Quyết định giám đốc thẩm 44/2013/DS-GĐT ngày 19/02/2014 về vụ án tranh chấp di sản thừa kế

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 44/2013/DS-GĐT NGÀY 19/02/2014 VỀ TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ 

Họp phiên tòa ngày 19/2/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Xuân Nhuận, sinh năm 1949; trú tại Thôn Hoàng Vân, xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Bị đơn:

1. Bà Vũ Thị Chuyên, sinh năm 1954; trú tại Thôn Hoàng Vân, xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam;

2. Anh Nguyễn Văn Công, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Hoàng Vân, xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam;

3.Ông Nguyễn Như Lẻ, sinh năm 1962; trú tại: nhà số 02, tổ 1, phường Mỏ Chè, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. 

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị vấn, sinh năm 1966; trú tại: nhà số 8, tổ 7, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

2. Ông Nguyễn Như Chiến, sinh năm 1954;

3. Bà Nguyễn Thị Chải, sinh năm 1960;

4. Chị Bùi Thị Hạnh, sinh năm 1980;

5. Chị Nguyễn Thị Lựu, sinh năm 1980;

6. Chị Nguyễn Thị Hoài, sinh năm 1983;

7. Chị Nguyễn Thi Thoan, sinh năm 1991;Cùng trú tại: Thôn Hoàng Vân, xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam;

8. Chị Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1978; trú tại tổ 9, phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Anh Nguyễn Văn Công đại diện cho: chị Nguyễn Thị Lựu, chị Nguyễn Thị Hoài, chị Nguyễn Thị Thoan, chị Nguyễn Thị Loan theo ủy quyền.

Theo Quyết định kháng nghị số 561/2013/KN-DS ngày 16/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 19/01/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

NHẬN THẤY

Theo Đơn khởi kiện ngàyl 5/4/2011 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Nguyễn Xuân Nhuận trình bày: Cha mẹ ông là cụ Nguyễn Như San (tên khác là Trác) và cụ Nguyễn Thị Khuyên có 6 người con gồm: ông Dần (đã mất năm 2010), ông, ông Chiến, bà Chải, bà vấn, ông Lẻ.

Ông Dần và bà Chuyên có 5 người con gồm: anh Công, chị Loan, chị Lựu, chị Hoài, chị Thoan.

Cụ Khuyên mất năm 1998, cụ San mất năm 2005. Tài sản các cụ để lại là 989m2 đất gồm 410m2 đất thổ cư và 579m2 đất thổ canh tại thửa đất số 206 tờ bản đồ sổ 6 bản đồ địa chính xã Lam Hạ lập năm 1986. Hiện nay bà Chuyên, chị Thoan và vợ chồng anh Công, chị Hạnh đang quản lý 406m2 đất; ông Lẻ đang quản lý 583m2 đất tại thửa đất trên.

Đất nông nghiệp là 1425,6m2, trong đó 1050m2 đất ở “Đồng rộc” tại thửa 6 (9) tờ bản đồ số 1 và 119m2 đất ở cánh “Đường Xen” tại thửa số 38 (11) tờ bản đồ số 7 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037071 ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Dần và 138,6m2 đất phần trăm nằm ở ao ông Lẻ đang quản lý.

Hiện ông Chiến, ông Nhuận mỗi người đang cấy 5 miếng; bà vấn, bà Chải mỗi người cấy 1 sào, bà Chuyên đang cấy 3,3 miếng đất % ngoài đồng.

Ông Nhuận xác định: nhà cửa, vật kiến trúc trên diện tích đất có tranh chấp là do vợ chồng ông Dần, bà Chuyên và vợ chồng anh Công, chị Hạnh xây dựng và tôn tạo; về cây cối, hoa màu trên diện tích đất có tranh chấp: 2 bụi tre, 1 cây mít, 1 cây khế, 1 cây sấu là tài sản của bà Chuyên và vợ chồng anh Công. Các cây cối, hoa màu khác nằm trên phần đất 989m2 là của cụ San, nếu sau này chia đất cho ai thì người đó được hưởng.

