), sinh năm 1951; trú tại 940N, Plantatinon, Ln Walnut, CA- 91789 USA. Tạm trú tại số 2, đường Trần Nhân Tông, phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đổng.

Cụ Hồ Thị Liễu và ông Nguyễn Earl đều ủy quyền cho ông Võ Văn Dinh, sinh năm 1974, trú tại nhà số 38/7 đường Lê Hổng Phong, phưòng 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn:

1. Anh Nguyễn Thanh Hiển, sinh năm 1977;

2. Anh Nguyễn Lê Thanh Nhàn, sinh năm 1982; anh Nhàn ủy quyền cho anh Hiển tham gia tố tụng.

Anh Hiển, anh Nhàn cùng trú tại 49A đường Trương Công Định, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bạch Văn Phúc, sinh năm 1962;

2. Bà Nguyên Cửu Tưòng Vy, sinh năm 1947;

3. Anh Bạch Văn Việt Hùng, sinh năm 1985;

4. Chị Bạch Thị Thanh Hương, sinh năm 1987;

Ông Phúc, bà Vy, anh Hùng, chị Hương cùng trú tại số 60 đường Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2008 và quá trình tổ tụng nguyên đơn là cụ Hồ Thị Liễu và ông Nguyễn Cửu Chi trình bày:

Năm 1998, ông Chi định cư ở Hoa Kỳ gửi tiền về nhờ cụ Liễu đứng tên mua hộ căn nhà số 60 Phù Đổng Thiên Vương, thành phố Đà Lạt. Năm 2004, do tuổi cao nên cụ Liễu bàn với ông Chi nhờ ông Nguyễn Huyền Thanh là anh trai của ông Chi đứng tên sở hữu nhà hộ, đồng thời yêu cầu ông Thanh cùng vợ con ông Thanh viêt giây cam kết xác nhận căn nhà của ông Chi, ông Thanh chỉ là người đứng tên hộ, giấy này cụ Liễu giữ. Tháng 10/2007, ông Chi về Việt Nam đề nghị ông Thanh chuyển sở hữu căn nhà cho ông Chi, ông Thanh đồng ý nên ngày 24/10/2007 tại Phòng công chứng Nhà nước số 1 tỉnh Lâm Đồng, ông Thanh lập Di chúc để lại căn nhà cho ông Chi sau khi ông Thanh chết.

Ngày 13/02/2008 ông Thanh chết nên ông Chi về Việt Nam dự tang. Sau khi hoàn thành việc tang lễ, cụ Liễu mở tủ giao giấy tờ nhà cho ông Chi đi làm thủ tục đăng ký sở hữu thì phát hiện toàn bộ giấy tờ nhà bị mất. Đồng thời được biết trước khi chết ông Thanh đã đến Phòng công chứng Nhà nước số 1 tỉnh Lâm Đồng hủy bỏ Di chúc lập ngày 24/10/2007 và lập Hợp đồng tặng cho ngày 11/01/2008 với nội dung cho anh Hiển, anh Nhàn (là hai con của ông Thanh) căn nhà trên. Do đó, cụ Liễu và ông Chi khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở giữa cụ Liễu với ông Thanh; hủy bỏ hợp đồng tặng cho giữa ông Thanh với anh Hiển, anh Nhàn và công nhận căn nhà thuộc sở hữu của ông Chi.

Bị đơn là anh Nguyễn Thanh Hiển và anh Nguyễn Lê Thanh Nhàn cho rằng:

Ông Chi cho cụ Liễu tiền để cụ Liễu mua nhà chứ không phải ông Chi gửi tiền về nhờ cụ Liễu mua hộ nhà cho ông Chi. Sau đó, cụ Liễu đã cho ông Thanh (cha của hai anh) căn nhà này, rồi ông Thanh cho lại hai anh. Các anh đã hoàn thành thủ tục đứng tên chủ sở hữu căn nhà từ ngày 25/01/2008 nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Chi và cụ Liễu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: vợ chồng ông Bạch Văn Phúc, bà Nguyễn Cửu Tường Vy (bà Vy là con gái cụ Liễu); anh Bạch Văn Việt Hừng và chị Bạch Thị Thanh Hương (là con ông Phúc, bà Vy) thống nhất trình bày của cụ Liễu, ông Chi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2008/DS-ST ngày 29/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ” và “Hợp đồng tặng cho nhà ” giữa cụ Hồ Thị Liễu, ông Nguyễn Cửu Chỉ với anh Nguyễn Thanh Hiển và anh Nguyễn Lê Thanh Nhàn.

