Quyết định giám đốc thẩm 384/2014/DS-GĐT ngày 23/09/2014 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 384/2014/DS-GĐT NGÀY 23/09/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 23/9/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất “ giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Yên, sinh năm 1962; địa chỉ: số 349, ấp Vịnh, xã An Cơ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Ủy quyền cho bà Lê Thị Ngọc Trang, sinh năm 1980; trú tại: Tổ 1, ấp 3, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành.

Người bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Ông Nguyễn Văn Re, luật sư- Văn phòng luật sư Nguyễn Văn Re thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Ông Tô Văn Mây, sinh năm 1973; địa chỉ: số 142, tổ 16, ấp Vịnh, xã An Cơ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Dương Thị Hồng Nga, sinh năm 1976( vợ anh Mây); địa chỉ: ấp Vịnh, xã An Cơ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

2. Ngân hàng Công thương Việt Nam- Chi nhánh tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: Khu phố 1, phường 1, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN THẤY

Nguyên đom, ông Nguyễn Văn Yên trình bày: Ông Mây là em vợ ông. Năm 2000 ông thỏa thuận mua đất của vợ chồng bà lê Thị Huỳnh Vân với diện tích 3,5ha, giá 15 chỉ vàng 24k, 96%/1ha, đất tọa lạc tại Bàu Ông Cả, thuộc ấp 1, xã Phuớc Vinh, huyện Châu Thành. Do không đủ tiền mua nên ông có hùn vốn với ông Mây cùng mua đất. Ông góp 17.000.000 đồng tưcmg đưong 3,75 lượng; còn Mây góp 1,5 lượng. Sau khi thỏa thuận giá với bên bán thì tháng 6/2000 ông Mây giao 15 chỉ vàng đặt cọc tiền đất cho bà Vân và bà Vân có làm giấy biên nhận hẹn đến tháng 12/2000 thu hoạch mía thì giao tiền phần còn lại để bà Vân rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng về làm thủ tục sang nhượng.

Đến tháng 12/2000 ông đem tiền đến ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xã Hảo Đước trả thay cho bà Vân hai lần, lần đầu 6.000.000 đồng và lần sau 11.000.000 đồng; ngân hàng có làm giấy xác nhận việc ông trả tiền thay cho bà Vân.

Sau khi ông lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Vân về, do trước đó bà Vân mua của ông Đào Chiến chưa sang tên nên 02 ha vẫn do ông Chiến đứng tên. Khi đó mẹ vợ ông còn sống nên ông có bàn với mẹ vợ là để cho ông Mây đứng tên toàn bộ diện tích 3,5ha, vì lúc đó ông đã đứng tên diện tích 4,9ha và nghe nói là Nhà nước không cho đứng tên nhiều đất, nên ông để cho ông Mây đứng tên toàn bộ, do tin tưởng nhau nên không làm giấy tờ gì cả.

Sau đó ông ông là người trực tiếp làm thủ tục sang tên từ ông Đào Chiến và bà Vân cho ông Mây đứng tên; tiền thuế trước bạ và các chi phí khác do ông đóng; khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giao cho ông Mây giữ.

Giữa ông và ông Mây có thỏa thuận mỗi người sản xuất một năm, năm 2000 ông Mây sản xuất, năm 2001 ông sản xuất, đáng lẽ năm 2011 đến lượt ông sản xuất thì ông Mây không cho.

Nay ông đề nghị ông Mây giao trả lại diện tích đất là 2,5 ha trong tổng diện tích 3,5ha mà hai người hùn sang nhượng của bà Vân, giao vị trí nào cũng được. Đối với cây cao su ông Mây đã trồng thì ông đồng ý bồi thường theo giá đã định.

