Quyết định giám đốc thẩm 453/2014/DS-GĐT ngày 21/11/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TOÀ DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 453/2014/DS-GĐT NGÀY 21/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN VÀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ 

Họp phiên tòa ngày 21/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa các bên đương sự là:

Nguyên đơn:

Cụ Trương Thị Hồng, sinh năm 1932, địa chỉ tại 65c Lê Thánh Tôn, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn: Bà Nguyễn Xuân Liễu, sinh năm 1956;

Địa chỉ: số 07 Phan Bội Châu, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thanh Phương, sinh năm 1961;

2. Bà Lê Thị Mỹ, sinh năm 1963;

Đều trú tại số 134 Phan Đình Phùng, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

3. Ông Đặng Văn Hòa, sinh năm 1954;

4.  Bà Nguyễn Thị Ánh Nga, sinh năm 1964;

Đều trú tại số 7 Phan Bội Châu, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/1/2004 và quá trình tố tụng Nguyên đơn là bà Lê Thị Mỹ trình bày. yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyên Thị Xuân Liễu phải giao đủ diện tích nhà đất 60,72nr (gồm 2 gian, phía Băc và phía Nam) tại số 7 Phan Bội Châu, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cho bà theo Hợp đông mua bán nhà ngày 18/9/2003, công chứng ngày 18/9/2003 tại Phòng chứng số 1 tỉnh Phú Yên.

Theo bà Mỹ, bà đã trả đủ tiền mua nhà là 100 triệu cho bà Liễu, bà Liễu đã giao nhà cho bà nhưng bà Liễu xin ở lại một thời gian (vì chông bà Liêu mới chết), nên bà đồng ý. Khi đang trong quá trình làm thủ tục sang tên thì bà Nguyễn Thị Ánh Nga (em gái bà Liễu) đến chiêm lại căn phòng phía Nam (20m2) và cho rằng là của bà Nga được mẹ la cụ Hồng cho, không phải của bà Mỹ. Bà Mỹ cũng có yêu cầu bà Nga trả lại phần nhà phía Nam đê bà Liêu giao lại bà theo họp đồng.

- Bị đơn là bà Nguyễn Thị Xuân Liễu cho rằng:

Nhà đất là của bà, không phải của cụ Hồng. Do không có hộ khẩu nên năm 2002 khi mua nhà của bà Bích) bà có nhờ mẹ là cụ Trương Thị Hồng và chị gái là bà Nguyễn Thị Ánh Loan đứng ra giao dịch và ký họp đông, bà đưa tiên cho cụ Hồng trả. Sau đó, bà đã làm lại hợp đồng từ chủ cũ (bà Bích) sang cho bà. Bà cho gia đình em gái là bà Nga ở 1 gian do bà Nga khó khăn về chỗ ở. Đến tháng 3/2003 gia đình bà Nga chuyển đi nơi khác ở thì bà đã bán nhà đât cho bà Mỹ. Bà giao nha đất thì bà Nga lại quay về chiếm lại gian phòng phía Nam mà trước đây gia đình bà Nga ở.

Bà Liễu xác định bà có quyền sở hữu nhà đất và đã giao nhà đủ cho bà Mỹ rồi, bà Liễu không thừa nhận lời khai của mẹ là cụ Hông, em là bà Nga và bà Loan cho rằng nhà của cụ Hồng, cụ chỉ cho bà phần nhà phía Bắc (37,4m2) và cho bà Nga gian phòng phía Nam. Bà Liễu và phủ nhận chữ ký của bà Nga trong Giấy cho nhà ngày 11/10/2002 (có nội dung bà Liễu cho bà Nga gian phòng 20m2  163, 142..T1). Bà đề nghị Tòa buộc bà Nga trả lại gian phòng để bà giao đủ nhà cho bà Mỹ (95), tại phien tòa sơ thẩm 1, bà xác định bà Mỹ kiện mình là sai vì bà đã giao nhà cho bà Mỹ rồi.

