Quyết định giám đốc thẩm 460/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 460/2014/DS-GĐT NGÀY 24/11/2014 VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 24/11/2014 xét xử giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 144/2011/DS-PT ngày 13/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị, có các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Rự, sinh năm 1931; trú tại thôn 5, xã EaHu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Đặng Hữu Điểu, sinh năm 1957 và vợ là bà Nguyễn Thị Lựu, sinh năm 1961; cùng trú tại thôn 5, xã EaHu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Mon, sinh năm 1938; trú tại xóm Thiên Lý, xã Yên Định, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2006 và trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị Rự ủy quyền cho anh Đàm Văn Hạnh trình bày:

Năm 1987 bà Rự (là mẹ anh) khai hoang được 26.545m2 đất tại thôn 5 xã EaHu, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 (gồm nhiều thửa) thuộc tờ bản đồ số 8, trong đó có thửa 204 có diện tích là 4.950m2 (là thửa đất có một phần đất đang tranh chấp).

Đến tháng 5/1994, anh đưa vợ và các con vào thôn 5 xã EaHu sinh sống, vì tuổi đã cao nên mẹ anh (bà Rự) đã ủy quyền cho anh quản lý và sử dụng toàn bộ phần đất nêu trên.

Đến tháng 12/1994 vợ chồng bà Nguyễn Thị Lựu gặp anh thỏa thuận mua bùn dưới ao để làm phân vi sinh và mượn một miếng đất để phơi bùn nên anh đã đồng ý cho mượn miếng đất khoảng 1.028m2 trong thửa đất số 204, với thời gian là 10 năm. Vì tin nhau nên anh không làm giấy tờ mượn đất.

Năm 1995 do khô hạn nên ông Điểu, bà Lựu xin anh cho đào 1 cái ao khoảng 50m2 trên diện tích đất mượn để tưới cây cà phê. Năm 2002 bà Lựu, ông Điểu tiếp tục xin đào 1 giếng dưới lòng ao để lấy nước tưới cà phê. Trong thời gian mượn đât vợ chông ông Điểu có trồng một số cây ăn trái trên đất mượn như cà phê, mít, chanh, xoài... Năm 1996 anh phản đối nhưng bà Lựu có ý kiến trồng rồi sau này ai chặt thì chặt nên anh không có ý kiến nữa.

Năm 2005, đến thời hạn trả đất, nhưng vợ chồng ông Điểu không trả, nên anh yêu cầu:

+ Buộc vợ chồng ông Điểu trả lại phần đất mượn 1.063m2 đất trong thửa 204 (có tứ cận).

+ Yêu cầu phải trả tiền thu lợi tức và hoa lợi trên đất đã mượn trong 10 năm (trên một số cây trồng trên đất) tổng là 15.000.000 đồng.

+ Lợi tức: từ nước tưới trong giếng từ năm 1996 đến nay là 11 năm với số tiền là 12.320.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 27.320.000 đồng.

Bị đơn là ông Đặng Hữu Điểu, bà Nguyễn Thị Lựu trình bày:

Tháng 8/1994, ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Mon phân đât khoảng 2.000m2 đât có tứ cận: đông giáp rây của anh Trường, tây giáp rẫy của anh Điểu, nam giáp rẫy chị Mèn, bắc giáp bờ hồ ông Túc.

Sau khi mua đất ông bà đã làm một căn nhà gỗ để ở, cuối năm 1994 có đào một cái ao khoảng 50m2, sau đó do nước cạn nên đã đào 1 cái giếng sâu 20m dưới lòng ao để lấy nước tưới cà phê và hoa màu. Diện tích đất còn lại thì trồng cà phê, muồng đen và cây ăn trái. Ông bà sử dụng đất 12 năm không ai tranh chấp.

Năm 2001, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định không đúng diện tích đất đã mua của ông Mon nên đã đề nghị địa chính xã làm lại giấy chứng nhận nhưng không được giải quyết. Đến năm 1999 ông bà xây nhà cấp 4 trên đất đã mua. Cho đến nay diện tích đất vẫn giữ nguyên trạng, ông bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Mon trình bày: Năm 1992 ông có nhận chuyển nhượng của anh Kim, chị Hồi (con bà Rự) một rẫy có hơn 100 cây cà phê có diện tích 2000m2 (có tứ cận). Do đất không trồng được cà phê nên ông đã đổi phần đất trên cho ông Đàm Văn Túc để lấy 5.000m2 đất rừng. Sau đó ông đã bán cho ông Điểu 2.000m2 đất tiếp giáp với các hộ: đông giáp rẫy của anh Ngọc, tây giáp rẫy của chị Kim Phi (nay đã bán cho ông Điếu), nam giáp rẫy bà Mèn, bắc giáp ruộng nhà bà Rự.