Bị đơn, ông Tô Vãn Mây trình bày: Ông Yên là anh rể ông. Ông Yên khai như trên là không đúng. Vào năm 2000 ông yên có nói gia đình ông biết là có người bán 3,5ha đất rẫy, giá 15 chỉ vàng/ha, thấy giá cả cũng được nên gia đình anh đồng ý mua 02 phần của vợ chồng ông Đào Chiến với diện tích 02 ha, cả hai thửa đẩt tọa lạc tại xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Mặc dù ông Đào Chiến đứng tên nhưng ông Chiến đã bán cho bà Vân trước đó nên thỏa thuận sang nhượng với bà Vân. Do ông Yên là anh rể rành thủ tục và cũng là người giới thiệu để ông mua 02 phần đất trên nên gia đình ông tin tưởng giao số tiền 17.000.000 đồng cho ông Yên để ông Yên đưa cho bà Vân. Ông Yên cũng là người làm thủ tục chuyến nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng bà Vân và vợ chồng ông Chiến sang cho ông. Năm 2001 vợ chồng bà Vân và vợ chồng ông Chiến làm xong thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông theo đúng quy định của pháp luật. Từ đó đến nay ông quản lý sử dụng đất không ai tranh chấp, còn việc bà Vân và ông Yên đến Ngân hàng giao tiền là vì bà Vân còn nợ Ngân hàng, ông chỉ biết giao tiền cho ông Yên đi trả giúp, còn ông Yên trả như thế nào ông để ý. Khi chuyển nhượng xong, ông trồng mì, ông Yên cầy đất cho ông nhưng không lấy tiền của ông nên năm sau ông để cho ông Yên làm. Thời gian này ông đang buôn bán phụ tùng Honda nên không có thời gian làm rẫy, mọi việc làm rẫy giao cho ông Yên lo liệu. Ông là người có đất, ông Yên là người có vốn, có công để bỏ vào trồng mì, đáng lẽ mỗi năm lợi nhuận chia hai nhưng anh em thỏa thuận là ông nhận lợi nhuận một năm, ông Yên nhận lợi nhuận 1 năm. Ông chỉ là người có đất nên việc đầu tư là do ông Yên bỏ ra và cho ông hưởng lợi nhuận. Đến năm 2007, do việc buôn bán không được nên ông muốn trực tiếp làm rẫy để có thu nhập và lấy đất lại tự sản xuất đến nay.

Năm 2003 ông có thế chấp toàn bộ diện tích đất này cho Ngân hàng Công thương Tây Ninh vay số tiền 150.000.000 đồng, đến tháng 5/2012 mới đáo hạn. Hiện nay đất ông trồng cao su từ tháng 5/2011. Ông không đồng ý như yêu cầu của ông Yên.

Bà Dương Thị Hồng Nga trình bày: Bà và ông Mây kết hôn năm 2003, khi về đã có đất này rồi nên không biết sự việc thế nào, không có ý kiến gì.

Ngân hàng Công thương Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tây Ninh trình bày:

Ngân hàng có cho hộ ông Mây vay tiền, thời hạn đến tháng 5/2012 thì hết hạn họp đồng. Ông Mây có thế chấp hai phần đất rẫy diện tích 3,5ha tọa lạc tại ấp 1, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, đất do ông Mây đứng tên trong giấy chứng nhận quyề sử dụng đất. Do ông Mây không vi phạm hợp đồng nên Ngan hàng không khởi kiện.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2012/DSST ngày 20/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vãn Yên về việc yêu cầu ông Tô Văn Mây trả diện tích đất 2,5 ha.

Ông Tô Văn Mây được quyền sử dụng phần đất có diện tích 3,5ha, tọa lạc tại ấp 1, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; đất do ông Mây dứng tên trong hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 04/7/2001, thuộc thửa 0216 và 0232, tờ bản đồ số 4.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần thế chấp giữa ông Mây với Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Ninh, về án phí, chi phí đo đạc, định giá và quyền kháng cáo.