1/ Hủy các hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà so 60 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phổ Đà Lạt do cụ Hồ Thị Liễu lập ngày 26/10/2004 và ông Nguyễn Huyền Thanh ỉập ngày 11/01/2008 do trái pháp luật và bị vô hiệu.

2/ Công nhận căn nhà số 60 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phổ Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyên sở hữu của ông Nguyễn Cửu Chi.

3/ Kiến nghị Uỷ ban nhân dân thành phổ Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đổi với căn nhà sổ 60 Phù Đông Thiên Vưong, phường 8, thành phố Đà Lạt (theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 4201080592 ngày 27/9/2004).

4/ Ông Nguyễn Cửu Chi được quyền liên hệ với cơ quan nhà đất và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt để xin cẩp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà nêu trên theo quyết định của bản án này.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/10/2008, anh Hiển và anh Nhàn kháng cáo cho rằng: ông Chi trình bày gửi tiền về nhờ cụ Liễu mua nhà hộ nhưng không có chứng cứ chứng minh; còn hợp đồng tặng cho căn nhà từ cụ Liễu sang ông Thanh, từ ông Thanh sang hai anh là hợp pháp nên đề nghị Tòa án công nhận căn nhà thuộc quyền sở hữu của hai anh.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 499/2008/DSPT ngày 23/12/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm và quyết định về án phí phúc thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm ngày 05/7/2010 anh Nguyễn Thanh Hiển và anh Nguyễn Lê Thanh Nhàn có đơn khiển nại cho rằng: Nguồn gốc căn nhà tranh chấp là của ông Trần Minh Đức. Tại Quyết định số 08/QĐ ngày 26/02/1998, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt công nhận sự thỏa thuận giữa ông Đức và cụ Liễu như sau: do ông Đức nợ cụ Liễu 492.000.000đ nên ông Đức đồng ý giao căn nhà cho cụ Liễu để trừ số nợ trên đồng thời cụ Liễu còn phải thanh toán chênh lệch cho ông Đức số tiền 146.300.000đ. Như vậy, căn nhà trên không phải do ông Chi gửi tiền về mua nên đề nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định số 751/2011/KN-DS ngày 23/12/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 11/2008/DS-ST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh ẩn Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Các đương sự đều thừa nhận nguồn tiền mua căn nhà 60 Phù Đổng Thiên Vương, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (hiện có tranh chấp) là tiền do ông

Nguyễn Cửu Chi gửi từ Hoa Kỳ về nhưng trình bày khác nhau về mục đích của ông Chi khi gửi tiền về Việt Nam.

Ông Chi trình bày do ông là Việt kiều không được mua nhà tại Việt Nam nên năm 1997 ông gửi tiền về nhờ cụ Liễu đứng tên mua hộ nhà; lời khai của ông Chi được cụ Liễu xác nhận là đúng. Tuy nhiên, trước đó ngày 05/01/2007 (trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Huyền Thanh kiện bị đơn là bà Nguyễn Thị Hạnh đòi nhà cho ở nhờ) cụ Liễu trình bày “Căn nhà là tài sản của riêng tôi, con tôi là Nguyễn Cửu Chi định cư bên Mỹ mua cho tôi. Năm 1998 tôi cho Hạnh quản lý kinh doanh, không có kỳ hạn được 7 năm tôi có đòi lại để sửa chữa, trước khi lẩy lại tôi có chuyển sở hữu cho con trai tôi là Thanh. Nay Thanh có quyền đòi lại, tôi nhất trí yêu cầu của Thanh... tôi không còn liên quan gì đến căn nhà này “. Ông Nguyễn Huyền Thanh (là con cụ Liễu và là anh ông Chi) khai ngày 24/7/2007: “nguồn gốc căn nhà là của mẹ tôi, nhưng tiền là của em trai tôi ở Mỹ cho”.  Bà Nguyễn Thị Hạnh (là con cụ Liễu và là em ông Chi, ông Thanh) trình bày căn nhà  “là của ông Nguyễn Cửu Chi mua cho mẹ tôi”.