Người liên quan là cụ Hồng: xác định 7,7 cây vàng cụ Hồng mua nhà là của cụ Hồng tích cóp từ tiền của con ở nước ngoài gửi về cho cụ, không phải do bà Liễu nhờ cụ mua hộ. Cụ mua của bà Bích và giao dịch với bà Bích và con bà Bích là anh MỈinh, cho bà Liễu đứng tên trong giấy mua bán vì bà Liễu đang ở Nha Trang muốn nhập hộ khẩu ở Tuy Hòa thì phải có nhà. Sau khi mua nhà cụ cho con la bà Nga và bà Liễu ở. Cụ vẫn đồng ý cho 2 người này mỗi người 1 phần, phần bà Nga gian 20m2 nhưng do nhà đứng tên bà Lieu nên gia đình họp và thống nhất bà Liễu viết giấy cho bà Nga gian buồng 20m2. Giấy cho ngày 11/10/2002 bà Nga viết, bà Liễu ký và ƯBND phường 1 xác nhận. Vì vậy, cụ Hồng cho ràng nhà của cụ nên bà Liễu lén lút bán nhà và bán cả phần của bà Nga là không đúng. Các lời khai ban đầu (từ khi thụ lý đến khi xử phúc thẩm lần 1 tháng 4/2005) cụ Hong đề nghị phần cụ đã cho Liễu 37,4m2 thì Liễu bán thì cũng cho ai thì tùy, nhưng bán phan cụ cho bà Nga là sai. Bà Nga có yêu cầu Tòa án hủy phân họp đồng mà bà Liêu đã bán là gian nhà của bà đang ở.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 45/2004/DSST ngày 3,4,8/11/2004, Tòa án nhân dân thị xã Tuy Hòa quyết định:

Tuyên hủy một phần HĐMB nhà này 18/9/2003 giữa bà Liễu với bà Xuân đổi với phần diện tích nhà bán 14,58m2 thuộc sở hữu của bà Nga. Bà Liêu có trách nhiệm hoàn trả bà Mỹ 10.338.983 đồng là giá trị tài sản giao dịch bất hợp pháp. Bà Nga được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích xây dựng 14,58m2 đang tranh chấp...

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn có quyết định về án phỉ và quyền kháng cáo của các đương sự.

Trong hạn luật định, bà Mỹ, bà Liễu kháng cáo. Ngày 22/11/2004, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa có QĐ số 247 kháng nghị án sơ thẩm đề nghị công nhận họp đồng mua bán nhà.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 33/2005/DSPT ngày 7/4/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

Hủy án sơ thẩm vì xác định bà Nga là người liên quan là không đúng;...

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 10/5/2005, cụ Hồng có đơn yêu cầu xác định cụ là sở hữu chủ căn nhà 7 Phan Bội Châu và yêu cầu hủy HĐMB nhà 18/9/2003 giữa bà Liễu và bà Mỹ, tự nguyện trả 100 triệu đồng lại cho bà Mỹ và cụ nộp tạm ứng án phí cho yêu cầu của mình.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2005/DSST ngày 7/12/2005, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định:

Hợp đồng mua bán nhà ngày 18/9/2002 giữa bà Mỹ và bà Liễu là hợp pháp. Bác yêu cầu của bà Nga và cụ Hồng để bà Nga được toàn quyền quản lý, sử dụng căn phòng phía Nam nhà 7 BBC có diện tích sau khỉ trừ quy hoạch giải tỏa là 10,8m2 VI không có căn cứ. Bà Nga có trách nhiệm hoàn trả căn phòng nêu trên cho bà Liễu để bà Liễu trả bà Mỹ. Bà Mỹ trả bà Nga tiền sửa chữa căn phòng là 2,7 triệu đồng...

Bà Mỹ kháng cáo không đồng ý trả tiền sửa chữa nhà.

Cụ Hồng và bà Nga kháng cáo yêu cầu xác định cụ Hồng là người mua nhà, bà Liễu chỉ là người đứng tên trong giấy tờ; sau khi mua nhà cụ Hồng đã cho bà Liễu 1 phần, bà Nga 1 phần; phần bà Nga là phần bị trúng giải tỏa. Yêu cầu hủy một phần HĐMB nhà liên quan đến phần của bà Nga.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 46 ngày 27/7/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

Sửa án sơ thẩm theo phân tích trên: hủy một phần HĐMB nhà đổi với căn phòng 14,58m2, buộc bà Liễu trả vợ chồng bà Mỹ 51,781 triệu đồng. Công nhận quyền sử dụng hợp pháp căn phòng phía Nam diện tích 14,58m2 là của bà Nga...

