Quyết định giám đốc thẩm 416/2014/DS-GĐT ngày 16/10/2014 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM  416/2014/DS-GĐT NGÀY 16/10/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 16/10/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1- Bà Đỗ Thị Bạch Liêng, sinh năm 1948; trú tại: số 237 và 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Bạch Liêng theo giấy ủy quyền lập ngày 15/4/2011: ông Nguyễn Văn Quan, sinh năm 1935; trú tại: C1/3 ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

2- Ông Lê Văn Thưởng, sinh năm 1947; chết ngày 10/02/2011.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn Thưởng gồm:

1- Bà Đỗ Thị Bạch Liêng, sinh năm 1948; trú tại: số 237 và 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

2- Ông Le Van Vu (Lê Văn Vũ), sinh năm 1979; trú tại: số 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Vũ là ông Nguyễn Văn Quan.

- Ông Le Van Tieng, sinh năm 1981; trú tại: 7 Allee Voltaire 77815 Lognes France.Người đại diện theo ủy quyền của ông Le Van Tieng theo giấy ủy quyền lập ngày 15/02/2011 là bà Đỗ Thị Bạch Liêng.

- Ông Le Van Thanh, sinh năm 1982; trú tại: 7 Allee Voltaire 77815 Lognes France.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Le Van Thanh theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/02/2011 là bà Đỗ Thị Bạch Liêng.

- Ông Le Huu Loi, sinh năm 1985; trú tại: 7 Allee Voltaire 77815 Lognes France.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Le Huu Loi theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/02/2011: Bà Đỗ Thi Bạch Liêng.

Bị đơn: Bà Ký Kim Ni, sinh năm 1970; trú tại: số 237 và 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ký Kim Ni theo Giấy ủy quyền lập ngày 09/5/2011 là Bà Lê Thị Thúy, sinh năm 1961; trú tại: 977/15 Trần Hưng Đạo, phường 5 quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1968; trú tại: ấp 1, xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Thành theo Giấy ủy quyền lập ngày 08/10/2010: Ông Hoàng Kim Quốc, sinh năm 1975; trú tại: 647/4 Trường Chinh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

2- Ông Trần Văn Đạt (Tran Van Dat), sinh năm 1966 ( ông Trần Văn Đạt có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 24/02/2011); tạm trú: số 237 và 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

3- Ông Nguyễn Hoàng Thái, sinh năm 1990; trú tại: số 237 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 25/11/2008, các bản tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn ông Lê Văn Thưởng trình bày:

Ông và vợ là bà Đỗ Thị Bạch Liêng là người Việt Nam nhưng trước đây sinh sống ở nước ngoài là Việt Kiều Pháp. Từ năm 2008 vợ chồng ông đã hồi hương nhập quốc tịch Việt Nam có hộ khẩu cư trú tại: số nhà 237 và 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Vào năm 2000, sau khi về hưu, vợ chồng ông thường xuyên về Việt Nam thăm bà con và cũng để tìm cơ hội làm ăn, thường gặp bị đơn là bà Ký Kim Ni là con ruột của người anh vợ ông gọi vợ chồng ông bằng Cô dượng, vợ chồng ông rất tin tưởng bà Ni. Lúc này bà Ni đang làm nghề thu mua phế liệu và đang định cư tại Campuchia chưa có hộ khẩu tại Việt Nam và bà Ni có hỏi mượn tiền của vợ chồng ông. Do lá chỗ bà con nên vợ chồng ông đồng ý cho mượn. Thời gian này bà Ni vẫn chưa có hộ khẩu tại Việt Nam vì vậy ông phải nhờ tài khoản của người bạn là Hứa Phát Tài( tên khác là Sái) để ông chuyển tiền về. Sau đó nhờ ông Tài giao lại cho bà Ni đã nhận cụ thế: chuyến qua ngân hàng Banco Popular Frace ở Pháp cho ông Tài ngày 09/9/2002 là 4.352 Euro, ngày 15/9/2002 là 6.300 Euro, ngày 17/5/2003 là 1.300 Euro, tổng cộng số tiền là 182.280.000đ.

Đến giữa tháng 11/2002 bà Ni báo cho ông Thưởng biết rằng bà Ni có đi xem đất tại Ngã tư bốn xã, huyện Bình Chánh và đề nghị vợ chồng ông gửi tiền về để bà Ni mua đất giúp vợ chồng ông. Nhưng đến lúc này bà Ni vẫn chưa có hộ khẩu, nên vợ chồng ông chuyển tiền thông qua tài khoản của ông Hứa Phát Tài cụ thể: Ngày 26/11/2002 ông chuyển tiền vào tài khoản số 540G0185 của ông Hứa Phát Tài (Sái) số tiền là: 539.980.000đ, lúc này tương đương là 90 lượng vàng SJC thể hiện tại giấy báo có số 0324-5003 do Ngân hàng Ngoại Thương thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 18/11/2002 và ông Tài đã giao lại cho bà Ni để bà Ni mua giúp vợ chồng ông Thưởng một lô đất tại Ngã tư bốn xã, huyện Bình Chánh, nay là quận Bình Tân vào khoảng cuối năm 2002.

