Quyết định giám đốc thẩm 447/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất

TOÀ DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 447/2014/DS-GĐT NGÀY 20/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Họp phiên tòa ngày 20/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tuyết, sinh năm 1955; trú tại: 134, tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Bà Đào Thị Gấm, sinh năm 1945; trú tại: 132, tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1-  Huỳnh Văn A, sinh năm 1938; trú tại: 149D, Lê Lợi, khu phố 3, phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

2-  Ngô Văn Chiểu, sinh năm 1952;

3-  Ngô Minh Trung, sinh năm 1978;

Cùng trú tại: 134, tổ 6, khu phổ Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY

Theo nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết trình bày: Bà có phần đất 68,3m2, tọa lạc tại tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nguồn gốc đất là của cha bà cho năm 1972. Năm 1981 cha bà chuyển nhượng cho ông Lê Văn Giáo phần đất giáp ranh đất của bà. Sau đó ông Giáo chuyển nhượng lại cho ông Võ Văn Mễ, đến năm 1994 ông Mễ chuyển nhượng lại cho bà Gấm. Vào năm 1993 bà có đi đăng ký kê khai đóng thuế nhưng không được cấp sổ đỏ vì đất mương. Năm 2011, do nhà bị ngập bà làm đơn xin lấy mương mới thì biết bà Gấm đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần đất đó là của bà. Nay bà yêu cầu xác định phần đất 68,3m2 thuộc quyền sử dụng của bà.

Bị đơn bà Đào Thị Gấm trình bày: Bà được đứng tên 4.833,lm2 đất, thửa 25, tờ bản đồ số 11, loại đất thổ, tọa lạc tại tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Nguồn gốc đất do bà nhận chuyển nhượng từ ông Võ Văn Mễ vào năm 1994, khi chuyển nhượng đất ông Mễ nói cho bà Tuyết ở nhờ trên phần đất 68,3m2. Ông Mễ chuyển nhượng từ ông Lê Phước Bé, ông Bé chuyển nhượng lại từ cha bà Tuyết. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Tuyết, bà có yêu cầu phản tố yêu cầu bà Tuyết trả lại 68,3m2 đất này, thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Ả thống nhất với ý kiến của bà Gấm.

Ông Ngô Vãn Chiểu, anh Ngô Minh Trung thống nhát với ỷ kiến của bà bà Tuyết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 81/2012/DSSST ngày 31/7/2012, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Tuyết về việc công nhận phần đất ở + cây lâu năm diện tích 68,3m2, thửa 25, tờ bản đồ sổ 11, tọa lạc tại tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phổ Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thuộc quyền sử dụng của bà.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đào Thị Gấm và ông Huỳnh Văn A.

Buộc bà Võ Thị Tuyết có nghĩa vụ trả cho bà Gấm và ông A giá trị quyền sử dụng phần đất thổ cư + cây lâu năm diện tích 68,3m2 là 61.470.000đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/8/2012 bà Võ Thị Tuyết có đơn kháng cáo, yêu cầu xác định 68,3m2 đất là của bà.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 110/2013/DSPT ngày 11/3/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Tuyết.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 81/2012/DSSST ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân thành phổ Mỹ Tho.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Tuyết về việc công nhận phần đất ở + cây lâu năm diện tích 68,3m2, thửa 25, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành pho Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thuộc quyên sử dụng của bà.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đào Thị Gấm và ông Huỳnh Văn A.

Buộc bà Võ Thị Tuyết có nghĩa vụ trả cho bà Gấm và ông A giá trị quyền sử dụng phần đất thổ cư + cây lâu năm diện tích 68,3m2 là 61.470.000đ.

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về nghĩa vụ nộp án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Võ Thị Tuyết có đom đề nghị xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo trình tự giám đốc thẩm.

Tại Quyết định số 365/2014/KN-DS ngày 26/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 110/2013/DSPT ngày 11/3/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẳm số 81/2012/DS-ST ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.              

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 20/11/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân Ịỹĩậ, dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nhưng đề nghị xem xét lại kháng nghị nêu diện tích đất tranh chấp 63,8m2 là không chính xác (phải là 68,3m2 mới đúng).

Cũng như ông Mễ bán cho bà Gấm, nhưng kháng nghị lại ghi là sang nhượng cho bà Tuyết là không đúng.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Nguồn gốc diện tích 68,3m2 đất tranh chấp thuộc thửa 25, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại tổ 6, khu phố Tân Bình, phường Tân Long, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang là của vợ chồng cụ Võ Văn Cự, cụ Nguyễn Thị Ba.

Bà Võ Thị Tuyết cho rằng, năm 1972 vợ chồng cụ Cự cho bà Tuyết diện tích đất trên, vợ chồng bà Tuyết đã xây nhà ở trên đất từ năm 1972 đến nay.

