Quyết định giám đốc thẩm 40/2008/DS-GĐT ngày 22/12/2008 về vụ án tranh chấp thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 40/2008/DS-GĐT NGÀY 22/12/2008 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ

Ngày 22 tháng 12 năm 2008, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp về thừa kế” giữa:

Nguyên đơn: Ông Triệu Văn Cu, sinh năm 1927; trú tại: nhà số 15 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Ông Triệu Văn Tỷ, (tức Thành) sinh năm 1936; trú tại: Nhà số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Triệu Sên Liếm sinh năm 1956; trú tại: Nhà số 36 khóm 1, ấp Nhân Dân A, xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

2. Ông Triệu Văn Năm (tức Cuội) sinh năm 1951; định cư tại Mỹ (địa chỉ: số 3035 Abelia CT, SanJose, Clifornia 95121 USA).

3. Chị Huỳnh Thị Hoa sinh năm 1975; trú tại: nhà số 43 đường Hoàng Văn Thụ, phường 3, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

4. Chị Huỳnh Kim Phượng sinh năm 1979 và chị Huỳnh Thị Kim Hương sinh năm 1973; đều trú tại: ấp Biển Tây A, xã Vĩnh Trạch Đông, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

5. Anh Huỳnh Văn Hột sinh năm 1974; trú tại: phường 2, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

6. Anh Huỳnh Văn Thến (tức Phến) sinh năm 1970; trú tại: Nhà số 61 Hồ Thị Kỷ, khóm 2, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Phượng, chị Hương, anh Hột, anh Thến ủy quyền cho chị Hoa đại diện tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 01-3-2005).

NHẬN THẤY

Cụ Triệu Văn Xướng (chết ngày 14-12-1996) và cụ Lâm Thị Hai (chết     27-5-1993) có 5 người con là ông Triệu Văn Cu, ông Triệu Văn Tỷ (tức Thành), ông Triệu Văn Năm (định cư ở Mỹ), ông Triệu Sên Liếm, bà Triệu Kim Thanh (chết năm 1987, có chồng là ông Huỳnh Văn Á và 05 người con là các anh, chị Huỳnh Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim Hương, Huỳnh Kim Phượng, Huỳnh Văn Hột, Huỳnh Văn Thến).

Tại đơn khởi kiện ngày 04-03-2004 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Triệu Văn Cu trình bày: Cha mẹ ông mất để lại căn nhà và đất ở số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu. Nguồn gốc nhà đất: năm 1957, cụ Lâm Thị Hai đứng tên mua của cụ Thái Thị Phấn, lô đất này có chiều ngang mặt tiền là 9m, chiều ngang phía sau khoảng 8 m (không nhớ cụ thể); chiều dài 17m; sau khi mua đất, cụ Xướng, cụ Hai đã cất nhà, mái lợp ngói để làm nơi đậu đỗ xe, sửa chữa xe (có lúc khai là các cụ ở đây một thời gian). Vì nhà của ông Tỷ bị pháo kích năm 1968, nên hai cụ đã sửa chữa lại căn nhà nêu trên cho ông Tỷ ở tạm.

Do căn nhà của vợ chồng ông đang ở tại số 15 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nằm trong quy hoạch, chuẩn bị giải tỏa, nên cụ Hai đã nói với ông Tỷ để cho ông được cất nhà ở trên một phần đất của hai cụ đã lập di chúc phân chia đất này cho ông Tỷ, ông Liếm và ông, mỗi người được hưởng 3m chiều rộng, chiều dài đến hết lô đất. Sau đó, ông Tỷ tự ý tháo dỡ nhà cũ của hai cụ và xây dựng lại nhà kiên cố như hiện nay. Khi ông Tỷ dỡ nhà cũ, cất nhà mới, ông đã ngăn cản và báo với chính quyền địa phương.

Nay, ông yêu cầu chia thừa kế tài sản theo di chúc của cụ Xướng, cụ Hai để lại, để ông có đất làm nhà ở.