*Quá trình mua đất và xây dựng nhà trên lô đất số 0.29 nay là căn nhà sổ 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2003, ông Thưởng về Việt Nam để xem đất và qua tìm hiểu trực tiếp, ông được biết thửa đất tại ngã tư bốn xã không thể xây nhà được vì đây là vùng ruộng lúa đất không chan, vì vậy, ông Thưởng quyết định bán thửa đất này và ông Thưởng nhờ bà Ni xem ai mua bán giúp. Cùng lúc này ông đi xem thửa đất khác, đó là thửa đất số 0.29. Sau khi xem đất ông quyết định mua với giá 790.000.000đ và ông đã đặt cọc trực tiếp cho chủ đất là bà Ong Thu My số tiền là 90.000.000đ. Ồng là người trực tiếp gặp bà My và thỏa thuận việc mua bán đất, do chưa bán được đất của vợ chồng ông tại ngã tư bốn xã. Vì vậy, ông phải trở về Pháp để chuyển tiền về. Sau khi đặt cọc thì chính ông đưa bà Ni đến gặp bà My, và giới thiệu với bà My, bà Ni là cháu vợ ông. Vì là chỗ gia đình nên sau khi trở về Pháp ông sẽ chuyển tiền cho bà Ni nhận và nhờ bà Ni mang trả cho bà My tiền mua đất mà ông còn nợ. Toàn bộ sự việc này bà My là chủ đất nên biết rất rõ, ngoài ra còn có hai người làm chứng là ông Đỗ Văn Quý là người biết việc và ông Nguyễn Đông Hà là người giới thiệu mua lô đất này.

Do thời gian này bà Ký Kim Ni đã nhập hộ khẩu tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và đã được cấp giấy chứng minh thư nhân dân. Vĩ vậy ông Thưởng đã mở tài khoản cho bà Ni số tài khoản là 540G02068 tại Ngân hàng Sài Gòn Công Thương để từ đó ông chuyển tiền từ Pháp về cho bà Ni, cụ thể: Ngày 12/9/2003 ông chuyển vào tài khoản bà Ni số tiền là 667.000.000đ, bà Ni nhận để trả tiền mua đất cho bà My, lô đất 0.29 giúp ông, nhưng còn thiếu 33.000.000đ vì lô đất mua là 790.000.000đ, tiền đặt cọc là 90.000.000đ còn phải trả là 700.000.000đ. Do ông Thưởng chỉ chuyển 667.000.000đ, như vậy còn thiếu 33.000.000đ. Ông có nói bà Ni trả lại ông 33.000.000đ từ số tiền bà Ni đã mượn là 182.280.000đ trước đây.

Ông Thưởng đã yêu cầu bà Ký Kim Ni lập giấy ủy quyền cam kết ngày 24/8/2003 với nội dung: “Hai vợ chồng ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng về Việt Nam được phép lưu trú đến ngày 30/8/2003 có mua một lô đất làm nền nhà số 0.29 đường 19 phường Bình Trị Đông, huyện Bình Chảnh( nay là huyện Bình Tân), thành phổ Hồ Chí Minh có chiều ngang 5m, chiều dài là 18m của bà Ong Thu My với giá là 790.000.000đ quy đổi giả vàng tại thời điểm là: 6.670.000đ/lượng tương đương là 118 lượng và 5 phân vàng. Do vấn đề pháp lý vợ chồng ông là Việt Kiều chưa có nhập quốc tịch Việt Nam nên không thể đứng tên lô đất này, mục đích mua là để dành sau khi vợ chồng ông về hưu sẽ xin hồi hương về Việt Nam làm nhà sinh sống. Vì vậy, nay lập Giấy ủy quyền cam kết này cho cháu gái là bà Kỷ Kim Ni, sinh năm 1970; thường trú xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; CMND sổ: 341376783 cấp ngày 14/8/2003 do Công an tỉnh Đông Tháp thay mặt vợ chồng ông đứng tên hộ giúp lô đất đế trông coi cho vợ chồng tôi khỉ chúng tôi về Pháp... “ Phần cam kết: Bà Ký Kim Ni có cam kết chỉ đứng tên cho vợ chồng cô dượng là ông Lê Văn Thưởng, sinh năm 1947 hiện cư ngụ tại Pháp và bà Ni cũng xác nhận cô dượng có bỏ số tiền ra mua lô đất này. Nay bà Ký Kim Ni cam kết đứng tên hộ cô dượng, bà và gia đình chồng con bà không có quyền thừa hưởng khu đất kể trên. Nếu có gì sai trái tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Phần ký tên bên ủy quyền có ông Lê Văn Thưởng ký, người cam kết chính là bà Ký Kim Ni và người làm chứng là ông Đỗ Văn Quý và sau đó ông Nguyễn Đông Hà cũng ký tên tái xác nhận.

Ngoài ra, ông yêu cầu ông Nguyễn Văn Thành là chồng bà Ký Kim Ni cũng làm đon xác nhận lô đất 0.29 là tài sản riêng đứng tên và Ký Kim Ni cam kết không có quyền tranh chấp gì về lô đất này đơn có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 26/5/2005.