Liên quan đến di chúc của cụ San, ông Nhuận cho rằng vào ngày 10/10/2002, cụ San vì không thể tự viết di chúc được nên cụ có đọc để ông chép lại di chúc với nội dung: cha ông thừa kế đất ở cho 5 người con là ông Chiến, ông Lẻ, ông, bà vấn, bà Chải, sau đó cụ San có xem lại và điểm chỉ. Khi cụ San lập di chúc có mặt ông, ông Chiến, bà Chải, bà vấn và ông Nguyễn Văn Bình là trưởng họ, những người này đã ký xác nhận di chúc. Năm 2004, ông mang di chúc lên ủy ban nhân dân xã xin xác nhận thì bị từ chối. Ngày 01/11/2005, ủy ban nhân dân xã Lam Hạ có mời ông, ông Chiến, ông Lẻ, bà vấn, bà Chải ra trụ sở để công bố di chúc của cụ San. Ông và mấy anh chị em không nhất trí, cho rằng đó là di chúc giả vì khi cụ San lập di chúc anh em ông không chứng kiến. Sau đó ông đến nhà ông Bạch Văn Hào là người viêt hộ di chúc để hỏi thì ông Hào cho biết ông Lẻ đã lừa ông Hào đê ông Hào viêt, ông Lẻ khi đó mang một di chúc mẫu và nhờ ông Hào viêt hộ. Ngay sau đó ông đã làm nhiêu đơn đề nghị, kiến nghị ủy ban nhân dân xã Lam Hạ giải quyết nhiều lân nhưng không được. Nay ông khởi kiện yêu cầu chia di sản của bố mẹ để lại theo pháp luật.

Bị đơn- ông Nguyễn Như Lẻ trình bày: ông đồng ý với trình bày của ông Nhuận về quan hệ huyết thống, tài sản của cha mẹ để lại. Theo ông thì khoảng tháng 10/2003, ông về sống cùng cụ San. Trước khi cụ San lập di chúc, ông có đên nhà ông Dần, ông Chiến, ông Nhuận, bà Chải, bà vấn để mời tất cả anh chị em đên nhà bô ông để bố ông di chúc tài sản nhưng không ai đến, ông cũng có mời người trong làng đến chứng kiến nhưng không ai đến, vì vậy ngày 03/4/2004 do bố ông bị liệt taỵ không tự viết được nên bố ông đọc di chúc cho ông viết. Sau đó ông mang di chúc đến nhà ông Bạch Văn Hào ở phường Quang Trung, Phủ Lý để nhờ ông Hào viết lại cho khách quan rồi đưa cho bố ông, còn sau đó bố ông mang di chúc đi đâu, làm gì ông không biết. Ngày 02/11/2005, sau khi bố ông chết thì ủy ban nhân dân xã Lam Hạ đã mời các anh chị em ông ra trụ sở để công bố di chúc của cụ San. Nay ông cho rằng di chúc bố ông lập ngày 03/4/2004 là hoàn toàn hợp pháp, vì vậy theo ý nguyện của bố ông là để lại toàn bộ di sản cho ông thì ông toàn quyền hưởng.