Ngày 04/4/2012, ông Nguyễn Văn Yên có đơn kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 284 ngày 12/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:

1/ không chấp nhận yêu cầu kháng cảo của ông Nguyễn Văn Yên.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm sổ: 26/2012/DSST ngày 20/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Áp dụng Điều 256 Bộ luật dân sự; Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vãn Yên về việc yêu cầu ông Tô Văn Mây trả diện tích đất 2,5ha.

Ông Tô Văn Mây được quyền sử dụng phần đất có diện tích 3,5ha, tọa lạc tại ấp 1, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; đất do ông Mây đứng tên trong hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 04/7/2001, thuộc thửa 0216 và 0232, tờ bản đồ số 4.

2/ Án phí DSPT: Ông Nguyễn Văn Yên phải chịu 200.000 đồng; được khấu trừ vào 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006419 ngày 04/4/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Sau khi xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Yên có đơn đề nghị xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm.

Ngày 12/11/2012 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có công văn số 03/VKS-P5 đề nghị VKSNDTC kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án dân sự phúc thấm trên.

Kháng nghị số 58/2014/KN-DS ngày 12/8/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự số 284/2012/DSPT ngày 13/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 23/9/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghi nêu trên của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận.

XÉT THẤY

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất xác định diện tích đất tranh chấp 3,5ha là nhận chuyển nhượng từ bà Lê Thị Huỳnh Vân vào năm 2000 với giá 15 chỉ vàng 24k/ha. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Yên cho rằng ông là người trực tiếp giao dịch mua bán với và Vân, do không đủ tiền mua cả 3,5ha nên đã hùn vốn cùng ông Tô Văn Mây (em vợ) mua diện tích đất trên; trong đó ông Mây góp 15 chỉ vàng, ông góp 17.000.000 đồng tương đương 3,75 lượng; do ông đã đứng tên nhiều đất nên thống nhất để ông Mây đứng tên diện tích đất này. Nay ông Yên yêu cầu ông Mây trả lại 2,5ha tương đương với số tiền ông bỏ ra mua đất của bà Vân. Ông Mây cho rằng ông là người nhận chuyển nhượng số đất trên của bà vân, tiền thanh toán là của ông, đất đứng tên ông nên không đồng ý theo yêu cầu của ông Yên.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, về giao dịch chuyển nhượng đất và thanh toán tiền cho bà Vân: Ông Yên luôn xác định ông và ông Mây hùn vốn mua chung diện tích đất trên của bà Vân, ông góp 17.000.000 đồng tương đương 2,5ha, ông Mây góp 15 chỉ tương đương lha, mọi giao dịch và thỏa thuận giá với bà Vân do ông thực hiện, về phía ông Mây khai không thống nhất từ việc giao dịch, thỏa thuận về giá chuyển nhượng như việc thanh toán tiền cho chủ đất và sổ tiền trả Ngân hàng. Có lúc ông Mây khai ông là người trực tiếp giao dịch và thỏa thuận giá, có lúc lại khai do ông Yên thực hiện việc này; lúc khác lại khai vừa thanh toán bằng vàng, vừa thanh toán bằng tiền, ở lần khai khác lại khai thanh toán hoàn toàn bằng vàng; có lúc khai ông là người thanh toán toàn bộ cho bà Vân, có lúc khai ông thanh toán một phần còn nhờ ông Yên thanh toán; có lúc khai trả Ngân hang (17 triệu đồng) là do ông Yên trả nhưng là tiền của ông đưa cho ông Yên, có lúc lại khai là tiền bà Vân đưa cho ông yên, lúc khác lại khai là do bà Nuối (chị ông Mây) đưa cho ông yên (BL 35, 38, 48, 51, 98).

