Quyết định giám đốc thẩm 448/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án đòi tài sản

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 448/2014/DS-GĐT NGÀY 20/11/2014 VỀ VỤ ÁN ĐÒI TÀI SẢN 

Họp phiên tòa ngày 20/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Đòi tài sản” do có kháng nghị số 333/2014/KN-DS ngày 12/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 264/2011/DSPT ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Bà Võ Thị Thu Hương, sinh năm 1964;

2. Ông Trần Quốc Trải, sinh năm 1962.

Cùng địa chỉ: số 116 Võ Công Tồn, khu phố 1, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Bị đơn:

1. Bà Trần Thị Ngọc Duyên, sinh năm 1967;

2. Anh Nguyễn Duy Khánh, sinh năm 1988;

3. Chị Nguyễn Thị Thúy Duy, sinh năm 1991.

Cùng trú tại: Nhà số 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị trấn Ben Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Tiền, sinh năm 1930. Địa chỉ: số 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Thu Hương và ông Trần Quốc Trải trình bày: Ngày 01/6/2009 bà Hương và ông Nguyễn Hữu Đượm đã lập 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất. Theo đó, ông Đượm chuyển nhượng thửa đất 325 do ông Đượm đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSD đất) cho ông Trải, bà Hương cùng với căn nhà cấp 4 gắn liền với đất giá 1.000.000.OOOđ (Một tỷ đồng), số tiền đặt cọc là 300.000.000đ, thời gian giao nhà thỏa thuận vào ngày 31/12/2010. Họp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Phương Nam. Cùng ngày ông Đượm đã nhận số tiền cọc 300.000.000đ.

Ngày 02/6/2009 bà Hương và ông Đưọm đã lập 01 họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất sổ 325, hợp đồng cũng đưọ'c công chứng tại Văn phòng công chứng Phương Nam và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đượm giao ngay vào ngày 02/6/2009 để bà Hương làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 16/11/2009 bà Hương được ủy ban nhân dân huyện Bến Lức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 325.

Trước đó ngày 28/7/2007 ông Trải, bà Hương có ký họp đồng thuê một phần diện tích là 17,4m2 (ngang 03m, dài 5,8m) thuộc mặt tiền căn nhà số 143 Nguyễn Hữu Thọ, thị trấn Ben Lức với bà Duyên và ông Đượm, hai bên có làm giấy tay, thời hạn thuê từ ngày 30/10/2007 đến 30/10/2007 đến ngày 30/10/2015, giá thuê 86.000.000đ. Cùng ngày lập giấy tay ông, bà đã giao cho ông Đượm và bà Duyên số tiền 86.000.000đ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức.

Ngày 11/7/2008 ông Đượm và bà Duyên ly hôn. Sau khi ly hôn ông Đượm và chị Duy ở trên phần đất này, bà Duyên và anh Khánh ở chỗ khác.

Ngày 20/9/2008 giữa ông, bà và ông Đượm, anh Khánh, chị Duy có lập 01 hợp đồng thuê nhà tiếp với số tiền 29.000.000đ thời hạn 3 năm, nối tiếp hợp đồng ngày 28/7/2007, thời hạn thuê từ ngày 01/11/2015 đến ngày 30/3/2018. Cùng ngày ông, bà đã giao tiền cho ông Đượm có mặt chị Duy và anh Khánh.

Ngoài ra, ông Đượm có vay tiền của ông, bà nhiều lần, tổng cộng là 180.000.000đ. Các làn vay đều có làm giấy tay, thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng. Lãi trả hàng tháng. Sau khi vay ông Đượm có trả tiền lãi cho ông, bà.

Ngày 10/10/2008 bà Tiền đã tặng đất này cho ông Đượm theo hợp đồng được Ủy ban nhân dân thị trấn Bến Lức chứng thực sổ 673 ngày 18/9/2008, ngày 10/10/2008 ông Đượm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 02/6/2009 hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 325, bà Hương, ông Trải có giao cho ông Đượm 300.000.000đ tiền đặt cọc. Sổ tiền còn lại 520.000.000d giao làm 05 lần (có làm giấy nhận tiền) cộng với 180.000.000d ông Đượm vay trước đó là một tỉ đồng. Việc cho ông Đượm ở nhờ là do hai bên thỏa thuận để ông Đượm có thời gian tìm chỗ ở mới và nhờ chị Duy thi tốt nghiệp xong ông Đượm sẽ giao nhà.