Bị đơn - anh Nguyễn Văn Công và bà Vũ Thị Chuyên trình bày: bà và anh đồng ý với trình bày của ông Nhuận về quan hệ huyêt thông, tài sản cụ San, cụ Khuyên đê lại nhưng cho rằng di chúc ngày 10/10/2002 mà ông Nhuận khai là không đúng, việc có dấu điểm chỉ của cụ San là không hợp pháp vì lúc đó cụ San đã bị liệt nên ông Nhuận và ông Chiến đã ép và dí tay cụ San vào lọ mực và ấn điểm chỉ. Việc này ông Dần có chứng kiến và gọi anh Công về. về di chúc lập ngày 03/4/2004, trình tự lập như thế nào bà Chuyên và anh Công không biết, sau khi ủy ban nhân dân xã công bô di chúc xong có giao cho ông Dần 1 bản photo, anh Công có xem qua và thây hợp pháp. Anh Công và bà Chuyên thừa nhận hiện nay vợ chồng anh Công, bà Chuyên, chị Thoan đang ở trên thửa đât là di sản của cụ San, cụ Khuyên đã cho vợ chông ông Dần, bà Chuyên bằng miệng; vợ chồng ông Dần, bà Chuyên đã xây nhà và ở từ năm 1985 đến nay. Phần đất này có diện tích là 417m2 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 nhưng do có tranh chấp nên ủy ban nhân dân xã chưa giao. Nay anh Công và bà Chuyên cho răng phần đất mà cụ San và cụ Khuyên đã cho vợ chồng ông Dần, bà Chuyên nên vợ chồng anh Công, bà Chuyên và chị Thoan ở là hoàn toàn họp pháp. Phần đất còn lại cụ San đã có di chúc lập ngày 03/4/2004 cho ông Lẻ thừa kế thì ông Lẻ được quyền sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Như Chiến trình bày: ông đồng ý với trình bày của ông Nguyễn Xuân Nhuận, không đồng ý với trình bày của ông Lẻ, anh Công, bà Chuyên. Di chúc lập ngày 03/4/2004 là không đúng, không có việc ông Lẻ đến nhà ông mời để bố ông di chúc. Ông khẳng định không có việc bố, mẹ ông cắt đất cho vợ chồng ông Dân, bà Chuyên, việc xây nhà cửa trên đât là do vợ chông ông Dân, bà Chuyên tự xây. Nay ông đề nghị Tòa án chia di sản các cụ để lại theo quy định của pháp luật.

2. Bà Nguyễn Thị vấn, bà Nguyễn Thị Chải trình bày: di chúc mà ông Nhuận, ông Lẻ khai các bà không biết và cũng không có, vì thời điểm đó cụ San bị liệt, không biết chữ nên không tự viết được di chúc. Các bà cho rằng không có việc bố mẹ các bà cắt đất cho vợ chồng ông Dần vào năm 1978, nhà cửa của vợ chồng ông Dần do vợ chồng ông Dần tự xây. Nay các bà đề nghị Tòa án chia di sản của bố các bà đế lại theo pháp luật.

Người làm chứng ông Bạch Văn Hào trình bày: ông là đồng ngũ với ông Lẻ. Ngày 03/4/2005, ông Lẻ đến nhà ông và mang theo một bản di chúc đã viết sẵn nội dung và nói đó là di chúc của cụ San, nhờ ông chép lại. Ông thừa nhận bản di chúc mà ông Lẻ xuất trình cho Tòa án đúng là bản di chúc do ông chép ngày 03/4/2005, thời điểm ông chép di chúc chưa có điểm chỉ của cụ San và chưa có chứng thực của ủy ban nhân dân xã Lam Hạ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2011/DSST ngày 22/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý quyết định:

1. Công nhận di sản họp pháp của cụ Nguyễn Như San (Trác) và cụ Nguyễn Thị Khuyên để lại gồm 989m2 đất (trong đó có 410m2 đất thổ cư, 579m2 đất thổ canh) tại thửa đất số 206 tờ bản đồ số 6 bản đồ địa chính xã Lam Hạ lập năm 1986 và 1425,6m2 đất nông nghiệp (trong đó 105Om2 đất ở cánh “Đồng rộc” tại thửa 6(9) tờ bản đồ số 1; 119m2 đất ở cánh Đường xen tại thửa số 38(11) tờ bản đồ số 7 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037071 ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyễn Như San; 118m2 đất ở cánh “Ven phần trăm” là đất phần trăm nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 037071 ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Dần và 138,6m2 đất ao trong thửa 249m2 liền kề với đất di sản 989m2.

