Quyết định giám đốc thẩm 46/2013/DS-GĐT ngày 23/05/2013 về vụ án dân sự đòi quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 46/2013/DS-GĐT NGÀY 23/05/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THUỘC DI SẢN THỪA KẾ 

Ngày 23/5/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm, xét xử vụ án dân sự “Đòi quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai (Yều), sinh năm 1957;

2. Ông Nguyễn Văn Lến, sinh năm 1949;

3. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, sinh năm 1960;

Bà Mai, ông Lến và bà Ngọc Lan cùng trú tại 107 đường Trần Khánh Dư, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

4. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa, sinh năm 1951; trú tại 34K Ngô Văn Sở, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu, sinh năm 1942; trú tại 337 E, khu phố 2, khóm Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Dinh (chết ngày 9/4/2007); có chồng là ông Thái Đắc Thắng (ông Thắng ủy quyền cho bà Mai theo giấy ủy quyền ngày 13/4/2008) và 08 người con chung:

1.1 Anh Thái Đắc Tùng, sinh năm 1968;

1.2 Anh Thái Đắc Phong, sinh năm 1972;

1.3 Chị Thái Tuyết Linh, sinh năm 1973;

1.4 Anh Thái Đắc Khải, sinh năm 1982;

1.5 Chị Thái Tuyết Như, sinh năm 1970;

Ông Thắng, anh Tùng, anh Phong, chị Linh, anh Khải và chị Như cùng trú tại 50 Mậu Thân, phường An Phú, thành phố cần Thơ.

1.6 Chị Thái Tuyết Oanh, sinh năm 1976; trú tại 73/5/19A phường An Cư, thành phố cần Thơ.

1.7 Chị Thái Thị Tuyết Hương, sinh năm 1969; trú tại 120/20C Trần Phú, phường Cái Khê, thành phố cần Thơ.

1.8 Chị Thái Tuyết Khanh, sinh năm 1978; trú tại 3105 S. Deerfield Ave, Lansing, MI 48911.USA.

Anh Tùng, chị Hương, anh Phong, chị Linh, chị Oanh, anh Khải ủy quyền cho chị Như theo văn bản ủy quyền ngày 27/7/2007. Chị Khanh ủy quyền cho chị Như theo văn bản ủy quyền ngày 19/9/2007. Chị Như ủy quyền lại cho bà Mai theo văn bản ủy quyền ngày 21/01/2008.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng (chết ngày 11/2/2006) có chồng là ông Nguyễn Ngọc Dược, sinh năm 1941. Ông Dược trú tại Khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Bà Hồng, ông Dược có 06 người con chung:

2.1 Chị Nguyễn Thị Tuyết Phương, sinh năm 1971;

2.2 Anh Nguyễn Danh, sinh năm 1975;

Chị Phương, anh Danh cùng trú tại số 4 Bickley CT, Sunshine, Vic 3020, Australia.

2.3 Chị Nguyễn Thị Tuyết Hằng, sinh năm 1973;

2.4 Anh Nguyễn Ngọc Dự, sinh năm 1980;

2.5 Chị Nguyễn Thị Tuyết Loan, sinh năm 1984;

2.6 Anh Nguyễn Ngọc Thắng, sinh năm 1978;

Chị Hằng, anh Dự, chị Loan, anh Thắng cùng trú tại tổ 12 khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Ông Dược ủy quyền cho anh Thắng theo văn bản ủy quyền ngày 10/4/2008. Chị Phương, anh Danh ủy quyền cho anh Thắng theo văn bản ủy quyền ngày 16/7/2007. Chị Hằng, anh Dự, chị Loan ủy quyền cho anh Thắng theo văn bản ủy quyền ngày 25/6/2007. Anh Thắng ủy quyền lại cho bà Mai theo văn bản ủy quyền ngày 11/4/2008.

3. Ồng Nguyễn Quang Minh, sinh năm 1958; trú tại Tokyo To Ota Ku Haneda 2-2-16 Van Peru Koei 301 Japan. Ông Minh ủy quyền cho các nguyên đơn theo văn bản ủy quyền ngày 27/9/2005.

4. Ông Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1959; trú tại 2/46 Blight Street, Ridleyton, SA 5008, Australia. Ồng Tuấn ủy quyền cho các nguyên đơn theo văn bản ủy quyền ngày 12/6/2007.

5. Ông Nguyễn Văn Tấn, sinh năm 1946; trú tại số 314 ấp 4, xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ông Tấn ủy quyền cho các nguyên đơn theo văn bản ủy quyền ngày 27/9/2007.