- Đến cuối năm 2003, bà Ni báo cho ông biết có người mua đất ở Ngã tư bốn xã với giá 150 lượng vàng SJC và ông đồng ý bán nên đã nhờ bà Ni bán giúp phần đất tại Ngã tư bốn xã. Lúc đó, giá vàng tưcmg đương là 7.200.000đ/lượng vàng SJC quy đổi tương đương thành số tiền từ 150 lượng vàng SJC X 7.200.000đ = 1.080.000.000đ. Sau khi bán được đất thì bà Ni gọi điện thoại hỏi mượn vợ chồng ông toàn bộ số tiền này để mua bán phế liệu từ Campuchia về Việt Nam và hứa khi nào vợ chồng ông cần xây nhà thì bà Ni trả lại cho ông bà nên vợ chồng ông đồng ý cho bà Ni mượn toàn bộ số tiền bán đất này.

- Tháng 07/2004, bà Ni điện thoại cho ông bên Pháp hỏi mượn tiếp của vợ chồng ông 1.000.000.000đ để mua lô hàng từ Campuchia về Việt Nam. Vợ chồng ông cũng đồng ý cho bà Ni mượn, cụ thể: Ngày 02/8/2004, ông bà chuyển về Việt Nam qua tài khoản TK số 540G02068 tại Ngân hàng Sài Gòn Công Thương của bà Ni cho bà Ni mượn tiền số tiền là: 455.000.000đ. Ngày 01/11/2004 ông chuyển tiếp số tiền là 540.697.768d cũng qua tài khoản của bà Ni, tổng cộng là 995.697.768đ, toàn bộ số tiền này bà Ni đã nhận mượn của vợ chồng ông.

Vào đầu năm 2005, ông điện thoại báo cho bà Ni là vợ chồng ông đang làm thủ tục xin hồi hương, muốn về Việt Nam xây cất nhà trên lô đất 0.29 đã mua vì vậy nhờ bà Ni chuẩn bị lo xin thủ tục xin Giấy phép xây dựng nhà giúp vợ chồng ông vì đất do bà Ni đã đứng tên trên giấy tờ. Ngoài ra, vợ chồng ông cũng báo và Ni biết chuẩn bị trả lại toàn bộ số tiền mượn cho vợ chồng ông để xây nhà.

Đến khoảng đầu tháng 03/2005 bà Ni báo cho vợ chồng ông đang ở bên Pháp biết đã có giấy phép xây dựng nhà 0.29 và bà Ni cũng đã chuẩn bị đủ số vàng và tiền đã mượn của vợ chồng ông để trả nợ cho vợ chồng ông xây nhà trên lô đất 0.29 nay là căn mang số 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, và ông về Việt Nam trực tiếp tiến hành việc xây dựng nhà cho đến khi hoàn thành công trình xây dựng nhà với tổng chi phí khoảng số tiền 1.900.000.000đ.

*Quá trình, mua đất và xây dựng nhà trên ỉô đất sổ 0.30 nay là căn nhà số 237 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Tháng 05/2006 ông Thưởng về Việt Nam và cư trú tại nhà số 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân mới xây dựng xong, lúc này do quen biết bà Lê Thị Rành nhà đối diện, chính bà Rành là người giới thiệu cho ông Thưởng mua lô đất 0.30 lô đất liền kề bên cạnh căn nhà 239, đang kêu bán với giá là 13.200.000đ/m2 có tổng diện tích 90m2 = 1.188.000.000đ.

Sau khi nghe bà Rành giới thiệu thì ông quyết định mua tiếp lô đất này, chủ đất là bà Huỳnh Thị Bảo Lan. Sau khi gặp nhau hai bên thống nhất việc mua bán và bà Lan yêu cầu ông đặt cọc cho bà Lan số tiền là: 100.000.000đ. Sau đó ông lại phải về Pháp lo tiền chuyển về Việt Nam qua tài khoản 15267149 của bà Ni mở tại Ngân hàng ACB để trả tiền mua lô đất này cho bà Lan cụ thể:

- Ngày 16/11/2005 chuyển cho bà Ni số tiền: 185.944.612đ;

- Ngày 23/12/2005 chuyển cho số tiền: 188.210.000đ;

- Ngày 20/02/2006 chuyển cho bà Ni số tiền: 568.755.310đ;

- Ngày 17/5/2006 chuyển cho bà Ni số tiền: 142.479.713d.

Tổng cộng là: 1.085.389.635đ.

Sau khi mua đất, đến đầu năm 2007 vợ chồng ông báo cho bà Ni biết là sắp về Việt Nam xây tiếp căn nhà trên lô đất O.30 và thông báo bà Ni biết để chuẩn bị trả lại số tiền còn nợ vợ chồng ông để xây nhà trên lô đất đã mua. Khoảng đầu tháng 3/2007 bà Ni báo cho ông biết đã có giấy phép xây dựng căn nhà số 0.30 và bà Ni đã chuẩn bị đủ tiền trả cho ông nên đầu tháng 4/2007 vợ chồng ông bà về nước và trực tiếp tiến hành khởi công xây dựng lô đất O.30 nay là nhà số 237 và bà Ni trả cho ông số tiền còn nợ là: 455.000.000đ.

Ngày 22/5/2006, ông Thưởng cũng yêu cầu ông Nguyễn Văn Thành là chồng bà Ni cũng làm đơn xác nhận lô đất O.30 là tài sản riêng đứng tên bà Ký Kim Ni cam kết không có quyền lợi tranh chấp gì về lô đất này, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương.