2. Công nhận quyền được chia tài sản chung và được chia thừa kế theo pháp luật của các đồng thừa kế sau: Nguyễn Xuân Nhuận, Nguyễn Như Chiến, Nguyễn Như Lẻ, Nguyễn Thị vấn, Nguyễn Thị Chải và ông Nguyễn Văn Dần. Vì ông Dần chết năm 2010 nên bà Chuyên là vợ và các con đẻ của bà Chuyên và ông Dần (gồm anh Công, chị Lựu, chị Hoài, chị Loan, chị Thoan) được hưởng.

3. Xác định 01 kỳ phần được hưởng từ chia di sản chung và thừa kế của 01 đồng thừa kế tính theo giá trị là: 74.363.200 đồng.

4. Phân chia cụ thể bằng hiện vật là đất cho từng đồng thừa kế như sau:

+ Bà Chuyên và các con (anh Công, chị Lựu, chị Hoài, chị Loan, chị Thoan) được chia: 300m2 đất (đất thổ cư 150m2+150m2 đất thổ canh). Bà Chuyên và các con của bà và ông Dần phải thanh toán chênh lệch cho bà vấn là: 1.284.280 đồng; ông Nhuận là 15.007.600 đồng và ông Chiến, bà Chải, ông Lẻ mỗi người ià 12.361.840 đồng.

Bà Chuyên và vợ chồng anh Công được sở hữu các tài sản trên đất được chia gồm nhà cấp 4, bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm, bể nước, tường rào, giếng khoan, 1 trụ cổng.

Bà Nguyễn Thị vấn được chia sử dụng 106m2 đất (thổ cư 55m2, thổ canh 51m2) và 312,64m2 đất nông nghiệp (194,64m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc” và 118m2 đất nông nghiệp ở cánh “Ven phần trăm” nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Dần).

Bà Vấn được sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm 40m2 sân láng vữa xi măng, 1 bán mái proximăng 10m2 chuồng gà, 1 cây mít,l cây khế, 1 cây sấu = 7.917.000 đông. Đối trừ với số tiền 9.201.280 đồng. Bà Chuyên và các con phải thanh toán trả bà vấn số tiền là 1.284.280 đồng.

+ Ông Nguyễn Xuân Nhuận được chia sử dụng 125m2 đất (51,25m2 đất thổ cư; 73,75m2 đất thổ canh) và 230m2 đất (nông nghiệp trong đó 11 lm2 đất ao) của ông San đổi từ ngoài đồng về và 119m2 đất ở cánh “Đường Xen”. Ông Nhuận được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 5 cây lộc vừng, 1 cây trứng gà, 3 cây mít, 2 cây ổi, 1 cây nhãn. Ông Nhuận được nhận tiền chênh lệch tài sản từ bà Chuyên và các con của bà Chuyên phải trả là 15.007.600 đồng.

+ Ông Nguyễn Như Chiến được chia sử dụng 125m2 đất (51,25m2 đất thổ cư; 73,75m2 đất thổ canh) và 285,12m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc”.

Ông Chiến được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 1 cây sấu, 1 cây ổi, 7 bụi chuối.

Ông Chiến được nhận tiền chênh lệch tài sản từ bà Chuyên và các con của bà Chuyên phải trả là 12.361.840 đồng.

+ Chia bà Nguyễn Thị Chải được sử dụng 125m2 đất (51,25m2 đất thổ cư; 73,75m2 đất thổ canh) và 285,12m2đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc”. Bà Chải được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 3 cây nhãn, 1 cây mít, 1 cây roi, 1 cây bưởi, 2 bụi chuối, 1 hốc sắn dây. Bà Chải được nhận tiền chênh lệch tài sản từ bà Chuyên và các con của bà Chuyên phải trả là 12.361.840 đồng.

+ Ông Nguyễn Như Lẻ được sử dụng 125m2 đất (51,25m2 đất thổ cư; 73,75m2 đất thổ canh) và 285,12m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc”.