Ngày 28/8/2010 ông Đượm chết. Lúc này bà Duyên và 02 con là anh Khánh và chị Duy về ở trên phần đất này cho đến nay. Ông, bà đã nhiều lần yêu cầu mẹ con bà Duyên phải dọn ra giao nhả và đất lại cho ông, bà nhưng bà Duyên không đồng ý.

Nay ông, bà khởi kiện yêu cầu bà Duyên, anh Khánh và chị Duy phải trả lại nhà đất và yêu cầu: Tổng số tiền thuê nhà theo hợp đồng ngày 28/7/2007 và ngày 20/9/2008 là 115.000.000d với thời hạn thuê là 10 năm 05 tháng, tính trung bình tiền thuê mỗi tháng là 895.833đ nhưng tính từ ngày cho thuê 30/10/2007 đến ngày 30/11/2009 là 25 tháng số tiền thuê là 22.395.825đ. số tiền thuê còn lại là 92.604.175đ. Yêu cầu bà Duyên, Duy Khánh và Thúy Duy phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền thuê nhà còn lại là 92.604.175đ và tiền lãi tính từ ngày 01/12/2009 đến ngày Tòa án giải quyết với mức lãi 01%/tháng.

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc Duyên trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu Đượm kết hôn năm 1986, đã ly hôn theo Quyết định số 40/2008/HNGĐ-ST ngày 11/7/2008, ông Đượm chét ngày 28/8/2010. Bà và ông Đượm có 02 con chung là Nguyễn Duy Khánh, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Thúy Duy, sinh năm 1991. Trong quá trình chung sống ông, bà sống tại căn nhà số 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3 thị trấn Bốn Lức huyện Bến Lức trên thửa đất số 325, diện tích 85m2, loại đất ở. Đây là đất của mẹ ông Đượm (bà Trần Thị Tiền) cho ông, bà cất nhà cấp 4 để ở, tường nhờ vách tường 2 bên, mái tole, ông bà ở trên thửa đất từ năm 1986 nhưng do lúc đó giấy tờ đất bị mất nên chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng ông bà.

Ngày 28/7/2007 ông bà có cho vợ chồng ông Trải, bà Hương thuê 01 phần trước của căn nhà để bán thuốc tây, thời hạn thuê là 08 năm (từ ngày 30/10/2007 đến ngày 30/10/2015) tiền thuê là 86.000.000đ, bà đã nhận đủ số tiền trên. Bà cùng ông Đượm và 02 con ở phía sau căn nhà.

Khi ly hôn bà và ông Đượm thỏa thuận phần nhà này không tranh chấp, để lại cho 02 con nhưng chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ. Sau khi ly hôn bà ở đó đến tháng 02/2009 thì ra ở trọ bên ngoài nhưng vẫn lui tới chăm sóc con. Còn chồng bà và 02 con về ở trên nhà và đất nêu trên đến nay.

Bà Duyên không đồng ý với yêu cầu khời kiện của nguyên đơn nhà vì đất là tài sản chung của vợ chồng, ông Đượm tự ý bán nhà và đất cho bà Hương, ông Trãi bà không biết. Neu có việc mua bán thi phải có ý kiến của bà và ý kiến của hai con cùng mẹ chồng là bà Tiền. Trước khi ly hôn vợ chồng cũng có thỏa thuận là tài sản chung và để lại cho 02 con. về yêu cầu bà hoàn trả số tiền thuê nhà 92.604.175đ và tiền lãi phát sinh, bà Duyên không đồng ý vì hiện nay thì thời hạn thuê chưa hết.

Bị đơn anh Nguyễn Duy Khánh và chị Nguyễn Thị Thúy Duy trình bày: Từ nhỏ đến nay, anh chị đã sổng tại nhà và đất này. Đất do bà nội là cụ Trần Thị Tiền cho ông Đượm, bà Duyên, còn ai đứng tên thửa đất đó thì anh chị không biết. Anh chị chỉ nghe bà Tiền nói là tạm thời để ông Đượm đứng tên phần đất trên.