Sau khi xây dựng xong hai căn nhà số 237 và 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân thì vợ chồng ông về định cư ở Việt Nam và mở kinh doanh phòng trọ cho thuê, thời gian đầu do đất đứng tên bà Ký Kim Ni nên giấy phép kinh doanh số 41W8014462 đăng ký lần đầu vào ngày 04/8/2006 phải nhờ bà Ký Kim Ni đứng tên trên giấy phép kinh doanh nhưng mọi việc quản lý kinh doanh và đóng thuế do ông Thưởng trực tiếp điều hành.

Để bảo đảm việc cho bà Ký Kim Ni đứng tên giúp 2 lô đất và nhà, theo sự hướng dẫn của một số người quen, gia đình ông buộc bà Ký Kim Ni ra công chứng ký 3 hợp đồng vay tài sản gồm: hợp đồng vay tiền số công chứng số 014256/quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 ông Thưởng cho bà Ni vay số tiền là 2 tỷ đồng; Hợp đồng vay tiền số công chứng 014258/quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 bà Liêng cho bà Ni vay 2 tỷ đồng; Hợp đồng vay tiền số công chứng 014257/quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 ông Le Van Vu (Lê Văn Vũ) là con ông Thưởng bà Liêng cho bà Ni vay 1 tỷ đồng, tổng cộng là 5 tỷ đồng. Nhưng thực chất không có việc vay mượn tiền mà chỉ là hình thức bảo đảm việc nhờ bà Ni đứng tên nhà đất 2 căn nhà đất này.

Từ tháng 5/2008 vợ chồng ông đã hoàn tất giấy tờ hồi hương nhập quốc tịch Việt Nam được cấp Chứng minh thư nhân dân và nhập khẩu về thường trú tại nhà của vợ chồng ông tại số 237 và số 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân,thành phố Hồ Chí Minh thì bà Ký Kim Ni đã trả lại giấy phép đăng ký kinh doanh để ông xin thay đổi tên trên Giấy phép kinh doanh từ tên bà Ni sang tên ông Lê Văn Thưởng theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp lại ngày 07/11/2008 và giấy chứng nhận đăng ký thuế ngày 30/6/2008 đứng tên ông Lê Văn Thưởng.

Ông bà đã dành cho bà Ni và con bà Ni một căn phòng số 102 trong nhà ông để ở, hàng tháng ông chịu mọi chi phí điện nước sinh hoạt của gia đình bà Ni.

Khi đã có hộ khẩu, ông yêu cầu bà Ni ký các thủ tục giấy tờ để sang tên 2 lô đất trên trả lại tên chủ quyền cho vợ chồng ông thì bà Ni lật lọng yêu cầu bà Ni phải đưa cho bà Ni số tiền là: 1.500.000.000đ thì bà Ni mới đồng ý ra công chứng ký sang tên 2 lô đất và nhà cho vợ chồng ông. Quá bức xúc vì việc bà Ký Kim Ni là người cháu ruột đã lật lọng có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên vợ chồng ông đã gửi đơn tố cáo tại Cơ quan điều tra Công an quận Bình Tân. Tại Cơ quan điều tra chính bà Ni cũng đã thừa nhận tại Biên bản ghi lời khai ngày 12/9/2008 lô đất O.30 là do ông Thưởng mua và bỏ tiền ra xây dựng, bà chỉ là đứng tên giúp.

Nay ông yêu cầu: Tòa án công nhận quyên sở hữu của vợ chông ông đối với 02 căn nhà số 237 và 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân. Buộc bà Ký Kim Ni cùng hai con là Nguyễn Hoàng Thái, Nguyễn Hoàng Đức phải dọn toàn bộ đồ dùng và chuyển ra khỏi nhà ngày sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Bạch Liêng và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Vãn Quan trình bày: Bà là vợ ông Lê Văn Thưởng và là cô ruột của bà Ký Kim Ni. Toàn bộ lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Thưởng là đúng sự thật và bà thống nhất với lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Thưởng, không bổ sung gì thêm.

Bị đơn bà Ký Kim Ni trình bày: Bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Thưởng và có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu của bà Ký Kim Ni đối với toàn bộ 02 căn nhà và đất tại số 237 và 239 đường 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh là của bà Ni. Hiện hai căn nhà trên thuộc khu vực đất dự án và cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà theo quy định chung của UBND quận Bình Tân. Vì vậy, hiện mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00527QSDD/Ủy ban nhân dân Bình Trị Đông B ngày 09/7/2004 đứng yên Ký Kim Ni đã xây nhà số 239 đường 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H 01473/Bình Trị Đông B ngày 09/1/2006 đã xây nhà sổ 237 đường 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên vợ chồng và Ký Kim Ni và Nguyễn Văn Thành.

Hiện bà Ni đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất O.29, còn ông Thưởng giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất O.30 là do bà Ni cho ông Thưởng mượn xem rồi ông giữ luôn. Bà xác nhận việc mua đất và xây dựng 2 căn nhà số 237 và 239 đường số 19 khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng có bỏ ra một số tiền để mua đất và xây dựng nhà cũng như mua sắm các thiết bị trong 2 căn nhà nhưng quyền sở hữu hai căn nhà này không phải của ông Thưởng bà Liêng. Bà có mượn của ông Thưởng một số tiền, mượn nhiều lần và do thời gian quá lâu nên bà không nhớ rõ cụ thể là mượn bao nhiêu tiền. Đối với giấy ủy quyền cam kết ngày 24/8/2003 bà ký là do ông Thưởng có yêu cầu nhờ bà ký với nội dung bà có đứng tên giúp cho ông Thưởng lô đất 0.29 mục đích dể ông Thưởng mang về Pháp đưa cho vợ con ông ở Pháp xem để biết ông có về nước có làm ăn chứ không tiêu xài hoang phí.

