Quyết định giám đốc thẩm 449/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 449/2014/DS-GĐT NGÀY 20/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI CẢN TRỞ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Họp phiên tòa ngày 20/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp yêu càu chất dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại” do có kháng nghị số 260/2014/KN- DS ngày 08/8/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 158/2011/DSPT ngày 09/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang; địa chỉ: khu dân cư Sáng Quang, đườn Nguyễn Văn Linh, khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Cảnh chức vụ Giám đốc Công L,. Ông Cảnh ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1975; trú tại: số 348, đường Nguyễn Văn Linh, khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn:

1. Bà Trương Thị Hoa, sinh năm 1962;

2. Bà Trương Thị Hảo, sinh năm 1968;

3. Bà Trương Thanh Vân, sinh năm 1971;

4. Ông Trương Hoàng Long, sinh năm 1972;

5. Bà Trương Ngọc Bích, sinh năm 1974 (chết ngày 06/12/2009) người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng là ông Lê Văn Dũng chồng của bà Bích;

6. Anh Trương Hùng Hải, sinh năm 1986;

7. Chị Trương Thị Huyền Trang, sinh năm 1988;

Chị Trang ủy quyền cho anh Trương Hùng Hải.

Cùng trú tại: số 123/17, đường 30/4, khóm 6, phường 2, thành phổ Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Trương Cáo, sinh năm 1933; trú tại số 03, đường 8, khóm 4, phường 4, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Trương Lâm, sinh năm 1966;

3. Bà Trương Thị Ngọc Thảo, sinh năm 1969; bà Thảo ủy quyền cho Trương Thị Hảo.

4. Bà Lâm Nhựt Thủy Tiên, sinh năm 1977; bà Tiên ủy quyền cho ông Trương Hoàng Long.

5. Anh Trương Phú Quí, sinh năm 1987;

Ông Lâm, bà Thảo, bà Tiên, anh Quí cùng trú tại: số 123/17, đường 30/4, khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

6. Doanh nghiệp tư nhân Minh Trang do ông Trần Minh Dũng; trú tại: số F02, khu dân cư Sáng Quang, đường Nguyễn Văn Linh, khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đại diện.

7. Bà Trương Thị Lan (Phấn), sinh năm 1957; trú tại: số 78, đường Trần Văn Hòa, khóm 2, phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

8. Bà Trương Thị Điệp (Hà), sinh năm 1959; trú tại: số 115, Giồng Chùa A, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2009 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang (gọi tắt là Công ty) do ông Nguyễn Văn Cảnh Giám đốc trình bày:

Tháng 5/2006, Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang (gọi tắt là Công ty) có nhận chuyển nhượng của bà Trương Khắc Huệ, ông Trần Văn Tân 9.936,8m2 đất thuộc thửa 43, tờ bản đồ số 13, tại khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Tháng 8/2006, Công ty đã thanh toán đủ tiền đất cho bà Huệ, ông Tân và đã làm thủ tục sang tên trước bạ. Ngày 20/9/2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty. Tháng 3/2007, Công ty thuê doanh nghiệp tư nhân Minh Trang xây hàng rào xung quanh đất thì bị bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, bà Trương Ngọc Bích (chết), anh Trương Hùng Hải, chị Trương Thị Huyền Trang ngăn cản không cho thi công. Công ty yêu càu bà Hoa, bà Hảo, bà Vân, ông Long, bà Bích, anh Hải, chị Trang không được ngăn cản Công ty thi công trên phần đất của Công ty và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu tiếp tục có hành vi cản trở làm chậm tiến độ thực hiện dự án.

Bị đơn bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, ông Lê Văn Dũng (người thừa kế của bà Trương Ngọc Bích chết), anh Trương Hùng Hải, chị Trương Thị Huyên Trang trình bày:

Thừa nhận có hành vi cản trở Công ty thi công trên 9.936,8m2 đất nêu trên. Nhưng các ông, bà cho rằng đất này là của ông, bà ngoại của cụ Trương Cáo cho cụ Cáo năm 1954. Năm 1956 cụ Cáo kết hôn với cụ Nguyễn Thị Năm sinh được 5 người con là: bà Trương Thị Phụng (đã chết), bà Hoa, bà Lan, ông Trương Hùng Sơn (đã chết), ông Lâm. Năm 1967 cụ Năm chết, cụ Cáo kết hôn với cụ Huỳnh Thị Vol sinh 6 con là: bà Hảo, bà Vân, ông Long, bà Bích, bà Thảo, bà Diệp. Từ năm 1988 đến nay cụ Cáo không còn ở trên phần đất này mà về sống với cụ Vol tại phường 8 để đất lại cho các ông, bà ở. Năm 1990, cụ Cáo sống chung với Nguyễn Thị Thúy Hằng cho đến nay. Năm 1992 cụ Vol chết. Ngày 16/12/2002, cụ Cáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 25/6/2004 cụ Cáo chuyển nhượng phần đất này cho bà Trương Khắc Huệ, ông Trần Văn Tân giá 175.000.000đ, ông Tân, bà Huệ mới trả cha bà được 75.000.000đ. Các ông, bà khiếu nại việc chuyển nhượng đất của cụ Cáo với bà Huệ nhưng chưa được giải quyết. Tháng 5/2006, bà Huệ, ông Tân lại chuyển nhượng lại cho Công ty. Trong khi đó các ông, bà ở trên phần đất nay không ai hay biết. Các ông, bà không chấp nhận yêu cầu của Công ty.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.  Cụ Cáo trình bày: Cụ thừa nhận nguồn gốc đang tranh chấp là của ông, bà ngoại cụ cho cụ trước khi cụ lấy vợ. Từ năm 1988 đến nay cụ không còn ở trên phần đất này mà về sống với cụ Vol tại phường 8 để đất lại cho các con ở. Năm 2002 cụ về Ủy ban nhân dân phường 2 làm thủ tục kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không cho các con cụ biết. Ngày 16/12/2002, cụ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do cụ ốm đau nên cụ bán cho bà Trương Khắc Huệ với giá 175.000.000d. Cụ cho rang việc cụ chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà Huệ là không đúng nên cụ xin hủy hợp đồng mua bán giữa cụ với bà Huệ, hủy hợp đồng mua bán giữa bà Huệ với Công ty. Cụ giao toàn bộ quyền quyết định trên phần đất đó cho các con cụ quyết định.

2.  Ông Trương Lâm trình bày: Ông không có hành vi cản trở Công ty thi công trên 9.936,8m2 đất nêu trên. Nhưng đất này là của gia đình ông nên không chấp nhận yêu cầu của Công ty.

3.  Bà Trương Thị Lan (Chấp), bà Trương Thị Điệp (Hà), bà Trương Thị Ngọc Thảo, bà Lâm Nhựt Thủy Tiên, anh Trương Phú Quí trình bày: Thừa nhận có hành vi cản trở Công ty thi công trên 9.936,8m2 đất nêu trên. Nhưng đất này là của gia đình các bà nên không chấp nhận yêu cầu của Công ty.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 52/2010/DSST ngày 09/6/2010, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Chấp nhận 1 phần yêu cầu của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang.

Buộc bà Hoa, bà Hảo, bà Vân, ông Long, bà Bích, anh Hải, chị Trang, ông Dũng, ông Lâm, bà Thảo, bà Tiên, ông Quý, bà Lan, bà Điệp chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thi công công trình của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang trên diện tích 9.936,8m2 đất.

Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/6/2010, bà Hoa, bà Hảo, bà Vân, ông Long, bà Bích, anh Hải, chị Trang, ông Dũng, ông Lâm, bà Thảo, bà Tiên, ông Quý, bà Lan, bà Điệp kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 158/2011/DSPT ngày 09/8/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, anh Trương Hùng Hải, người thừa lcế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Trương Ngọc Bích là ông Lê Văn Dũng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Lâm, bà Trương Thị Lan, bà Trương Thị Điệp. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2010/DSST ngày 09/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng như sau:

Chấp nhận 1 phần yêu cầu của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang kiện bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, bà Trương Ngọc Bích (chết), anh Trương Hùng Hải, chị Trương Thị Huyền Trang về việc yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đât và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Buộc các bị đơn bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, anh Trương Hùng Hải, chị Trương Thị Huyền Trang, ông Lê Văn Dũng là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Bích và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Lâm, bà Trương Thị Ngọc Thảo, bà Lâm Nhựt Thủy Tiền, anh Trương Phú Quí, bà Trương Thị Lan, bà Trương Thị Điệp chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thi công công trình của Công tỵ TNHH Địa ốc Sáng Quang trên diện tích 9.936,8m2 đât thuộc thửa 43, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T.31 ngày 26/9/2006 cho Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang.