Bị đơn là ông Triệu Văn Tỷ trình bày: Năm 1957, hai cụ đã mua diện tích đất nêu trên cho ông ở riêng; còn các cụ ở nơi khác. Năm 1963, ông trúng số có được số tiền lớn và đưa cho cụ Hai (có lời khai là 70.000), nên hai cụ đã cho ông luôn lô đất này. Ông đã cất nhà lợp lá để ở và sửa chữa nhà nhiều lần; năm 1993 ông xây dựng lại kiên cố như hiện nay. Các cụ cho ông đất tuy không lập giấy tờ nhưng anh em trong gia đình biết. Ông đã sử dụng nhà đất từ đó đến nat, đóng thuế cho Nhà nước. Khi còn sống, cụ Xướng, cụ Hai không ở tại nhà đất này, mà ở với ông Triệu Sên Liếm.Các cụ chết, không để lại di chúc (có lúc khai là ông Cu đã ép buộc hai cụ lập di chúc chia nhà này làm 3 phần cho ông Cu, ông Liếm và ông). Ông không thừa nhận Tờ di chúc nêu trên; năm 1993, cụ Xướng đã có đơn rút lại tờ di chúc đó.

Như vậy, đất ông đang sử dụng là do các cụ cho ông từ lâu, còn nhà do ông xây cất; nhà đất này không phải là tài sản thừa kế, nên ông không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Triện Sên Liếm trình bày: cha mẹ ông (cụ Xướng và cụ Hai) có phần đất rẫy tại xã Hợp Thành, thị xã Bạc Liêu và nhà đất tại số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu theo di chúc và phần đất rẫy tại xã Hợp Thành hiện do ông Cu quản lý (ông Liếm không nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia thừa kế phần đất rẫy tại xã Hợp Thành).

Chị Huỳnh Thị Hòa (đồng thời đại diện cho chi Hương, chi Phượng, anh Thến, anh Hột) yêu cầu chia thừa kế nhà đất đang tranh chấp theo pháp luật.

Ông Triệu Văn Năm (đang định cư tại Mỹ) không yêu cầu chia thừa kế tài sản đang tranh chấp và xin được xét xử vắng mặt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2005/DSST ngày 18-5-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:

Căn cứ Điều 136 Luật đất đai; Điều 12,13,17,22,24 Pháp lệnh thừa kế; Điều 7, Điều 11 Nghị Định 70/CP của Chính phủ về án phí. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu xin chia thừa kế của ông Triệu Văn Cu.

Buộc ông Triệu Văn Tỷ (Thành) có trách nhiệm thanh toán cho ông Triệu Văn Cu 15.264.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Buộc ông Triệu Văn Tỷ có trách nhiệm thanh toán cho ông Triệu Sên Liếm 15.264.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Ông Triệu Văn Tỷ được quyền tiếp tục quản lý sử dụng 114,48m2 đất và có trách nhiệm đăng ký kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Bác yêu cầu đơn xin chia thừa kế theo pháp luật của chị Huỳnh Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim Hương, Huỳnh Kim Phượng và anh Huỳnh Kim Hột, anh Huỳnh Văn Thến.

Chi phí do đất định giá 400.000 đồng ông Triệu Văn Cu đã dự nộp. Buộc ông Triệu Văn Tỷ phải hoàn lại cho ông Triệu Văn Cu 200.000 đồng. Buộc ông Triệu Sên Liếm hoàn lại cho ông Triệu Văn Cu 100.000 đồng.

3. Áp dụng Thông tư liên tịch số 01 ngày 19-6-1997 trong giai đoạn thi hành án (THA). Kể từ ngày có đơn yêu cầu THA của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải THA còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải THA theo mức lãi xuất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 01-6-2005, ông Triệu Văn Cu và ông Triệu Sên Liếm kháng cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn xin rút lại di chúc đề ngày 17-5-1994 (do ông Tỷ xuất trình) là không đúng; ông Cu yêu cầu chia thừa kế bằng đất vì ông Liếm cũng đồng ý nhượng lại cho ông Cu cất nhà vì nhà của ông Cu thuộc diện giải tỏa.