Vợ chồng bà Mỹ có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 364/KN-DS ngày 17/7/2009 quyết định:

Chánh án TANDTC đã kháng nghị bản áp phúc thẩm với phân tích:...tuy bà Liêu là người đứng tên trên giấy tờ nhưng qua lời khai cụ Hồng, bức thư của bà Cúc (con cụ Hồng, gửi từ nước ngoài về); việc bà Nga về ở căn phòng và có sửa chữa nhà, bà Nga đứng tên kê khai nhận đền bù; bà Liễu có lời khai thừa nhận bà đưa tiền mua nhà cho cụ Hồng và cụ Hồng, bà Loan là người trực tiếp giao dịch với bà Bích, lời khai của con trai bà Bích là anh Minh xác nhận cụ Hồng là người giao dịch...cụ Hồng là người mua nhà và có quyển sở hữu hợp pháp nhà. Cụ Hồng có yêu cầu Tòa án xác định cụ là người bỏ vàng ra mua nhà nêu tên và tặng cho bà Nga và bà Liễu các phần nhà đang ở từ trước đến nay. Do đó, cần phải xác định việc tặng cho của cụ Hồng là có điều kiện là phải công nhận quyền sở hữu cho cụ, bản án sơ thẩm không xem xét đến yêu cầu của cụ Hồng là không đủng; phúc thẩm không xét kháng cáo của cụ mà vẫn công nhận cho bà Nga, bà Liễu có quyền sở hữu các phần nhà cũng là không đúng. Lẽ ra khi tuyên án cần công nhận quyền sở hữu hợp pháp căn nhà là của cụ Hồng, trên cơ sở đó mới ghi nhận ý chí tặng cho của cụ Hồng. Ngày 18/9/2003, bà Liễu lập hợp đồng bán nhà cho bà Mỹ, hợp đồng này phía bà Mỹ không có lỗi vì giáy tờ đứng tên bà Liễu nhưng cấp phúc thẩm hủy một phần hợp đồng liên quan đến căn phòng bà Nga đang ở nhưng không xác định lỗi của bà Liễu để đền bù thiệt hại cho bà Mỹ là chưa thỏa đáng...

Tại Quyết định GĐT số 508/2009/GĐT-DS ngày 20/10/2009, TDS TANDTC đã nhận định:

Có cơ sở xác định cụ Hồng là người mua nhà và có quyền sở hữu hợp pháp căn nhà....và Quyết định chấp nhận kháng nghị hủy án sơ thẩm, phúc thẩm giao sơ thẩm lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 54 ngày 30/5/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Tuy Hòa quyết định:

Công nhận nhà và đất tại 7 Phan Bội Châu là thuộc quyền sở hữu sử dụng của cụ Hồng (có tuyên tứ cận). Tuyên bố HĐ ngày 18/9/2002 giữa bà Liễu với bà Mỹ vô hiệu. Bà Liễu có trách nhiệm hoàn trả cho vợ chồng bà Mỹ số tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại, tổng sỗ 338 triệu...Bà Liễu có nghĩa vụ giao lại phần nhà phía Bắc cho cụ Hồng, vợ chồng bà Nga giao lại phần nhà phía Nam cho cụ Hồng. Bà Liễu, bà Nga đươc lưu cư trong thời hạn 12 tháng...

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn có quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Trong hạn luật định, vợ chồng bà Mỹ kháng cáo yêu cầu bà Liễu phải giao phần nhà phía Bắc và bà Liễu phải trả giá trị phần nhà phía Nam cho bà.

Tại bản án phúc thẩm số 67/2011/DSPT ngày 26/9/2011 (và Thông báo sửa chữa, bổ sung ngày 7/10/2011) Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên sửa án sơ thẩm như sau:

1. Công nhận quyền sở hữu nhà là của cụ Hồng mua có giá trị 7,7 lượng vàng.

2. Không chấp nhận ỷ kiến rút việc cho phần nhà của cụ Hồng đã cho bà Nga, bà Liễu. Ghi nhận ý chí trước đây của cụ Hồng cho bà Liễu, bà Nga nhà...