Sau khi xây xong hai căn nhà trên, bà Ký Kim Ni và gia đình ông Lê Văn Thưởng đã ngồi lại bàn bạc, hai bên thống nhất số tiền ông Thưởng cho bà Ni đã mượn nhiều lần trong một thời gian dài để mua lô đất 0.29 và xây dựng nhà tổng cộng chưa tới số tiền là 5.000.000.000đ nhưng hai bên đã thống nhất chuyển thành công nợ gia đình ông Thưởng cho bà Ni vay số tiền với lãi suất là 0,9%/tháng và thời hạn vay là 07 năm (bảy) sau đó các bên thống nhất đã ra phòng công chứng Nhà nước số 2 lập 3 hợp đồng vay tiền tổng cộng là 5 tỷ đồng như ông Thưởng đã xác nhận. Nhưng thực sự 3 hợp đồng này không có việc giao nhận tiền mà là hình thức chuyển giao số nợ trước đây giữa hai bên, khi ký hợp đồng vay tiền bà Ni có yêu cầu ông Thưởng phải hủy bỏ giấy cam kết là đứng tên giúp lô đất O.29 thì ông Thưởng nói đã hủy bỏ giấy trên nhưng thật sự ông Thưởng không hủy bỏ giấy cam kết đó mà dựa vào đó tố cáo bà Ni tại Cơ quan điều tra Công an quận Bình Tân. Thật sự sau khi công chứng bà Ni không có nhận thêm bất cứ một khoản tiền nào.

- Nguồn gốc lô đất O.29 bà Ni mua của bà Lê Thị Rành do ông Nguyễn Đông Hà là người giới thiệu khi mua với giá là 790.000.000đ. Lô đất 0.30 là bà Ni mua của ông Hồ Hữu Thành và bà Huỳnh Thị Bảo Lan với giá 1.197.000.000đ và bà là người bỏ tiền ra xây dựng, ký hợp đồng xây dựng với nhà thầu thanh toán tiền và mua sắm các trang thiết bị. Sau đó mở đăng ký kinh doanh nhà trọ theo Giấy phép kinh doanh phòng sổ 41W8014462 đăng ký lần đầu vào ngày 04/8/2006 đứng tên Ký Kim Ni. Sau đó ông Thưởng lén lấy giấy phép kinh doanh của bà này nộp cho Ủy ban nhân dân quận Bình Tân để đổi sang đứng tên giấy phép kinh doanh ông Lê Văn Thưởng bị bà khiếu nại và Ủy ban nhân dân đã thu hồi giấy đăng ký kinh doanh của ông Thưởng. Hiện bà đang xin tạm ngường kinh doanh đế giải quyết tranh chấp.

- Bà khẳng định hai căn nhà số 237,239 đường số 19 khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân là tài sản riêng của cá nhân bà không liên quan gì đến chồng bà là ông Nguyễn Văn Thành và ông Thành cũng đã làm đơn xác nhận là tài sản riêng của cá nhận bà Ký Kim Ni, cam kết không có quyền lợi tranh chấp gì, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28/9/2010 bà Ni trình bày: Toàn bộ 2 căn nhà này đêu là tài sản riêng của bà, trong quá trình mua đất và xây dựng bà có mượn tiền của ông Lê Văn Thưởng nhưng không nhớ bao nhiêu. Sau khi xây dựng xong kinh doanh phòng trọ cho thuê vì tình cảm gia đình bà thấy vợ chồng cô dượng là ông Thưởng, bà Liêng hồi hương về Việt Nam già yếu và khó khăn nên bà cho vợ chồng ông Thưởng bà Liêng đứng ra trực tiếp quản lý kinh doanh nhà nghỉ để có thu nhập sống. Đối với giấy ủy quyền và cam kết ngày 24/8/2003 bản chính mà ông Thưởng xuất trình tại tòa là giả mạo, bà không chấp nhận nội dung thể hiện trong trang đầu, trang thứ 2 có ông Nguyễn Đông Hà là người làm chứng không đúng vì lúc làm giấy này ngoài bà và ông Thưởng chỉ có người làm chứng là ông Đỗ Văn Quý không có ông Hà. Chữ ký của bà, ông Thưởng và ông Quý trong giấy ủy quyền cam kết này là chữ ký photo không phải chữ ký trực tiếp, do ông Thưởng photo chữ ký của bà và ghép nội dung bất lợi cho bà. Tại phiên tòa này bà yêu cầu hoãn phiên tòa và đề nghị Tòa án tiến hành giám định chữ ký.