Ông Lẻ được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 3 bụi tre, 1 cây mít, 1 cây bưởi, 1 cây gáo, 1 cây nhấn, 1 cây roi.

Ông Lẻ được nhận tiền chênh lệch tài sản từ bà Chuyên và các con của bà Chuyên phải trả là 12.361.840 đồng.

5. Buộc các đồng thừa kế đóng góp 110,6m2 đất (83m2 đất thổ canh; 27,6m2 đất nông nghiệp) theo chiều từ ngõ theo hướng Bắc - Nam để tạo ngõ đi chung cho cả 6 đồng thừa kế. Tính theo giá trị, mỗi thừa kế chịu 1.017.600 đồng làm ngõ đi. Các tài sản gắn liền với ngõ đi chung gồm 1 cây nhãn, 1 cây lộc vừng. Ngõ đi này thuộc sởhữu chung của 5 đồng thừa kế và vợ chồng anh Công, bà Chuyên, các con của ông Dần, bà Chuyên.

6. Công nhận việc chuyển đổi 54,6m2 đất nông nghiệp từ thửa 57 vào thửa có diện tích 249m2. Tại thửa 249m2 này bà Chuyên và các con sử dụng 138m2 đất ao.

7. Kiến nghị ủy ban nhân dân thành phổ Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thu hồi 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Dần (gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN026802 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 026803 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 03/7/2006; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037072 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 02/4/2003) và 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037071 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyen Như San.

Việc phân chia đất cho các đồng thừa kế có sơ đồ kèm theo.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng khác, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/10/2011, ông Lẻ có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm nêu trên.

Ngày 04/10/2011 và ngày 05/12/2011, bà Chuyên và anh Công có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 19/01/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam quyết định:

Sửa Bản án số 06/2011/DSST ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý.

1. Bản di chúc của cụ Nguyễn Như San lập ngày 03/4/2004 do ông Nguyễn Như Lẻ xuất trĩnh là không hợp pháp.

2. Xác nhận cụ Nguyễn Thị Khuyên chết năm 1998, cụ Nguyễn Như San chết năm 2005.

3. Hủy và đình chỉ yêu càu khởi kiện của các đương sự về việc chia thừa kế phần di sản của cụ Nguyễn Thị Khuyên đối với diện tích đất thửa số 56, tờ bản đồ số 7 ngày 03/7/2006 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Dần mà gia đình bà Chuyên và các con đang quản lý, vì đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế.

4. Công nhận khối tài sản của cụ Nguyễn Như San (Trác) và cụ Nguyễn Thị Khuyên để lại gồm 989m2 đất (786m2 được chia cho các hàng thừa kế trong đó 340m2 đất thổ cư trị giá 285.600.000 đồng, 446m2 đất thổ canh trị giá 25.689.000 đồng; 203m2 tại thửa 56 gia đình bà Chuyên và các con của bà Chuyên đang quản lý đã hết thời hiệu chia thừa kế) tại thửa số 206 tờ bản đồ sổ 6 bản đồ địa chính xã Lam Hạ lập năm 1986 và 1307m2 đất nông nghiệp trị giá 62.736.000 đồng (trong đó 1050m2 đất ở cánh Đồng rộc tại thửa 6(9) tờ bản đồ số 1; 119m2 đất ở cánh Đường Xen tại thửa số 38(11) tờ bản đồ số 7 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037071 ngày 02/4/2003 mang hộ ông Nguyễn Như San; 138,6m2 đất ao trong thửa 249m2 liền kề với đất di sản 989m2.

Tổng cộng 374.025.000 đồng- 69.720.000 đồng (83m2 đất thổ cư ngõ đi chung). Tổng di sản còn lại được chia cho các đồng thừa kế là 304.305.000 đồng.