Bác một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về nghĩa vụ nộp án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 26/8/2011 và ngày 19/7/2012, bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long có đơn đề nghị xem xét bản án dân sự phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 260/2014/KN-DS ngày 08/8/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thâm số 158/2011/DSPT ngày 09/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thì 9.936,8m2 thuộc thửa 43, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại khóm 6, phường 2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc là của cụ Trương Cáo được cho từ năm 1954. Năm 1956 cụ Cáo kết hôn với cụ Nguyễn Thị Năm có 5 người con chung là bà Trương Thị Phụng, bà Trương Hồng Hoa, bà Trương Thị Lan, ông Trương Hùng Sơn và ông Trương Lâm. Sau khi cụ Năm chết, năm 1967 cụ Cáo kết hôn với cụ Huỳnh Thị Vol có 6 người con chung là bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, bà Trương Ngọc Bích, bà Trương Thị Ngọc Thảo và bà Trương Thị Điệp. Từ năm 1988 đến nay cụ Cáo không ở trên phần đất nêu trên mà về chung sống cùng vói cụ Vol tại phường 8, thành phố Sóc Trăng còn diện tích đất nêu trên các con của cụ Cáo quản lý, sử dụng. Ngày 16/12/2002, hộ cụ Cáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ của cụ Cáo gồm có cụ Cáo, bà Hoa, ông Lâm, bà Hảo, bà Thảo, bà Vân, ông Long, bà Bích (các con của cụ Cáo), bà Lâm Nhụt Thủy Tiên (vợ của ông Long), anh Trương Hùng Hải, anh Trương Kiều Khả Ái, anh Trương Phú Quí (các cháu của cụ Cáo).

Khi cụ Cáo chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng bà Trương Khắc Huệ, ông Trần Văn Tân thì các con của cụ Cáo ngăn cản nên cụ Cáo có đơn khởi kiện “Yêu cầu chấm dút hành vi cản trở quản lý, sử dụng đất bất họp pháp” đối vói bà Trương Thị Lan.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 116/DSPT ngày 30/8/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định sửa bản án dân sự sơ thẩm so 21/DSST ngày 11/6/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Sóc Trăng như sau: Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở của bà Lan đối với quyền sử dụng đất của hộ cụ Cáo được Ủy ban nhân dân thị xã Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3035 ngày 16/12/2002 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3049 ngày 18/12/2002.

Như vậy, bản án dân sự phúc thẩm số 1 lố/DSPT ngày 30/8/2004 nêu trên đang có hiệu lực pháp luật và đất trên là của vợ chồng cụ Cáo.

Ngày 25/6/2004, cụ Cáo chuyển nhượng toàn bộ 9.936,8m2 đất cho bà Trương Khắc Huệ, ông Trần Văn Tân. Họp đồng chuyển nhượng có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường 2 và Phòng Địa chính nhà đất, hai bên đã làm thủ tục sang tên trước bạ. Ngày 16/5/2006 VỌ’ chồng bà Huệ chuyển nhượng toàn bộ diện tích nêu trên cho Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang. Họp đồng thỏa thuận mua bán chuyển nhượng đất có chứng nhận của Ủy ban nhân dân phường 2, Phòng Tài nguyên môi trường, hai bên đã làm thủ tục sang tên trước bạ và ngày 20/9/2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty.

Tuy diện tích đất có tranh chấp là của cụ Cáo được cho nhưng khi cụ Cáo kết hôn với cụ Năm, cụ Vol thì đây là tài sản chung của vợ chồng. Cụ Năm (chết năm 1967) và cụ Vol (chết năm 1992) nhưng khi giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cũng chưa xem xét đến di sản thừa kế của cụ Năm và cụ Vol là chưa đúng. Thực tế, từ năm 1988 đến nay cụ Cáo không ở trên phần đất nêu trên mà do các con của cụ Cáo quản lý, sử dụng. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Cáo thì những người ở trên đất đều không biết. Khi cụ Cáo chuyển nhượng đất cho bà Huệ các con của cụ Cáo đã phản đối nhưng khi giải quyết Tòa án cũng chưa xem xét đánh giá hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ Cáo với bà Huệ đã đúng hay chưa mà lại căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng đất giữa cụ Cáo với vợ chồng bà Huệ và hợp đồng chuyển nhượng đất giữa vợ chồng bà Huệ với Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang; đồng thời căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang để buộc bà Hoa, bà Hảo, bà Vân, ông Long, bà Bích, anh Hải, chị Trang, ông Dũng, ông Lâm, bà Thảo, bà Tiên, ông Quý, bà Lan, bà Điệp chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thi công công trình của Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang trên diện tích 9.936,8m2 đất là chưa có căn cứ vững chắc.

Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 158/2011/DSPT ngày 09/08/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 52/2010/DSST ngày 09/06/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về vụ án “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Địa ốc Sáng Quang với bị đơn là bà Trương Thị Hồng Hoa, bà Trương Thị Hảo, bà Trương Thanh Vân, ông Trương Hoàng Long, bà Trương Ngọc Bích (đã chết, người thừa kế và nghĩa vụ tố tụng là ông Lê Văn Dũng), anh Trương Hùng Hải, chị Trương Thị Huyền Trang.


151
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 449/2014/DS-GĐT ngày 20/11/2014 về vụ án Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Số hiệu:449/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về