Trong khi đó, bà Đào Thị Gấm và chồng là ông Huỳnh Văn A cho rằng diện tích 68,3m2 đất nêu trên vợ chồng cụ Cự, cụ Ba đã sang nhượng cho ông Lê Phước Bé (tức Lê Văn Giao). Năm 1980 ông Bé sang nhượng cho vợ chồng ông Võ Văn Mễ; năm 1994 vợ chồng ông Mễ sang nhượng cho vợ chồng bà Gấm.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tại “Tờ sang hoa lợi” ngày 30/12/1975 có nội dung: Cụ Nguyễn Thị Ba sang cho ông Lê Phước Bé 02 công 1 gốc tư với giá 1.200.000đ (có chữ ký đề tên người bán là cụ Ba, cụ Cự, người mua là ông Bé, xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tân Long ngày 30/12/1975). “Tờ sang đứt ngôi nhà luôn đất” ngày 01/4/1980 giữa ông Lê Phước Bé với vợ chồng ông Võ Văn Mễ, bà Ngô Thị Các có nội dung: Ông Bé có nhận sang nhượng một công rưỡi đất để cất nhà kiểu 3 căn chữ đinh lợp ngói, xây tường đồng thời có sang của ông Võ Văn Cự, bà Trần Thị Ba 02 công vườn (có chứng từ) liền với nhà ông Bé. Ông Bé làm giấy này sang đứt cho ông Võ Văn Mễ và bà Ngô Thị Các ngụ cùng xóm ngôi nhà và mấy cây vườn nói trên với giá 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng) (có chữ ký đề tên ông Mễ bên người mua và chữ ký đề tên ông Bé tại mục người sang). “Đơn xin sang nhượng thành quả lao động đất” ngày 11/4/1994 giữa ông Võ Văn Mễ với bà Đào Thị Gấm có nội dung: ông Mễ sang nhượng thành quả lao động trên phần đất vườn trồng nhãn tọa lạc tại 75 ấp Tân Bĩnh, diện tích canh tác 4.400m2 có tứ cận: Đông giáp đất của cụ Nguyễn Thị Ba (mẹ của bà Tuyết), Tây giáp đất của ông Nguyễn Kim Đe, Nam giáp đất của cụ Nguyễn Thị Ba, Bắc giáp lộ trước.

Như vậy, tại các văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không thể hiện nội dung các bên chuyển nhượng cho nhau bao gồm cả phần đất có căn nhà của bà. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, vợ chồng bà Gấm xuất trinh “Tờ cam kết” ngày 11/4/1994 và “Biên bản về việc đo đạc xác định ranh giới quyền sử dụng đất của bà Đào Thị Gấm” ngày 29/4/1994 có nội dung xác định bà ở nhờ (hết đời) trên đất của ông Mễ nay là bà Gấm (có chữ ký đề tên bà Tuyết tại “Tờ cam kết” nêu trên). Tuy nhiên, bà Tuyết không thừa nhận chữ ký đề tên bà tại “Tờ cam kết” ngày 11/4/1994, Công an tỉnh Tiền Giang kết luận chữ ký mang tên bà Tuyết dưới mục “Người cam kết” tại “Tờ cam kết” ngày 11/4/1994 là chữ ký đơn giản, ít đặc điểm, tốc độ ký chậm, có sự dừng bút và giữa các chữ ký mẫu so sánh không ổn đinh nên không đủ cơ sở két luận giám định. Do đó, chưa có cơ sở xác định diện tích đất cụ Nguyễn Thị Ba chuyển nhượng cho ông Lê Phước Bé, sau đó ông Bé chuyển nhượng cho ông Võ Văn Mễ bao gồm cả phần đất 68,3m2 mà gia đình bà Tuyết cất nhà ở.

Mặt khác, việc bà Tuyết sử dụng diện tích 68,3m2 đất nêu trên cất nhà ở từ năm 1972 đến nay hay không thì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ. Nếu đúng là bà Tuyết cất nhà ở từ năm 1972, trước khi cụ Ba chuyển nhượng đất cho cụ Bé thì đất không còn là của cụ Ba nữa. Diện tích đất của bà Gấm khi nhận chuyển nhượng từ ông Mễ là 4.400m2, diện tích đất bà Gấm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/10/1996 là 4.632m2, tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/5/2004 là 4.833,lm2, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ diện tích bà Gấm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiều hơn diện tích đất bà Gấm nhận chuyển nhượng là do đâu? Tòa án chỉ đo đạc phần đất đang tranh chấp (do gia đình bà Tuyết đang sử dụng) mà không đo đạc cả thửa đất của bà Gấm để xem xét toàn diện vụ việc. Đo đó, Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất đang tranh chấp do vợ chồng cụ Ba đã chuyển nhượng cho ông Bé để buộc bà Tuyết phải trả cho vợ chồng bà Gấm giá trị quyền sử dụng diện tích 68,3m2 đất là 61.470.000đ là chưa đủ căn cứ.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 365/2014/KN-DS ngày 26/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 110/2013/DSPT ngày 11/03/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 81/2012/DSST ngày 31/07/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang về vụ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Võ Thị Tuyết với bị đơn là bà Đào Thị Gấm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 03 người.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 447/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:447/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về