5. Công nhận quyền được chia tài sản chung và được chia thừa kế theo pháp luật của các đồng thừa kế sau: ông Nguyễn Xuân Nhuận, ông Nguyễn Như Chiến, ông Nguyễn Như Lẻ, bà Nguyễn Thị vấn, bà Nguyễn Thị Chải và ông Nguyễn Văn Dần. Vì ông Dần chết năm 2010 nên bà Chuyên là vợ và các con đẻ của bà Chuyên và ông Dần (gồm anh Công, chị Lựu, chị Hoài, chị Loan, chị Thoan) được hưởng.

6. Buộc các đồng thừa kế đóng góp 83m2 đất thổ cư; 27,6m2 đất nông nghiệp của hộ ông Dần theo chiều từ ngõ theo hướng Bắc- Nam để tạo ngõ đi chung cho cả 6 đồng thừa kế. Các tài sản liền với ngõ đi chung gồm 1 cây nhãn, 1 cây lộc vừng. Ngõ đi này thuộc sở hữu chung của 5 đồng thừa kế và vợ chồng anh Công, bà Chuyên, các con của ông Dần, bà Chuyên.

7. Buộc các đồng thừa kế phải trả khoản tiển việc chuyển đổi 54,6m2 đất nông nghiệp từ thửa 57 vào thửa có diện tích 249m2. Bà Chuyên và các con được nhận số tiền là 2.620.800 đồng.

8. Xác định 01 kỷ phần được hưởng từ chia di sản chung và thừa kế của 01 đồng thừa kế tính theo giá trị là: 50.717.500 đồng.

9. Phân chia cụ thể bằng hiện vật là đất cho từng đồng thừa kế như sau:

+ Bà Chuyên và các con (anh Công, chị Lựu, chị Hoài, chị Loan, chị Thoan) được chia: Đất thổ cư 140m2 (70m2 được hưởng thừa kế từ cụ San trị giá 58.800.000 đồng và 70m2 được hưởng thừa kế của cụ Khuyên); 266m2 đất thổ canh (133m2 được hưởng thừa kế từ cụ San trị giá 7.660.800 đồng và 133m2 được hưởng thừa kế của cụ Khuyên) Tổng cộng 66.460.800 đồng. Bà Chuyên và các con của bà và ông Dần phải thanh toán chênh lệch cho bà Chải là: 14.940.600 đồng.

Bà Chuyên và vợ chồng anh Công được sở hữu các tài sản trên đất được chia gồm 02 nhà cấp 4, bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm, bể nước, tường rào, giếng khoan, 1 trụ cổng, 40m2 sân láng vữa xi măng, 1 bán mái proximăng 10m2 chuồng gà, 1 cây mít, 1 cây khế, 1 cây sấu và các tài sản khác.

+ Ông Nguyễn Xuân Nhuận được chia sử dụng 125m2 đất (46,75m2 đất thổ cư trị giá 39.270.000 đồng; 78,25m2 đất thổ canh trị giá 4.507.200 đồng) và 230m2 đất nông nghiệp trị giá 11.040.000 đồng (trong đó 11 lm2 đất ao của ông San đổi từ ngoài đồng về và 119m2 đất ở cánh “Đường Xen”) Tổng cộng 54.817.200 đồng. Ông Nhuận phải trả tiền chênh lệch tài sản cho bà Chuyên và các con của bà Chuyên 524.600 đồng; bà Chải 3.297.560 đồng, và được sở hữu các tài sản trên đất gồm 5 cây lộc vừng, 1 cây trứng gà, 3 cây mít, 2 cây ổi, 1 cây nhãn.+ Ông Nguyễn Như Chiến được chia sử dụng 125m2 đất (46,75m2 đất thổ cư trị giá 39.270.000 đồng; 78,25m2 đất thổ canh trị giá 4.507.200 đồng) và 285,12m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng Rộc” trị giá 13.685.760 đồng. Tổng cộng 57.462.960 đồng. Ông Chiến phải trả tiền chênh lệch tài sản cho bà Chuyên và các con của bà Chuyên 524.600 đồng, bà Chải 5.942.960 đồng và được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 1 cây sấu, 1 cây ổi, 7 bụi chuối