3. Tuyên bố HĐMB nhà ngày 18/9/2003 giữa bà Liễu với vợ chồng bà Mỹ bị vô hiệu một phần đoi với gian nhà bà Nga;

4. Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng bà Nga trả lại quyền sở hữu gian nhà phía Nam và quyền sử dụng đất cho cụ Hồng và không yêu cầu cụ Hồng trả giá trị cải tạo sửa chữa nhà.

5. Công nhận quyền sở hữu gian nhà phía Nam gắn quyền sử dụng đất của cụ Hồng do vợ chồng bà Nga trả cho cụ Hồng có diện tích 14,58 m2 và diện tích đất đã trừ phần xây dựng lấn chiếm lộ giới còn 11.07m2...

6. Công nhận quyền sở hữu gian nhà phía Bắc diện tích xây dựng 65,81 m2 và diện tích đất đã trừ phần xây dựng lấn chiếm lộ giới còn 57,28m2, là của vợ chồng bà Mỹ, ông Phương đã có hợp đồng mua bán với bà Liễu ngày 18/9/2003.

7.  Buộc bà Liễu bồi thường cho vợ chồng bà Mỹ, ông Phương giá trị thực tế nhà đất là 57.781.473d vì đây là phần tài sản mà bà Liễu bán cho vợ chồng bà Mỹ không hợp pháp..

Bản án còn quyết định về án phí, chi phí khác,...

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Loan (con cụ Hồng, là người đại diện theo ủy quyền của cụ tham gia tố tụng) có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa có Công văn số 3410/UBND ngày 18/11/2013, đề nghị xem xét theo trình tự tái thẩm với lý do: Theo bản án phúc thẩm năm 2006 thì vợ chồng bà Nga, ông Hòa được công nhận quyền sở hữu gian nhà phía Nam. Năm 2006 vợ chồng bà Nga đã nhận đủ số tiền đền bù tài sản là gian nhà 14,58m2 = 18 triệu, đồng thời xỉn được mua 1 lô đất tái định cư. UBND TP Tuy Hòa đã chấp nhận cho ông Hòa bà Nga được mua 1 lô đất 70m2 (được giảm 66,7% tiền sử dụng đất do chênh lệch giá đất. Sau khi được chấp thuận thì vợ chồng bà Nga cam kết sẽ bàn giao phần nhà đất còn lại 10,8m2

Tuy nhiên, sau khỉ nhận lô đất tái định cư làm nhà và được cấp GCNQSH nhà năm 2007, vợ chồng bà Nga vẫn ở tại gian nhà phía Nam số 7 PBC và có đơn xỉn được thuê hoặc mua lại gian nhà 10,8m2 vì nơi ở mới không có điều kiện kinh doanh thuận lợi, UBDN không đồng ý...Do thời điểm thu hồi giải tỏa, cơ quan có thẩm quyền chưa có QĐ thu hồi đất nên không thể cướng chế thu hồi đất được. Hiện nay, UBND TP Tuy Hòa đang chi đạo giải quyết vụ việc trên thì vợ chồng bà Nga xuất trình bản án năm 2011 và cho rằng vợ chồng bà không còn sở hữu phần nhà trên.

Như vậy, trong suốt thời gian qua, vợ chồng bà Nga đã cố tình dây dưa trốn tránh việc tháo dỡ nhà...có thủ đoạn để TAND tỉnh Phú Yên nhầm lẫn kết thúc việc giải quyết vụ án vào năm 2011 công nhận quyền sở hữu gian nhà phía Nam là của cụ Hồng. Đe nghị Chánh án TANDTC xem xét kháng nghị tái thẩm để UBND TP Tuy Hòa thực thỉ công tác quản lý nhà nước của mình.

