Quyết định giám đốc thẩm 359/2014/DS-GĐT ngày 16/09/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 359/2014/DS-GĐT NGÀY 16/09/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Họp phiên tòa ngày 16/9/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất “ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Bùi Thị Huệ, sinh năm 1920.(ủy quền cho ông Bùi Quốc Trí, sinh năm 1938); trú tại: thôn 6, xã Đức Họp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn: Anh Trần Văn Mạnh, sinh năm 1965; trú tại: thôn 6, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Bùi Thị Lai, sinh năm 1968; trú tại: thôn 6, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

NHẬN THẤY

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cụ Bùi Thị Huệ khởi kiện đòi anh Trần Văn Mạnh phải trả lại diện tích 120m2 đất trước năm 2001 là ao tại thửa số 237, tờ bản đồ số 29, loại đất lâu năm quả, bản đồ năm 2007 (bản đồ năm 2001 thể hiện tại thửa 51, tờ số 24) mang tên anh Trần Văn Mạnh của xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Quan điểm của cụ Huệ xác định khoảng năm 1970 do sông lở không còn đất nên cụ đã sang thôn 6, xã Đức Hợp mua lại đất của cụ Nguyễn Thị Khoản (cụ Khoản chuyển đi Tây Bắc nay đã chết), trong đó có cả phần đất (trước kia là ao) đang tranh chấp. Cụ Huệ sử dụng đất và phần ao mua lại của cụ Khoản đến năm 2001, gia đình anh Trần Văn Mạnh đổ đất san lấp lấn chiếm 2/3 ao với diện tích 120m2 xây tường bao giáp ngõ đi vào nhà. Cụ Huệ đã đề nghị với cơ sở thôn để hòa giải yêu cầu anh Mạnh không được đổ đất, nhưng anh Manh vẫn cố tình lấn chiếm. Năm 2004 cụ Huệ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 902m2, thể hiện tại thửa số 43, diện tích 826m2 và thửa số 44, diện tích 76m2. Năm 2008 cụ Huệ làm đơn yêu cầu anh Mạnh trả lại 120m2 đất, xã Đức Hợp tiến hành đo đạc lại đất của cụ Huệ, xác định hộ cụ Huệ thiếu 17m2 chứ không phải là 120m2, anh Mạnh đã phá tường rào trả lại gia đình cụ được 06m2, nhưng cụ không chấp nhận. Do vậy cụ Huệ khởi kiện buộc anh Mạnh phải trả 120m2 đất. Đồng thời cụ Huệ cho rằng phải trừ 01m lưu không được tính vào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quan điểm của anh Mạnh xác định: Anh và cụ Huệ là hai hộ liền kề, năm 2001 gia đình anh được xã Đức Hợp và thôn cắm mốc giới giao đất, trong đó có mương nước của tập thể giáp đất gia đình anh mà hiện cụ Huệ khởi kiện. Khi cắm mốc giới có chính quyền địa phương và cụ Huệ đứng ra nhận mốc, không có ý kiến gì, hai gia đình đã ký vào biên bản mốc giới của UBND xã. Năm 2004 gia đình anh đổ đất lấp mương nước sử dụng, cụ Huệ cũng không có ý kiến gì, đổ đất được vài năm anh xâv tường bao có hỏi cụ Huệ đẩt của gia đình cụ đến đâu cụ ra xem để anh xây tường, khi anh xây tường bao cụ Huệ không có ý kiến gì về việc bảo anh lấn chiếm đất. Năm 2008 cụ Huệ cho rằng anh lấn chiếm đất, xã đo đạc lại thực tế xác định anh xây tường lấn chiếm của cụ Huệ là 17m2. Anh đã phá tường rào và trả đủ cụ Huệ 17m2 có sự chứng kiến của xã, nhưng cụ Huệ không nhận chứ không phải là trả 06m2 như cụ Huệ (ông Trí) trình bày. Cụ Huệ kiện anh phải trả số mét đất còn thiếu là 120m2 anh không đồng ý. Anh đề nghị kiểm tra xem xét lại thực tế diện tích đất hiện tại của Huệ để đảm bảo quyền lợi cho gia đình anh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DS-ST ngày 20/4/2011 của TAND huyện Kim Động đã quyết định:

Chấp nhận một phần yên cầu của nguyên đơn buộc anh Trần Văn Mạnh có trách nhiệm trả cho nguyên đơn cụ Bùi Thị Huệ (đại diện ông Bùi Quốc Trí) phần đất lấn chiếm là 14m2 tại phần tường bao mà hai gia đình đang tranh chấp. Cụ thể gọi điểm mốc giới mà hai gia đình đã thống nhất cắm cố định khi đoàn tiến hành đo đạc thực tế thửa đất của cụ Huệ theo hướng từ ngoài ngõ của cụ Huệ đi vào là các điểm theo thứ tự là A,B,C. Tại điểm cố định A phía ngoài ngõ kéo về phía đất của anh Mạnh là 0,8m tạo điểm D, tại điểm mốc cổ định giữa B kéo về phía đất của anh Mạnh là 0,5m tạo điểm E, tại điểm mốc cổ định cuối c kéo về phía đất của anh Mạnh là 0,25m tạo điểm F. Nổi các điểm D, E, F lại với nhau tạo phần ranh giới đất giữa hộ gia đình anh Mạnh và gia đình cụ Huệ (Có sơ đồ kèm theo).

Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn cụ Bùi Thị Huệ đề nghị tòa án buộc bị đcrn anh Trần Văn Mạnh phải trả sổ diện tích đất là 106m2.

Buộc anh Mạnh có trách nhiệm thanh toán trả cụ Huệ sổ tiền 233.000đ tiền chỉ phí đo đạc đất đai.

Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, về lãi suất, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/5/2011 cụ Bùi Thị Huệ (đại diện ông Bùi Quốc Trí) kháng cáo yêu cầu anh Trần Văn Mạnh phải trả đủ diện tích 120m2 đất đã khai tại UBND xã Đức Hợp.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 17/19/7/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên Quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của cụ Bùi Thị Huệ (đại diện là ông Bùi Quốc Trí).

Sửa bản án dân sự sơ thẩm sổ 01/2011/DS-ST ngày 20/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Bùi Thị Huệ (đại diện là ông Bùi Quốc Trí).

Chấp nhận sự tự nguyên của anh Trần Văn Mạnh và chị Bùi Thị Lai trả lại cho cụ Bùi Thị Huệ diện tích đất là 10,6m tại thửa số 43 tờ số 24, mang tên cụ Bùi Thị- Huệ, bản đồ năm 2001 của xã Đức Hợp (Trên sơ đồ hiện trạng là hình ABE. Cạnh AB = 26,5m; BE~ 26,3m; AE = 0,8m).

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Bùi Thị Huệ (đại diện là ông Bùi Quốc Trí) buộc anh Trần Văn Mạnh và chị Bùi Thị Lai phải trả diện tích đất 114,8m2 tại thửa sổ 51, tờ số 24 mang tên anh Trần Văn Mạnh, bản đồ năm 2001 của xã Đức Hợp (Trên sơ đồ hiện trạng là hình BCDE. Cạnh BC = 5,4m; CD = 24,2m; DE = 3,7m; EB = 26,3m). Tạm giao diện tích đất 114,8m2 này cho anh Trần Văn Mạnh quản lý, việc giải quyết công nhận quyền sử dụng đất thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

(Việc phân chia hiện trạng, kích thước cụ thể có sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm).

Buộc anh Trần Văn Mạnh phải thanh toán trả cụ Bùi Thị Huệ 169.600đ phí tham định, định giá tài sản.

Ngoài ra, tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm cụ Bùi Thị Huệ (đại diện là ông Bùi Quốc Trí) có đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 235/2014/KN-DS ngày 17/7/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 17/2011/DS-PT ngày 19/7/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 16/9/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận.

XÉT THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện như nội dung cho thấy:

Theo biên bản hòa giải ngày 25/6/2008 tại nhà văn hóa thôn 6 xã Đức Họp và biên bản khảo đạc đất thồ cư ngày 25/6/2008 và biên bản làm việc ngày 02/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Họp, chính quyền địa phương xác định thửa đất của cụ Huệ thiếu 17m2 do gia đình anh Mạnh lấn chiếm.

Tại biên bản làm việc ngày 26/8/2008 của Ủy ban nhân dân xã Đức Họp có chính quyền địa phương chứng kiến và xác nhận việc anh Mạnh đã dỡ bỏ tường rào để trả lại đất cho cụ Huệ. Nhưng cụ Huệ không đồng ý mà tiếp tục có đơn khởi kiện yêu cầu anh Mạnh phải trả diện tích đất là 120m2.

Tại biên bản xác minh ngày 30/11/2010 tại phòng tài nguyên môi trường huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xác định năm 2004 cụ Huệ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 902m2 thuộc thửa 43 và 76m2 thuộc thửa 44 tại tờ bản đồ số 24.

Theo đó, tại thửa 43 có diện tích đất là 826m2, trong đó có thể hiện một đường nét đứt chiều rộng là 1.0m và chiều dài 27,1m là thể hiện quy hoạch sử dụng để hạn chế quyền sử dụng đất đổi với chủ sử dụng còn diện tích đó vẫn nằm trong tổng diện tích 826m2, nếu Nhà nước quy hoạch sẽ bồi thường. Tại thửa đất này không có diện tích tách ra làm ngõ đi chung.

Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của cụ Huệ đối với việc yêu cầu anh Mạnh phải trả 120m2 đất và phải trừ 0,1m lưu không mặt đường thửa đất dài 27,1 m và phải trừ phần ngõ đi vì là ngõ đi chung không được tính vào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng.

Đối với diện tích đất thiếu của cụ Huệ, Tòa án cấp sơ thẩm đã phối hợp với chính quyền địa phương và phòng tài nguyên môi trường của huyện đế đo đạc lại, theo biên bản xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ ngày 03/3/2011 và theo sơ đồ trích đo khu đất của cụ Huệ thì xác định diện tích còn thiếu chỉ là 14m chứ không phải là 17m2 như chính quyền địa phương xác định tại biên bản ngày 25/6/2008.

Ngày 04/5/2011 cụ Huệ kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Ngày 07/7/2011 Tòa án cấp phúc thẩm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đức Họp đã tiến hành đo đạc lại thì tại thửa đất của gia đình cụ Huệ thôn Đông Khu thì xác định diện tích còn thiếu là 10,6m2.

Như vây, có cơ sở xác định diện tích đất của cụ Huệ còn thiếu là đúng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án các cấp chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ để làm rõ cụ thể, chính xác phần diện tích đất của cụ Huệ còn thiếu là bao nhiêu? Các số liệu thể hiện trong hồ sơ vụ án về đất còn thiếu của cụ Huệ là không thống nhất.

Tòa án chỉ căn cứ vào biên bản kiểm tra ngày 07/7/2011 để xác định diện tích đất còn thiếu của gia đình cụ Huệ là 10,6m2 là chưa đủ căn cứ.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 235/2014/KN- DS ngày 17/7/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2011/DS-PT ngày 19/07/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DS-ST ngày 20/04/2011 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là cụ Bùi Thị Huệ với bị đơn là anh Trai Văn Mạnh.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 359/2014/DS-GĐT ngày 16/09/2014 về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:359/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/09/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về