Việc ông Đượm, bà Duyên cho ông Trải, bà Hương thuê nhà vào năm 2007 anh chị có biết thời hạn thuê từ năm 2007 đến năm 2015. “Giấy nhận tiền” ngày 20/9/2008 nội dung anh chị và ông Đượm có ký tên, theo đó ông Đượm cho ông Trãi, bà Hương thuê nhà và đất thêm 03 năm (từ năm 2015 đến năm 2018), số tiền thuê là 29.000.000đ nhưng anh Khánh không nhận tiền. Chị Duy trình bày ông Đượm chỉ nhận 19.000.000đ và nhận vào ngày 21/9/2008. Chị có đi cùng ông Đượm nhận tiền, ngoài ra không còn lần nào nhận tiền từ bà Hương.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Hương, ông Trải anh chị không đồng ý. Vì việc mua bán nhà đất giữa ông Đượm và bà Hương, ông Trải anh chị hoàn toàn không biết, khi ông Đượm, bà Duyên ly hôn đã thỏa thuận để lại nhà đất cho anh chị.

Việc yêu cầu bà Duyên, anh chị trả lại tiền thuê nhà còn lại. Anh, chị không đồng ý vì đến nay thì thời hạn thuê chưa hết và bên phía mẹ anh chị là bà Duyên và anh chị cũng không có ý chấm dứt hợp đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tiền trình bày: Bà là mẹ ruột của Nguyễn Hữu Đượm, phần đất thuộc thửa 325 trước đây là của bà sau khi bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất vào ngày 23/7/2008 bà đã lập họp đồng tặng cho thửa đất này cho con là Nguyễn Hữu Đượm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2011/DSST ngày 29/6/2011, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Quốc Trải và bà Võ Thị Thu Hương.

Buộc bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy phải dọn ra trả lại nhà và thửa đất số 325 tọa lạc tại địa chỉ 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị tran Ben Lức, huyện Ben Lức, tỉnh Long An cho bà Hương, ông Trải.

Cho bà Tràn Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy được lưu cư trong căn nhà tại số 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong thời gian 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/6/2011).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quốc Trải và bà Võ Thị Thu Hương.

Ông Trải và bà Hương có trách nhiệm giao cho bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) là tiền hỗ trợ thuê nhà, tiền di dời đồ đạc và tiền vốn ban đầu.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí, xem xét thẩm định tự chủ, án phí và quyền khánh cáp của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm bà Trần Thị Tiền, Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy có đơn kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 264/2011/DSST ngày 22/9/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định sửa bản án sơ thấm:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc Trải và bà Võ Thị Thu Hương. Buộc bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy phải dọn ra trả lại nhà và thửa đất số 325 tọa lạc tại địa chỉ 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cho bà Hương, ông Trãi.Cho bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy được lưu cư trong căn nhà tại số 143 Nguyễn Hữu Thọ, khu phố 3, thị trấn Ben Lức, huyện Ben Lức, tỉnh Long An trong thời gian 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thầm( ngày 29/6/2011).Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quốc Trãi và bà Võ Thị Thu Hương hỗ trợ cho bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thúy Duy số tiền 70.000.000đ.

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Trần Thị Ngọc Duyên có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 333/2014/KNDS ngày 12/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 264/2011/DSPT ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Ông Nguyễn Hữu Đượm và bà Trần Thị Ngọc Duyên chung sống với nhau từ năm 1986, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Cùng năm 1986, vợ chồng ông Đượm được cụ Trần Thị Tiền (mẹ đẻ ông Đượm) cho thửa đất số 325, tờ bản đồ 19, tọa lạc tại 143 Nguyễn Hữu Thọ, thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An để làm nhà ở. Vợ chồng ông Đượm bà Duyên có 02 con chung là Nguyễn Duy Khánh( sinh năm 1988) và Nguyễn Thị Thúy Duy( sinh năm 1991). Ngày 28/7/2007, ông Đượm, bà Duyên cùng anh Khánh, chị Duy ký hợp đồng cho bà ầp

Hương thuê phần đất mặt tiền căn nhà 143 Nguyễn Hữu Thọ trong thời hạn thuê đến 30/10/2015, số tiền thuê là 86.000.000đ, vợ chồng ông Đượm đã nhận đủ tiền. Ngày 11/7/2008, ông Đượm và bà Duyên được Tòa án giải quyết cho ly hôn, tài sản chung hai bên không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn thì ông Đượm, anh Khánh, chị Duy ở trên nhà đất tại 143 Nguyễn Hữu Thọ, còn bà Duyên đi nơi khác. Ngày 20/9/2008, ông Đượm cùng hai con là anh Khánh, chị Duy lại ký giấy cho bà Hương vẫn thuê phần đất phía trước căn nhà này, thời gian thuê từ 01/11/2015 đến 30/3/2018, giá thuê 29.000.000đ. Ngày 28/8/2010, ông Đượm chết, sau đó bà Duyên đã về sống cùng các con tại nhà đất trên và bà Hương đã tranh chấp với bà Duyên.