Khi bán có làm giấy viết tay có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã EaHu. Việc bà Rự khai lô đất 2.000m2 mà ông sang nhượng cho ông Điểu trong đó có 1.028m2 đất của bà Rự là không đúng.

Tại Bản án sơ thẩm 06/2007/DSST ngày 21-6-2007, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin quyết định: Buộc ông Điểu, bà Lựu trả 1.028m2 đất cho bà Rự. Bà Rự trả giá trị tài sản trên đất là 12.047.500 đồng.

Tại Bản án phúc thẩm số 114/2007/DSPT ngày 12-9-2007, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định: Hủy án sơ thẩm, giao sơ thẩm lại, do chưa thu thập đủ chứng cứ và không đưa ông Mon tham gia tố tụng là người liên quan là vi phạm.

Tại Bản án sơ thẩm 05/2008/DSST ngày 12/12/2008, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin quyết định: Buộc ông Điểu, bà Lựu trả đất cho bà Rự.

Tại Bản án phúc thẩm số 50/2009/DSPT ngày 21/4/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã hủy bản án sơ thẩm giao sơ thẩm lại do chưa tiến hành định giá tài sản trên đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2010/DS-ST ngày 01/12/2010, Tòa án nhân dân huyện CưKuin nhận định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Rự. Buộc bà Lựu, ông Điểu trả bà Rự 1.063m2 đất (có tứ cận) và được quyền sở hữu các tài sản trên đất gồm ao, giếng, cây cối (có số lượng cụ thể). Bà Rự phải thanh toán cho ông Điểu, bà Lựu giá trị tài sản trên đất là 22.383.000 đồng.

Bác yêu cầu của bà Rự đòi bà Lựu, ông Điểu thanh toán 27.320.000 đồng.

Ngày 10/12/2010 ông Điểu kháng cáo.

Ngày 14/12/2010 anh Hạnh (do bà Rự ủy quyền) kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 144/2011/DS-PT ngày 13/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định không chấp nhận kháng cáo của các đương sự và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Ông Điểu có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 300/2014/DS-KN ngày 29/8/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2010/DS-ST ngày 01/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh ĐầỊc Lắk; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xư sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Bà Nguyễn Thị Rự cho rằng diện tích đất tranh chấp bà cho ông Đặng Hữu Điểu mượn; ông Điểu thì cho rằng ông mua diện tích đất này của ông Nguyễn Văn Mon; ông Mon thì cho rằng ông mua của anh Kim, chị Hồi (con bà Rự) diện tích 2.000m2 sau đó ông đổi đất này cho ông Đàm Văn Túc lấy 5.000m2 và ông bán cho ông Điểu 2.000m2 trong số 5.000m2 đất đổi của ông Túc. Thực tế diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 204 và bà Rự được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ trước khi ông Điểu sử dụng đất thì ai là người sử dụng đất; hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Điếu và bà Rự có đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó mới đủ căn cứ xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của ai.

Tại Công văn số 115/CCTHADS ngày 22/12/2011 của Chi cục thi hành án huyện Cư Kuin và tại Công văn số 102/TA-DS ngày 05/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xác định số đo các cạnh của diện tích đất tranh chấp không đúng với Quyết định của Bản án phúc thẩm; kết quả đo vẽ của Trung tâm Kỹ thuật địa chính tỉnh Đăk Lắk ngày 30/8/2013 khác với kết quả đo vẽ tại Biên bản định giá ngày 18/6/2010 và trên đất còn có tài sản là 5,8m2 sân xi măng, 5m3 đá hộc nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không tuyên giao cho ai nên không thể thi hành được Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 1 Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận Kháng nghị số 300/2014/DS-KN ngày 29/8/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 144/2011/DS-PT ngày 13/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2010/DS-ST ngày 01/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Rự với bị đơn là ông Đặng Hữu Điểu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Mon.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 460/2014/DS-GĐT ngày 24/11/2014 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:460/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về