Đối với người chuyển nhượng đất là vợ chồng ông Lê Vinh Hiển, bà Lê Thị Huỳnh Vân đều xác định ông yên là người giao dịch mua bán đất với vợ chồng ông bà; ông Yên là người trả nợ Ngân hàng 17.000.000 đồng để bà Vân lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao cho ông Yên để đi làm thủ tục chuyển nhượng. Ông May cho rằng 17.000.000 đồng trả Ngân hàng là do ông đưa ông yên trả và Vân, lúc khác lại khai số tiền này là do bà Nuối đưa cho ông Yên nhưng không có căn cứ chứng minh. Thực tế ông Yên đã trả Ngân hàng 17 triêu đồng, Ngân hàng đã biên nhận số tiền này với nội dung “ông Yên trả tiền mua đất của bà Vân” (BL92). Như vậy, 17 triệu đồng ông Yên trả Ngân hàng là số tiền mua một phần trong tổng sổ 3,5ha đất của bà Vân. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng không có căn cứ xác định có việc hùn vốn giữa ông Yên và ông mây để không chấp nhận yêu cầu của ông Yên là không đúng. Mặt khác, trước khi ông Yên khởi kiện ông Mây(6/2011), năm 2002 bà Trần Thị Lệ Dung đã khởi kiện ông Nguyễn Văn Yên và ông Tô Văn Mây về việc hai ông mua 3,5ha đất của bà Lê Thị Huỳnh Vân (diện tích đất ông Yên và ông Mây đang tranh chấp). Bà Dung cho rằng diện tích đất đó bà Dung có hùn vốn với bà Vân để mua của ông Đào Chiến. Bà Dung yêu cầu ông Yên và ông Mây trả bà l,5ha vì bà không đồng ý chuyển nhượng. Vụ kiện này đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/DSST ngày 20/3/2002 và Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết tại bản án dân sự phúc thẩm số 85/DSPT ngày 22/8/2002. Tại bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên đồng bị đơn là ông Yên bà ông Mây xác định “Vào ngày 15/8/2000 chị Lê Thị Huỳnh Vân có làm giấy tay sang nhượng lại cho 02 anh 01 phần đất có diện tích là 3,5ha với giả tiền là 15 chỉ vàng 24k/ha.. Sau khi đưa trả trước chị Vân 15 chỉ vàng 24K, Ngân hàng biết được sự sang nhượng đất giữa chị với 2 anh nên Ngân hàng đã mời chị Vân cùng hai anh đến Ngân hàng giải quyết. Ngân hàng yêu cầu hai anh nếu mua đất chị Vân thì phải nộp tiền tại Ngân hàng đề Ngân hàng thu hồi nợ chị Vân và sẽ giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục sang nhượng... “ Như vậy, tại vụ án này ông Yên và ông Mây đã thừa nhận hai ông mua chung 3,5ha đất của bà Vân. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên đã bác yêu cầu của bà Dung và quyết định “Anh Tô Văn Mây và Nguyễn Văn Yên được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích là 35.000m2. Đất tọa lạc tại khu vực Bầu Ông Cả... “ Thực tế, sau bản án phúc thẩm này ông Yên và ông Mây đã thay nhau canh tác trên diện tích đất đó. Như vậy, 3.5ha đất này ông Yên và ông Mây đã mua của bà Vân từ năm 2000. Đây là tài sản chung theo phần giữa ông Yên và ông Mây, điều này đã được Tòa án xác định và tuyên xử tại bản án đã có hiệu lực pháp luật từ năm 2002. Nay các đương sự có tranh chấp, lẽ ra Tòa án phải căn cứ vào bản án đã có hiệu lực pháp luạt và căn cứ các chứng cứ do các đương sự xuất trình để chia tài sản chung theo sự đóng góp của mỗi bên mới đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã không chấp nhận yêu càu khởi kiện của ông Yên là không đúng.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 58/2014/KNDS ngày 12/8/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 284/2012/DSPT ngày 13/08/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 26/2012/DSST ngày 20/03/2012 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về vụ án “ Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Yên với bị đơn Tô Văn Mây. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 2 người.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 384/2014/DS-GĐT ngày 23/09/2014 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:384/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/09/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về