Ngày 01-6-2005, ông Triệu Văn Tỷ kháng cáo và cho rằng ông đã ở trên phần đất này từ năm 1963, đã đăng ký kê khai và sửa chữa nhà nhiều lần; ông Cu sống chung với cụ Hai và đã ép cụ Hai lập di chúc ngày 08-02-1993; sau đó cụ Xướng đã có đơn xin rút lại Tờ di chúc này, giao nhà đất cho ông nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn phân chia thừa kế phần của cụ Hai là không đúng; yêu cầu được hưởng toàn bộ nhà đất.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 432/2005/DSPT ngày 10-11-2005, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận kháng cáo của ông Triệu Văn Cu và Triệu Sên Liếm; không chấp nhận kháng cáo của ông Triệu Văn Tỷ.

- Áp dụng Điều 136 luật đất đai, Điều 738 và khoản 2 Điều 739 Bộ luật  dân sự và Điều 7, Điều 11 Nghị định 70/CP của Chính phủ.

- Chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế của ông Triệu Văn Cu và ông Triệu Sên Liếm.

Xử:

1. Giao cho ông Triệu Văn Tỷ (Thành) tiếp tục quản lý, sử dụng 127,89m2 đất tại số nhà 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, ông Tỷ có trách nhiệm kê khai, đăng ký để ủy ban nhân dân xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở theo thẩm quyền.

2. Buộc ông Triệu Văn Tỷ (Thành) phải có trách nhiệm trả lại giá trị phần đất được chia cho ông Triệu Văn Cu là 34.104.000 đồng; trà lại giá trị phần đất được phân chia cho ông Triệu Sên Liếm là 34.104.000 đồng.

3. Cho phí đo đạc 400.000 đồng, ông Triệu Văn Cu phải chịu 134.000 đồng, ông Triệu Văn Cu đã nộp 400.000 đồng để thanh toán, buộc ông Triệu Văn Tỷ phải nộp lại 134.000 đồng, ông Triệu Sên Liếm phải nộp 134.000 đồng để hoàn lại cho ông Triệu Văn Cu.

Chi phí giám định 150.000 đồng ông Triệu Văn Cu phải chịu (ông Cu đã  thanh toán xong).

4. Áp dụng Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi xuất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian phải thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Triệu Văn Cu, ông Triệu Sên Liếm có đơn khiếu nại cho rằng nhà đất của ông Cu thuộc diện giải tỏa, còn ông Liếm ở nhờ bên vợ, chưa có chỗ ở ổn định; nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không chia thừa kế bằng hiện vật cho các ông là không đúng; mặt khác, giá đất ở được ghi trong bản án phúc thẩm không phù hợp với thực tế.

Tại quyết định số 275/2008/KN-DS ngày 03-10-2008, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm sốn 02/2005/DSST ngày 18-5-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:

“…Diện tích đất 127,89 m2 (đã trừ lộ giới quy hoạch) tại số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu là tài sản của cụ Triệu Văn Xướng và cụ Lâm Thị Hai. Ngày 08-02-1993, cụ Hai và cụ Xướng lập Tờ di chúc chỉ định 3 người con là ông Triệu Sên Liếm, ông Triệu Văn Cu và ông Triệu Văn Thành (tức Tỷ) được thừa kế lô đất nêu trên (chiều ngang phía trước 9m, hậu 8,86m; chiều dài 16,42m và 17,32m) mỗi người một phần đất (có Sơ đồ đất phân chia thổ cư đính kèm); tại di chúc này ghi rõ: Khi hai vợ chồng tôi qua đời, các con tôi được quyền thực hiện việc sang tên quyền sử dụng theo đúng quy định của Nhà nước (Tờ di chúc này có chữ ký của cụ Xướng, dấu điểm chỉ của cụ Hai, chữ ký của nhân chứng và xác nhận của Trưởng ban nhân dan khu 1 là ông Hứa Phương Tòng). Ngày 19-3-1993, cụ Hai và cụ Xướng lại có Đơn yêu cầu thuận phân nhà đất (gởi UBND thị xã Bạc Liêu) lại xác nhận là hai cụ đã lập di chúc nêu trên và yêu cầu UBND thị xã Bạc Liêu ra quyết định buộc ông Tỷngưng việc xây cất trái phép và chấp nhận sự thuận phân của hai cụ cho mỗi người con 1/3 diện tích nhà đất theo sơ đồ của Tờ di chúc nêu trên. Ngày 27-5-1993 cụ Hai chết và cụ Xướng chết ngày 14-12-1996; do đó, có cơ sở xác định diện tích đất nêu trên là tài sản được chia thừa kế theo di chúc của hai cụ.