+ Bà Nguyễn Thị vấn được sử dụng 125m2 đất (46,75m2 đất thổ cư trị giá 39.270.000 đồng; 78,25 m2 đất thổ canh trị giá 4.507.200 đồng) và 285,12m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc” trị giá 13.685.760 đồng. Tổng cộng 57.462.960 đồng. Bà Vấn phải trả tiền chênh lệch tài sản cho bà Chuyên và các con của bà Chuyên 524.600 đồng, bà Chải 5.942.960 đồng và được sở hữu các tài sản liền với gồm: 3 cây nhãn, 1 cây mít, 1 cây roi, 1 cây bưởi, 2 bụi chuối, 1 hốc sắn dây.

+ Ông Nguyễn Như Lẻ được sử dụng 125m2 đất (46,75m2 đất thổ cư trị giá 39.270.000 đồng; 78,25m2 đất thổ canh trị giá 4.507.200 đồng) và 285,12m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc" trị giá 13.685.760 đồng. Tổng cộng 57.462.960 đồng. Ông Lẻ phải trả tiền chênh lệch tài sản cho bà Chuyên và các con của bà Chuyên 524.600 đồng, bà Chải 5.942.960 đồng và được sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm: 3 bụi tre, 1 cây mít, 1 cây bưởi, 1 cây gáo, 1 cây nhãn, 1 cây roi.

+ Bà Nguyễn Thị Chải được sử dụng 138m2 đất ao của ông San trị giá 6.624.000 đồng, 173m2 đất nông nghiệp ở cánh “Đồng rộc” trị giá 8.304.000 đồng. Tổng cộng 14.928.000 đồng. Bà được nhận tiền chênh lệch tài sản từ bà Chuyên và các con của bà Chuyên là 14.940.600 đồng, ông Nhuận 3.297.560 đồng, ông Chiến, bà Vấn, ông Lẻ mỗi người 5.942.960 đồng.

10. Kiến nghị ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thu hồi 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Dần (gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN026802 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 026803 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 03/7/2006; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037072 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 02/4/2003) và 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X037071 đã được ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cấp ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyễn Như San.

Việc phân chia đất cho các đồng thừa kế có sơ đồ kèm theo.

11. Bác yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí và chi phí định giá.

Sau khi xẻt xử phúc thẩm, ông Nguyễn Như Lẻ có đơn đề nghị xem xét Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết đinh kháng nghị số 561/2013/KN-DS ngày 16/12/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 19/01/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân

8tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2010/DSST ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 19/02/2014, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận.

XÉT THẤY

Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì cụ Nguyễn Như San và cụ Nguyễn Thị Khuyên có 6 người con gồm: ông Nguyễn Văn Dần, ông Nguyễn Xuân Nhuận, ông Nguyễn Như Chiến, bà Nguyễn Thị Chải, ông Nguyễn Như Lẻ và bà Nguyễn Thị Vấn. Cụ Khuyên mất năm 1998 không có di chúc, cụ San mất năm 2005.

Theo trình bày của ông Nguyễn Như Lẻ thì: Ngày 03/4/2004 do cụ San bị liệt tay không tự viết được nên cụ San đọc cho ông Lẻ viết di chúc. Sau đó, ông Lẻ mang di chúc đến nhà ông Bạch Văn Hào để nhờ ông Hào viết lại cho khách quan rôi đưa lại cho cụ San, còn sau đó cụ San mang di chúc đi đâu, làm gì ông Lẻ không biết.