Ngoài ra, ông Chi còn trình bày: năm 2004 ông Thanh và vợ con ông Thanh đã viết và ký vào Tờ cam kết có nội dung thừa nhận ông Thanh chỉ đứng tên căn nhà hộ ông Chi, nhưng Tờ cam kết này đã bị thất lạc. Ba người làm chứng mà ông Chi cho rằng có ký tên làm chứng là các ông Nguyễn Văn Thanh, ông Nguyễn Cửu Tịnh và ông Nguyễn Văn Chái khai không thống nhất trước sau: Lời khai ngày 10/3/2008 ba nhân chứng trình bày “Lúc đó ông Thanh có viết một giấy cam kết với nội dung căn nhà 60 Phù Đổng Thiên Vương là của ông Nguyễn Cửu Chỉ, ông Thanh chỉ là người đứng tên giúp cho ông Chi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở..sau đó ông Thanh, bà Thủy và các con ông Thanh cùng ký tên vào giấy cam kết, cuối cùng ông Thanh nhờ 3 chúng tôi ký tên làm chứng” nhưng lời khai ngày 25/4/2008 ông Chái, ông Tịnh lại trình bày “Nhà 60 Phù Đổng Thiên Vương là của bà Liễu, còn các việc chuyển giao thế nào chúng tôi không biết, Về  giấy xác nhận ngày 10/3/2008 chúng tôi có ký về nội dung chỉ xác nhận nhà này của bà Liễu”.

Trên thực tế, nguồn gốc căn nhà 60 Phù Đổng Thiên Vương là của ông Trần Minh Đức. Năm 1998, ông Đức nợ cụ Liễu 492.000.000đ không trả nên cụ Liễu khởi kiện đòi ông Đức trả nợ tiền vay. Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08/QĐ ngày 26/02/1998, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó ông Đức giao căn nhà cho cụ Liễu, cụ Liễu phải thanh toán thêm tiền chênh lệch cho ông Đức là 146.300.000 đồng. Quyết định công nhận sự thỏa thuận nêu trên đã được thi hành xong, cụ Liễu được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở ngày 27/9/2004.

Do đó, cần làm rõ ông Chi gửi tiền về cho cụ Liễu vào thời gian nào, gửi bao nhiêu tiền, chứng cứ về việc gửi tiền? gửi tiền về trước thời điểm cụ Liễu cho ông Đức vay tiền hay sau khi cụ Liễu cho ông Đức vay tiền, ông Chi gửi tiền cho cụ Liễu hay nhờ cụ Liễu mua nhà hộ, khi cụ Liễu cho ông Đức vay tiền ông Chi có biết không? nguồn tiền cụ Liễu cho ông Đức vay? khi ông Đức không trả được nợ vay phải bán nhà cho cụ Liễu trừ nợ thì ông Chi có biết không, ý kiến thế nào? Số tiền 146.300.000đ cụ Liễu dùng thanh toán thêm cho ông Đức thì ông Chi gửi cho cụ Liễu khi nào, mục đích của ông Chi khi gửi số tiền này cho cụ Liễu. Chỉ trên cơ sở thu thập đầy đủ tài liệu về những vấn đề trên thi mới có cơ sở xác định ông Chi gửi tiền nhờ cụ Liễu mua nhà hộ hay cho cụ Liễu tiền để cụ Liễu mua nhà hoặc là ông Chi và cụ Liễu mua chung nhà.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ trình bày hiện nay của ông Chi và cụ Liễu; căn cứ trình bày không thống nhất của 3 nhân chứng; căn cứ Giấy cam kết ngày 24/10/2007 do ông Chi xuất trình (Giấy này không có chữ ký của ông Thanh và ông Thanh không công nhận) để xác định cụ Liễu và ông Thanh chỉ đứng tên sở hữu căn nhà hộ ông Chi, từ đó công nhận ông Chi là chủ sở hữu căn nhà là chưa đủ cơ sở.

Mặt khác, theo đơn khiếu nại giám đốc thẩm anh Hiển và anh Nhàn cho rằng: sau khi ông Thanh đòi được căn nhà từ bà Hạnh, ông Thanh đã vay mượn ngân hàng để trang trí, sửa chữa hết 250.000.000đ. Do đó, cần làm rõ sau khi ông Thanh đòi được căn nhà từ bà Hạnh thì ai là người quản lý, sử dụng và có việc sửa chữa, cải tạo hay không? do ai đứng ra cải tạo, nhu cầu sử dụng nhà của các con ông Thanh.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011;

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 499/2008/DSPT ngày 23/12/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 11/2008/DS-ST ngày 29/09/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản và yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản” giữa nguyên đơn là cụ Hồ Thị Liễu và ông Nguyễn Cửu Chi với bị đơn là anh Nguyên Thanh Hiển và anh Nguyễn Lê Thanh Nhàn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bạch Văn Phúc, bà Nguyễn Cửu Tường Vy, anh Bạch Văn Việt Hùng và chị Bạch Thị Thanh Hương.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ theo đúng quy đinh của pháp luật.


145
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 35/2013/DS-GĐT ngày 20/05/2013 về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản và yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản

Số hiệu:35/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/05/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về