Xét diện tích đất các cụ để lại đo thực tế có hướng Bắc giáp đường Thống Nhất là 8,95m, hướng Nam giáp nhà ông Phan Ký Thia là 8,8m; chiều dài hướng Đông là 15,2m; hướng Tây là 15,15m, đủ điều kiện chia thừa kế bằng hiện vật (đất) cho mỗi người thừa kế. Ông Liếm và ông Cu đều có yêu cầu được chia thừa kế hiện vật. Ông Tỷ đã xây cất nhà mái tole trái phép tại đất này (cụ Xướng, cụ Hai đã có đơn đề nghị ngăn chặn việc xây cất trái phép); Tòa án cấp phúc thẩm giao toàn bộ diện tích đất (127,89m) cho ông Tỷ quản lý, sử dụng; còn ông Liếm, ông Cu chỉ được hưởng thừa kế bằng giá trị là không đúng quy định của pháp luật.

Mặt khác, ngày 02-3-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tổ chức định giá nhà đất, nhưng mới chỉ định giá nhà, chưa xác định giá quyền sử dụng đất theo thời giá. Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá đất 800.000 đồng/mnhưng chưa xác định rõ giá đất này có phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thị trường tại đại phương hay không, mà đã quyết định giao ông Tỷ tiếp tục quản lý, sử dụng 127,89m2 đất và trả giá trị quyền sử dụng đất mà ông Liếm và ông Cu được hưởng, mỗi phần 34.104.000 đồng là thiếu căn cứ.