Theo lời khai của ông Hào thì: Ngày 03/4/2004 ông Lẻ đến nhà ông Hào và mang theo 1 bản di chúc đã viết sẵn nội dung và nói đó là di chúc của cụ San, nhờ ông Hào chép lại. Thời điểm ông Hào chép chưa có điểm chỉ của cụ San và chưa có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, ông Hào cũng không chứng kiên việc cụ San điểm chỉ vào di chúc. Chép xong ông giao lại cho ông Lẻ, sau đó ông Lẻ làm gì ông Hào không biết. (Di chúc được ủy ban nhân dân xã chứng thực, nhưng Uy ban nhân dân xã không chứng kiên việc cụ San đọc cho ông Lẻ viêt di chúc và không chứng kiên cụ San điểm chỉ.)

Về tính họp pháp của di chúc thấy rằng, các xác nhận của bà con hàng xóm, hội người cao tuổi thôn Hoàng Vân và ông Trịnh Kim Chung, thây thuôc chăm sóc cho cụ San (BL 25) thể hiện cụ San bị bệnh tai biến mạch máu não, liệt Vi người bên phải từ tháng 11/2002, tâm thần không ổn định. Ông Hào cũng có lời khai xác nhận ngàỵ 14/6/2011 (BL 257+258) xác nhận vào thời điểm có di chúc, cụ San sức khỏe đã rất yêu, năm liệt giường, không đi lại được, đên bản thân ông Hào đên chơi cụ San cũng không nhận ra.

Như vậy, chưa có căn cứ để xác định ý chí của cụ San lập di chúc để lại di sản cho ông Lẻ. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định di chúc ngày-sỷ 03/4/2004 của cụ San là không họp pháp và chia di sản thừa kế của cụ San theo pháp luật là đúng.

Về di sản thừa kế: Tòa án cấp phúc thẩm công nhận khối di sản của cụ Nguyễn Như San và cụ Nguyễn Thị Khuyên để lại gồm 989m2 đất thổ cư, đất thổ canh và 1307m2 đất nông nghiệp. Tòa án cấp phúc thẩm xác định phần di sản của cụ Khuyên không chia thừa kê là đúng nhưng chỉ xác định phân di sản của cụ Khuyên hêt thời hiệu chia thừa kế do hết thời hiệu chia thừa kế đối với 205m2 đất ở tại thửa 56, tờ bản đồ số 7, còn diện tích đất còn lại thuộc di sản của cụ Khuyên vẫn đem chia thừa kế là không đúng.

Đối với 1050m2 đất trong tổng số 1307m2 đất nông nghiệp do ủy ban nhân dân thị xã Phủ Lý cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X03707 ngày 02/4/2003 mang tên hộ ông Nguyễn Như San. Tòa án câp sơ thâm và Tòa án câp phúc thẩm cũng chưa xác minh làm rõ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc vào thời điểm được cấp giấy chứng nhận nêu trên thì hộ cụ San có những ai để xác định di sản của cụ San để lại là bao nhiêu nhưng đã công nhận toàn bộ 105Om2 đât nông nghiệp là di sản thừa kế của cụ San là chưa đúng. Bởi vì, tại Biên bản làm việc ngày 16/9/2011 của Tòa án cấp sơ thẩm với ủy ban nhân dân xã Lam Hạ (BL 190) thì hộ cụ San có 02 nhân khẩu đất nông nghiệp là cụ San và cụ Khuyên, còn theo sổ hộ khẩu của cụ San (BL 142+143) do Công an cấp ngày 09/10/2001 đứng tên cụ San, sau đó vào ngày 20/8/2004, ông Nguyễn Như Lẻ ở thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên mới nhập khẩu về với cụ San.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299, Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 561/2013/KN-DS ngày 16/12/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2012/DSPT ngày 19/01/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2011/DSST ngày 22/09/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Nhuận với các bị đơn là bà Vũ Thị Chuyên, ông Nguyễn Như Lẻ, anh Nguyễn Văn Công và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 44/2013/DS-GĐT ngày 19/02/2014 về vụ án tranh chấp di sản thừa kế

Số hiệu:44/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/02/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về