- Ngày 30/9/2010 bà Ni có đơn phản tố và đơn yêu cầu giám định chữ ký trong bản ủy quyền cam kết ngày 24/8/2003 và đóng tạm ứng án phí phản tố theo quy định. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiến hành giám định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-  Ông Nguyễn Văn Thành do ông Hoàng Kim Quốc là đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Nguyễn Văn Thành là chồng bà Ký Kim Ni, việc bà Ni ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 1861/CN ngày 11/10/2004 với Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh dịch vụ và XNK quận 1 thành phố Hồ Chí Minh (Fimexco) để mua lô đất số 512-360 với diện tích là 90m2 được Ủy ban nhân dân quận Bình Tân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H 01473/Bình Trị Đông B ngày 09/01/2006 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 208/CN giữa bà Ký Kim Ni với ông Hồ Hữu Thành và bà Huỳnh Thị Bảo Lan được Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông B xác nhận ngày 22/5/2006. Thửa đất chuyển nhượng số 512-361 với diện tích là 90m2 loại đất làm nhà ở và đã được Ủy ban nhân dân quận Bình Tân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD540162/QSDD/Bình Trị Đông B ngày 20/6/2006. Sau đó, bà Ni xây dựng thành 2 căn nhà 237, 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Ni, do bà Ni quyết định, ông Thành chỉ là người đứng tên trên giấy, ông Thành cam kết không liên quan và không tranh chấp gì dưới bất kỳ hình thức nào đối với toàn bộ khối tài sản này.

- Ông Trần Văn Đạt do ông Nguyễn Văn Quan là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Đạt là cháu ruột ông Lê Văn Thưởng, vào năm 2005 khi về Việt Nam thăm gia đình có cho bà Ni mượn số tiền tổng cộng là 310.000.000d, mượn không giấy tờ và không tính lãi. Toàn bộ số tiền này sau này khi ông Thưởng mua đất thì chính ông đã yêu cầu bà Ni trả số tiền sang cho ông Thưởng đế trả tiền mua lô đất 0.30, sau đó về pháp ông Thưởng trả lại cho ông, và các bên đã giải quyết xong không ai còn nợ ai.

- Ông Le Van Vu (Lê Văn Vũ)do ông Nguyễn Văn Quan là đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Le Van Vu là con ruột ông Thưởng, bà Liêng. Để đảm bảo cho việc bà Ni đứng tên giúp 02 lô đất và nhà, ông có ra phòng công chứng ký hợp đồng vay tiền số công chứng: 014257/ quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 với nội dung ông có cho bà Ký Kim Ni vay số tiền 01 tỷ đồng. Thực tế hai bên không giao nhận tiền.

- Ông Nguyễn Hoàng Thái trình bày: Ông là con của bà Ni, hiện đang sinh sổng tại nhà 237, 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân,thành phố Hồ Chí Minh hiện ông là học sinh, việc tranh chấp này là giữa mẹ ông là bà Ni với ông Thưởng, ông không biết và không có ý kiến j. Ông thống nhất với ý kiến và quyết định của mẹ ông.

- Ông Nguyễn Hoàng Đức trình bày: Ông là con của bà Ni, hiện đang sinh sống tại nhà 237, 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân,thành phố Hồ Chí Minh hiện ông là học sinh, việc tranh chấp này là giữa mẹ ông là bà Ni với ông Thưởng, ông không biết và không có ý kiến gì. Ông thống nhất với ý kiến và quyết định của mẹ ông.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 118/2010/DSST ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng về việc yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với 02 căn nhà sổ 237, 239 đường sổ 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

2.Công nhận 02 căn nhà sổ 237, 239 đường sỗ 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành pho Hô Chí Minh thuộc quyển sở hữu của ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng.

3. Buộc bà Ký Kim Ni, ông Nguyễn Hoàng Thái và ông Nguyễn Hoàng Đức phải chuyển ra khỏi nhà số 237, 239 đường sổ 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phổ Hồ Chí Minh để trả lại căn phòng sổ 102 cho ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng theo đúng hiện trạng hiện nay.

4. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

5. Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh thu hồi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00527 QSDD/Ủy ban nhân dân.BT Đông B ngày 09/7/2004 đứng tên Ký Kim Ni đã xây căn nhà sổ 239 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chỉ Minh và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ H 01473/Bình Trị Đông B ngày 09/1/2006 đã xây căn nhà sổ 237 đường số 19, khu phổ 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tăn, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên bà Ký Kim Ni và Nguyễn Văn Thành.

6. Ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cổ tài sản gắn liền là 02 căn nhà so 237, 239 đường sổ 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phổ Hồ Chí Minh.

7. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Kỷ Kim Ni về việc yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bà Kỷ Kim Ni đôi với 02 căn nhà sổ 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

8. Không chấp nhận yêu cầu của bà Ký Kim Ni về việc được trả lại cho ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng số tiền là 5.000.000.000đ (năm tỷ đồng) để được sở hữu 02 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phổ Hồ Chí Minh.

9. Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ của ông Lê Văn Thưởng và bà Đo Thị Bạch Liêng cho bà Ký Kim Ni số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

10. Thi hành ngày sau khi án cỏ hiệu lực pháp luật.

11. Tuyên bố hủy 03 hợp đồng công chứng về việc vay tiền gồm: Hợp đồng vay tiền công chứng sổ 014256/quyển sổ 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc ông Lê Văn Thưởng cho bà Kỷ Kim Ni vay sổ tiền là 2 tỷ đồng( hai tỷ đồng), Hợp đồng vay tiền công chứng số 014258/quyển sổ 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc bà Đỗ Thị Bạch Liêng cho bà Ký Kim Nỉ vay sổ tiền là 2 tỷ đồng( hai tỷ đồng), Hợp đồng vay tiền công chứng số 014257/quyển sổ 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc ông Le Van Vu( Lê Văn Vũ) cho bà Ký Kim Ni vay sỗ tiền là 1 tỷ đồng (một tỷ đồng).