Tại Quyết định kháng nghị số 297/2014/KN-DS ngày 21 tháng 8 năm 2014 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Một phần nội dung giải quyết ghi tại mục 4, 5 trong Quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm số 67/2011/DS- PT ngày 26/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về vụ án "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán nhà" giữa nguyên đơn là cụ Trương Thị Hồng, với bị đơn là bà Nguyễn Xuân Liễu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh Phương, bà Lê Thị Mỹ, ông Đặng Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Ánh Nga; Đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Một phần nội dung giải quyết ghi tại mục 4, 5 trong Quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm ngày 21/11/2014, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Năm 2002, cụ Trương Thị Hồng mua căn nhà số 07 Phan Bội Châu, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên với giá 7 lượng 7 chỉ vàng y. Sau đó, cụ Hồng đã cho hai người con gái là bà Nguyễn Thị Xuân Liễu gian nhà phía Bắc, cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Ánh Nga gian nhà phía Nam của căn nhà số 7 Phan Bội Châu. Năm 2003, bà Liễu bán cho vợ chồng bà Lê Thị Mỹ, ông Nguyễn Thanh Phương toàn bộ nhà số 7 Phan Bội Châu (gồm 2 gian nhà phía Bắc và gian nhà phía Nam) không được sự đồng ý của bà Nga. Năm 2004 bà Mỹ có đơn khởi kiện tranh chấp về họp đồng mua bán nhà với bà Liễu và cụ Hồng có đơn yêu cầu độc lập đề nghị xác định căn nhà thuộc sở hữu của cụ, bà Nga có đơn yêu cầu độc lập xác định cụ Hồng đã cho bà gian nhà phía Nam. Tòa án cấp phúc tham đã xác định căn nhà có nguồn gốc là của cụ Hồng mua và cụ đã cho bà Liễu gian nhà phía Bắc, cho vợ chồng bà Nga gian nhà phía Nam; tuyên bố hợp đồng mua bán nhà số 07 Phan Bội Châu, phường 1, thành phố Tuy Hòa lập ngày 18/9/2003 giữa bà Liễu với vợ chồng bà Mỹ bị vô hiệu một phần đối với gian nhà phía Nam vì thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà Nga và giải quyết về hậu quả của phần hợp đồng mua bán nhà vô hiệu giữa bà Liễu với vợ chồng bà Mỹ về gian nhà này là đúng.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bà Mỹ đã có lời khai về việc bà Nga, ông Hòa đã kê khai nhận đền bù gian nhà phía Nam trên đất bị giải tỏa mặt bằng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không làm rõ thật sự căn nhà ở phía Nam có thuộc đối tượng đã bị thu hồi giải tỏa không? Neu có thì tiền đền bù giải tỏa bà Nga đã nhận chưa? Tại phiên tòa phúc thẩm, khi bà Nga có ý kiến trả lại cụ Hồng gian nhà phía Nam thì Tòa án cấp phúc thẩm lại chấp nhận ngay và có quyết định công nhận quyền sở hữu gian nhà phía Nam gắn quyền sử dụng đất của cụ Hồng do vợ chồng bà Nga trả cho cụ Hồng có diện tích 14,58 m và diện tích đất đã trừ phần xây dựng lấn chiếm lộ giới còn 11.07m2, là chưa đủ căn cứ. Sau khi xét xử, kèm theo văn bản kiến nghị số 3410/UBND ngày 18/11/2013, Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa đã cung cấp các tài liệu thể hiện quá trình bà Nga, ông Hòa làm thủ tục nhận tiền đền bù về đất và tài sản trên đất từ năm 2007, năm 2009 đã nhận đủ tiền và đất tái định cư. Như vậy, phần nhà đất phía Nam đã bị thu hồi và đã được đền bù do bị thu hồi, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại công nhận sự thỏa thuận giữa bà Nga trả lại cụ Hồng quyền sở hữu và sử dụng phần nhà đất này, công nhận cho cụ Hồng được sở hữu phần nhà đất này là trái pháp luật

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYỂT ĐỊNH

- Chấp nhận quyết định kháng nghị số 297/2014/KN-DS ngày 21 tháng 8 năm 2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

- Hủy một phần nội dung giải quyết ghi tại mục 4, 5 trong Quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm số 67/2011/DS-PT ngày 26/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa nguyên đơn là cụ Trương Thị Hồng, với bị đơn là bà Nguyễn Xuân Liễu.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 453/2014/DS-GĐT ngày 21/11/2014 về vụ án Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:453/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về