Tại phiên tòa giám đốc thaame, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định diện tích đất 127,89m(đã trừ lộ giới quy hoạch) tại số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu do vợ chồng cụ Triệu Văn Xướng, cụ Lâm Thị Hai tạo lập. Ngày 08-02-1993, cụ Hai đã lập “Tờ di chúc” có nội dung chia cho ba người con là ông Triệu Sên Liếm, ông Triệu Văn Cu và ông Triệu Văn Tỷ, mỗi người được thừa kế 1/3 lô đất nêu trên (có sơ đồ phân chia thổ cư đính kèm). Ngày 19-3-1993, cụ Hai và cụ Xướng lại có “Đơn yêu cầu thuận phân nhà đất” yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu buộc ông Tỷ “ngưng việc xây cất trái phép” và chấp nhận sự chấp nhận sự thuận phân của hai cụ cho mỗi người 1/3 diện tích nhà đất theo sơ đồ của Tờ di chúc nêu trên. Tuy trong quá trình tố tụng, ông Tỷ xuất trình Đơn (đề tên cụ Xướng) ngày 17-5-1994 xin rút lại di chúc nêu trên và giao lô đất thuộc căn nhà số 138 đường Thống Nhất, khóm 1, phường 5, thị xã Bạc Liêu cho ông Tỷ toàn quyền sử dụng; nhưng ông Nguyễn Đắc Thắng và ông Lâm Quốc Việt (là những người đã ký xác nhận tại tờ đơn rút lại di chúc) đều không khẳng định cụ Xướng đã ký tại tờ rút lại di chúc trước mặt ông Thắng, ông Việt; mặt khác, theo “Bản kết luận giám định” số 63/GĐ-2005 ngày 29-9-2005 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu thì “Qua nghiên cứu chữ ký của Triệu Văn Xướng trên các tài liệu d Tìa án nhân dân tỉnh cung cấp mẫu so sánh thấy không đủ yếu tố để kết luận truy nguyên đồng nhất”. Tòa án cấp sơ thấm đã chấp nhận tờ đơn xin rút lại Tờ di chúc (phần tài sản của cụ Xướng), là không đúng; Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận Tờ di chúc của cụ Xướng và cụ Hai ngày 08-02-1993 và không chấp nhận đươn xin rút lại di chúc nêu trên, để chia tài săn thừa kế của hai cụ theo di chúc cho ông Cu, ông Tỷ và ông Liếm, là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, diện tích đất do các cụ để lại có chiều rộng 8,95m (hướng Bắc giáp đường Thống Nhất); chiều rộng phía sau là 8,8m (hướng Nam giáp nhà ông Phan Ký Thia); chiều dài hướng Đông là 15,2m, hướng Tây là 15,15m, là đủ điều kiện chia thừa kế bằng hiện vật (đất) cho mỗi người thừa kế; trong khi đó, ông Liếm và ông Cu đều có yêu cầu được chia thừa kế hiện vật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Cu và ông Liếm có đơn kháng cáo và yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật (đất) cho ông Cu, để ông Cu có đất làm nhà ở vì nhà ông Cu đang ở bị quy hoạch, giải tỏa; ông Cu có gửi cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh “Trích lục bản đồ” (bản sao) thửa đất của ông Cu đang sử dụng bị quy hoạch lộ giới 39,60 m2 và “Đơn xin xác nhận” của ông Cu ngày 19-8-2005 (bản sao) có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 5, thị xã Bạc Liêu nằm trong quy hoạch, giải tỏa. Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét nhu cầu về nhà ở của ông Cu và ông Liếm ( nhà đất của ông Cu đang bị quy hoạch, giải tỏa) mà lại cho rằng ông Cu và ông Liếm đã có nhà ở ổn định từ lâu, để quyết định giao toàn bộ diện tích đất (127,89m2)  cho ông Tỷ quản lý, sử dụng; còn ông Liếm, ông Cu chỉ được thừa kế nằng giá trị, là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 1995.

Mặt khác, ngày 02-3-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tổ chức định giá nhà đất, nhưng mới định giá nhà mà chưa định giá quyền sử dụng đất. Tại văn bản ngày 02-3-2005 của phòng Kế hoạch – Tài chính thị xã Bạc Liêu đã cung cấp giá đất (theo Quyết định số 02/2005/QĐ-UB ngày 12-01-2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu) tại đoạn đường Thống Nhất là 800.000 đồng/m2. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều xác định giá đất 800.000 đồng/m2, nhưng chưa làm rõ mức giá quyền sử dụng đất này có phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm hay không, mà đã quyết định giao cho ông Tỷ tiếp tục quản lý, sử dụng 127,89m2 đất, để ông Tỷ thanh toán kỷ phần thừa kế cho ông Cu và ông Liếm bằng tiền là không hợp lý, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Cu và ông Liếm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 432/2005/DSPT ngày 10/11/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 02/2005/DSST ngày 18/05/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về vụ án dân sự “tranh chấp về thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Triệu Văn Cu với bị đơn là ông Triệu Văn Tỷ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Triệu Sên Liếm, ông Triệu Văn Năm và các anh, chị Huỳnh Thị Hoa, Huỳnh Kim Phượng, Huỳnh Thị Kim Hương, Huỳnh Văn Hột, Huỳnh Văn Thến (tức Phến)

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lý do bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm bị hủy:

- Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn rút lại di chúc là không đúng pháp luật.

- Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu chia di sản bằng hiện vật của đương sự trong khi di sản có thể phân chia được bằng hiện vật.

- Cả Toa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã thiếu sót khi chỉ căn cứ vào giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh công bố mà không xem xét giá đó có phù hợp với giá đất theo thị trường tại thời điểm xét xử hay không.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về