12 Tuyên bố hủy bỏ giấy ủy quyền cam kết ngày 24/8/2003. với nội dung bà Kỷ Kim Ni cam kết đứng tên giúp ông Lê Văn Thưởng và bà Đo Thị Bạch Liêng lô đất 0.29 nay là nền nhà sổ 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phổ Hồ Chí Minh.

13. Kể từ ngày bà Ký Kim Ni có đom yêu cầu Thi hành án,nếu ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng chưa trả sổ tiền hàng tháng óng Thưởng, bà Liêng còn phải trả tiền lãi, theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bo tương úng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

14. Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của ông Lê Văn Thưởng được chấp nhận nên không phải nộp án phỉ. Được hoàn lại sổ tiền tạm ứng án phí là 14.840.000đ theo biên lai nộp tạm ứng án phí sổ 006942 ngày 04/12/2008 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, thành pho Hồ Chí Minh.

-Yêu cầu phản tổ của bị đơn bà Kỷ Kim Ni không được chấp nhận. Bà Nỉ phải nộp án phí DSST được tỉnh trên tri giả tài sản yêu cầu tranh chấp theo quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án là 115.727.040đ( Một trăm mười lăm triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn, không trăm bốn mươi đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Ni đã nộp là 57.892.320đ theo biên lai tạm ứng án phí sổ 01100 ngày 17/12/2010 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ni còn phải nộp số tiền là 57.834.720đ.

Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31/12/2010, bà Ký Kim Ni có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 575/2011/DS-PT ngày 24/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ký Kim Ni.

- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 118/2010/DSST ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Bạch Liêng, ông Lê Văn Thưởng (đã chết) có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn Thưởng là bà Đỗ Thị Bạch Liêng và ông Le Van Vu( Lê Văn Vũ); ông Le Van Tieng; Le Van Thanh và ông Le Huu Loi.

- Công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với 02 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phổ Hồ Chí Minh của bà Đỗ Thị Bạch Liêng và ông Lê Văn Thưởng.

- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Le Van Vu, Le Van Tieng, Le Van Thanh, Le Huu Loi thống nhất giao lại phần thừa kế của các ông do ông Lê Văn Thưởng để lại cho bà Đỗ Thị Bạch Liêng được hưởng thừa kế sở hữu 2 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Buộc bà Ký Kim Ni, ông Nguyễn Hoàng Thái và ông Nguyễn Hoàng Đức phải chuyển ra khỏi nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để trả lại căn phòng số 102 cho ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng theo đúng hiện trạng hiện nay, thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, có sự giám sát của Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh thu hồi hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 342744, số vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01473/Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên bà Ký Kim Ni và Nguyễn Văn Thành và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00527 QSDD/UB.BT Đông B ngày 09/7/2004 đứng tên Ký Kim Ni đã xây căn nhà số 237 đường số 19, khu phố 2, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân,thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Đỗ Thị Bạch Liêng được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở có tài sản gắn liền là 02 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ký Kim Ni về việc yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bà Ký Kim Ni đối với 02 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

- Không chấp nhận yêu cầu của bà Ký Kim Ni về việc được trả lại cho ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng số tiền là 5.000.000.000đ( năm tỷ đồng) để được sở hữu 02 căn nhà số 237, 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

-  Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Bạch Liêng hỗ trợ cho bà Ký Kim Ni số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Kể từ ngày bà Ký Kim Ni có đơn yêu cầu Thi hành án,nếu bà Đỗ Thị Bạch Liêng chưa trả số tiền trên, thì hàng tháng bà Liêng còn phải trả tiền lãi, theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Tuyên bố hủy 03 hợp đồng công chứng về việc vay tiền gồm: Hợp đồng vay tiền công chứng số 014256/quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc ông Lê Văn Thưởng cho bà Ký Kim Ni vay số tiền là 2 tỷ đồng (hai tỷ đồng), hợp đồng vay tiền công chứng số 014258/quyển số 05 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc bà Đỗ Thi Bạch Liêng cho bà Ký Kim Ni vay số tiền là 2 tỷ đồng( hai tỷ đồng), Hợp đồng vay tiền công chứng số 014257/quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2007 về việc ông Le Van Vu (Lê Văn Vũ) cho bà Ký Kim Ni vay số tiền là 1 tỷ đồng (một tỷ đồng).

- Tuyên bố hủy bỏ giấy ủy quyền cam kết ngày 24/8/2003 với nội dung bà Ký Kim Ni cam kết đứng tên giúp ông Lê Văn Thưởng và bà Đỗ Thị Bạch Liêng lô đất 0.29 nay là nền nhà số 239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Ký Kim Ni có đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm.

Theo Quyết định kháng nghị số 151/2014/KN-DS của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 575/2011/DSPT ngày 24/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 16/10/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận.