Căn cứ kết luận giám định của cơ quan công an (do Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầu giám định) thì có cơ sở xác định từ ngày 14/10/2008 đến ngày 27/4/2009, ông Đượm đã vay của bà Hương 06 lần tiền, tổng cộng là 180.000.000đ. Ngày 01/6/2009, ông Đượm ký chuyển nhượng nhà đất tại 143 Nguyễn Hữu Thọ cho bà Hương giá 1.000.000.000đ, bà Hương đã đặt cọc 300.000.000đ và thỏa thuận ngày 31/12/2010 giao nhà, nhưng ngày 16/11/2009 bà Hương đã sang tên nhà đất xong và sau đó từ ngày 30/3/2010 đến ngày 16/5/2010, bà Hương mới trả ông Đượm 06 lần tiền là 520.000.000d. Như vậy, ông Đượm đã nhận cả tiền vay và tiền chuyển nhượng nhà đất tổng cộng là 1.000.000.000đ của bà Hương. Ngoài các tài liệu đã được giám định thì ngày 02/6/2009 ông Đượm còn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại 143 Nguyễn Hữu Thọ cho ba Hương tại cơ quan công chứng, nhưng chỉ ghi giá chuyển nhượng là 480.000.000đ.

Khi Tòa án giải quyết, cụ Tiền khai đã cho vợ chồng ông Đượm đất làm nhà từ năm 1986, nhưng chưa có giấy tờ, đến ngày 23/7/2008 mới được cấp giấy chứng nhận, nên sau đó cụ ký họp đồng cho ông Đượm phần đất này. Thực tế vợ chồng bà Duyên đã làm nhà ở trên đất được cho và căn cứ vào lời khai của cụ Tiền thì phải xác định đất tranh chấp cũng thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng ông Đượm, bà Duyên. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 40/2008/HNGĐ-ST ngày 11/7/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức ghi rõ “về tài sản: ghi nhận các bên không tranh chấp về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết”. Trước khi mua nhà đất với ông Đượm, bà Hương đã ký hợp đông thuê đât với cả vợ chồng ông Đượm, bà Duyên, nên bà Hương phải ý thức được nhà đất này là tài sản chung của vợ chồng ông Đượm. Bà Hương có biết vợ chồng ông Đượm ly hôn, nên bà Hương phải có trách nhiệm tìm hiểu việc phân chia tài sản khi ông Đượm ly hôn. Thực tế trong quyết định giải quyết việc ly hôn thì tải sản chung của vợ chồng ông Đượm, bà Duyên chưa phân chia. Nhà do vợ chông ông Đượm làm, đất được cụ Tiền cho nên đây là tài sản chung của vợ chồng. Ông Đượm không có quyền ký chuyển nhượng phần của bà Duyên cho bà Hương nên họp đồng bị vô hiệu đối với phần tài sản của bà Duyên. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng cụ Tiền cho đất ông Đưọm sau khi ly hôn nên đất là tài sản riêng của ông Đượm là chưa phù hợp. Nhà do vợ chồng ông Đượm xây dựng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét khối tài sản chung này vẫn buộc bà Duyên cùng các con phải giao nhà đất tranh chấp cho bà Hương là không đúng.

Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 2 Điều 291; khoản 3 Điều 297; Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 264/2011/DSPT ngày 22/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 35/2011/DSST ngày 29/06/2011 của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An về vụ án “ Đòi tài sản” giữa nguyên đơn là bà Võ Thị Thu Hương, ông Trần Quốc Trải với bị đơn là bà Trần Thị Ngọc Duyên, anh Nguyễn Duy Khánh, chị Nguyễn Thị Thùy Duy; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Tiền.


66
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 448/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án đòi tài sản
  • Số hiệu:
    448/2014/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    20/11/2014
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 448/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án đòi tài sản

Số hiệu:448/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về