XÉT THẤY

Theo các phiếu chuyển tiền có trong hồ sơ thể hiện thì từ năm 2002 đến năm 2006, bà Ký Kim Ni nhận của vợ chồng ông Lê Văn Thưởng, bà Đỗ Thị Bạch Liêng (cô ruột bà Ni) nhiều lần tiền, cụ thể bà Ni nhận thông qua ông Hứa Phát Tài là 12.152 Euro (tương đương 182.280.000đ) và 539.980.000đ, nhận qua tài khoản của bà Ni tại Ngân hàng Sài Gòn Công thương số tiền 1.662.817.768đ, tại Ngân hàng Á Châu số tiền 942.909.922d. Ông Thưởng cho rằng các khoản tiền trên ông gửi về nhờ bà Ni nhận chuyển nhượng hộ lô đất số 0.29 và 0.30 nay ông đang tránh chấp. Còn bà Ni không đồng ý với yêu cầu của ông Thưởng.

Về lô đất O.29 ông Thưởng cho rằng vào tháng 8/2003, ông nhận chuyển nhượng của bà Ong Thu My lô đất này với giá 790.000.000d, ông trực tiếp đặt cọc 90.000.000đ và ngày 3/9/2003, ông chuyển cho bà Ni 667.120.000đ thông qua Ngân hàng Sài Gòn Công thương để trả tiền đất, số tiền còn thiếu 33.000.000đ thì lấy từ số tiền bà Ni nhận qua ông Tài (khoảng 12.152 Euro). Bà My cũng xác định ông Thưởng là người nhận chuyển nhượng đất, là người trực tiếp đặt cọc, nhưng nhờ bà Ni đứng tên hộ. Ông Thưởng xuất trình Giấy cam kết ngày 24/8/2003 có nội dung bà Ni xác nhận ông Thưởng bỏ ra 790.000.000đ nhận chuyển nhượng đất của bà My, bà Ni chỉ đứng tên hộ. Bà Ni không thừa nhận ký giấy cam kết này, nhưng căn cứ kết luận giám định của cơ quan công an thì bà Ni đã ký vào cam kết này. Như vậy, có căn cứ xác định ông Thưởng là người bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng đất.

Về lô 0.30 ông Thưởng cho rằng tháng 5/2006 ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Huỳnh Thị Bảo Lan, ông Hồ Hữu Thành lô đất này với giá 1.188.000.000đ, ông trực tiếp đặt cọc 100.000.OOOđ, phần còn lại nhờ bà Ni thanh toán hộ bằng khoảng tiền ông chuyển cho bà Ni thông qua Ngân hàng Á Châu (942.909.922đ) và khoản tiền ông Trần Văn Đạt (cháu ông) cho bà Ni mượn (310.000.000d), sau đó ông đã trả ông Đạt số tiền này. Ông Thành, bà Lan cũng xác định ông Thưởng là người nhận chuyển nhượng đất, là người trực tiếp đặt cọc, nhưng nhờ bà Ni đứng tên hộ. Ngày 12/9/2008, tại cơ quan công an quận Bình Tân bà Ni thừa nhận ông Thưởng là người có thỏa thuận đặt cọc tiền và chuyển tiền về cho bà để chuyển nhượng lô đất 0.30 và nhờ bà đứng tên giùm trên giấy chứng nhận. Như vậy, có căn cứ xác định ông Thưởng là người bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng đất.

Năm 2005, 2007 ông Thưởng xây dựng nhà trên lô đất 0.29, 0.30, những người bán vật liệu và người trông coi giám sát việc xây dựng nhà như ông Trần Lộc, Hứa Phát Ngân, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Phước Cưu, Hồ Tấn Thanh, Phan Văn Lập...đều xác định ông Thưởng là người trực tiếp mua vật liệu và trả tiền. Do đó, có căn cứ xác định nhà đất này do ông Thưởng chi toàn bộ tiền.

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định vợ chồng bà Liêng là người bỏ vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất và xây dựng nhà trên đất, nên xác định hai lô đất trên và nhà xây dựng trên đất này là số 237,239 đường số 19, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu và si' dụng của vợ chồng ông Thưởng là đúng.      

Tuy nhiên, việc vợ chồng bà Liêng, ông Thưởng (đã chết năm 2011) co, được tài sản nêu trên là nhờ công sức của bà Ni trong việc thay vợ chồng bà Liêng đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng, xin cấp giấy phép xầy dựng nhà. Thời điểm đó vợ chồng bà Liêng đang định cư ở nước ngoài, nên không đủ điều kiện nhận chuyển nhượng và đứng tên quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Đất chuyển nhượng tổng giá trị là 1.978.000.000đ, nay định giá đất là 5.7.60.000.000đ, nên nếu không có việc bà Ni đứng tên hộ việc chuyển nhượng đất thì vợ chồng bà Liêng không thể có điều kiện để được hưởng khoản tiền chênh lệch lớn như vậy. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng bà Liêng hỗ trợ cho bà Ni 50.000.000đ còn Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà Liêng hỗ trợ cho bà Ni 150.000.000đ là chưa xem xét công sức thỏa đáng cho bà Ni.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 151/2014/KN-DS ngày 05/5/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 575/2011/DSPT ngày 24/05/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 118/2010/DSST ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn bà Đỗ Thị Bạch Liêng với Bị đơn bà Ký Kim Ni. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 04 người.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 416/2014/DS-GĐT ngày 16/10/2014 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

Số hiệu:416/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/10/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về