6. Anh Lâm Mộc Thảo, sinh năm 1968; trú tại 337E khu phố Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

7. Bà Nguyễn Thị Ngọc Cẩm, sinh năm 1963; trú tại 552 Trần Khánh Dư, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2006, ngày 28/9/2007 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, bà Nguyễn Thị Kim Hoa, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và ông Nguyễn Văn Lến trình bày:

Cha mẹ của các ông, bà là cụ Nguyễn Văn Lực (chết năm 2004) và cụ Lâm Thị Kía (chết năm 1997) có 11 người con chung gồm: các ông, bà, bà Diệu, bà Dinh, bà Hồng, ông Tấn, ông Minh, ông Tuấn và bà Cẩm. Năm 1972 cụ Lực và cụ Kía mua của bà Nguyễn Thị Tư một phần đất có diện tích 3.120m2 (chiều ngang 52m, dài 60m) tại số 339E, khu phố 2, khóm Vĩnh Viễn, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vói giá 400.000 đồng. Tháng 12/1974, cụ Lực về phường An Hòa, Rạch Giá sinh sống và giao lại phần đất trên cho bà Diệu giữ giùm và bà Diệu sử dụng đất cho đến nay. Năm 1997, cụ Kía chết thì cụ Lực đã mai táng cụ Kía trên phần đất này, năm 2001 cụ Lực xây khu mộ cho gia đình có hàng rào i-nốc trên một phần đất. Ngày 17/2/1993, bà Diệu có đơn xin hợp thức hóa chủ quyền với diện tích 2.433m2 có nêu nguồn gốc đất do bà “mua lại của bà Thị Vưỡng năm 1968”.Năm 1993 bà Diệu được Ủy ban nhân dân thị xã Rạch Giá cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khi cụ Lực phát hiện bà Diệu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ Lực tranh chấp và năm 2002 Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Hiệp giải quyết tranh chấp bác đơn của cụ Lực.

Do đó, các ông, bà (đại diện cho các anh, em) yêu cầu bà Diệu trả lại diện tích đất trên vì là đất của cha, mẹ để lại trừ diện tích đất bà Diệu đã xây dựng nhà và diện tích bà Diệu mua thêm (hình cánh buồm) sau này.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Diệu trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp tại số 337E khu phố 2, khóm Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang hiện bà đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc là do bà và cha của bà là cụ Lực mua chung của bà Nguyễn Thị Tư vào năm 1972 với giá 400.000 đồng, mỗi người góp 200.000 đồng nhưng giấy mua bán (viết tay) đề tên cụ Lực. Lúc mua không đo cụ thể chỉ phóng tầm ghi chiều ngang 52m, chiều dài 60m.

Khi cụ Lực còn sống thì bà và cụ Lực đã thỏa thuận phân chia, theo đó phần của cụ Lực có chiều ngang mặt trước 23,2m; chiều ngang mặt sau 22,5m, chiều dài là 35m, phần đất còn lại là của bà. Sau này bà có mua thêm phần đất (hình cánh buồm) giáp với phần đất mua chung với cụ Lực.

Khi thực hiện chính sách về đất đai của Nhà nước, bà đã kê khai được Ủy ban nhân dân thị xã Rạch Giá cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 đối với toàn bộ diện tích đất mà bà và cụ Lực đã mua chung nên bà chỉ đồng ý trả cho các nguyên đơn phần đất mà cụ Lực đã cắm ranh làm hàng rào khu mộ, phần đất còn lại là của bà nên không đồng ý trả.

Theo đo đạc thực tế ngày 04/01/2008 thì tổng diện tích khu đất là 2.593,377m2 trong đó diện tích đất có nhà 570,2m2, diện tích đất có khu mộ 825,475m2, diện tích đất bà mua riêng 136,1m2, còn lại là 1.061,4m2.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2007/DSST ngày 29/3/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Lến, bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thị Kim Hoa về việc kiện đòi bà Nguyễn Thị Diệu trả lại diện tích đất 2.105m2 thuộc di sản thừa kế của cụ Lực để lại.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 23/4/2007, ông Lến, bà Mai, bà Hoa, bà Lan kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 180/2007/DSPT ngày 19/6/2007, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Hủy án dân sự sơ thẩm số 02/2007/DSST ngày 29/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để giải quyết lại sơ thẩm theo quy định chung.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2008/DSST ngày 5/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của các nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Văn Lến, Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Thị Ngọc Lan yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Buộc bà Nguyễn Thị Diệu phải giao trả lại cho các đồng nguyên đơn đồng thời là đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan di sản thừa kế của cụ Lực và cụ Kía cho đồng sở hữu diện tích đất là 1.787,69m(có nêu chiều dài tứ cận). Toàn bộ diện tích đất đã khấu trừ diện tích bà Diệu và anh Thảo đang sử dụng 570,26m2, diện tích khu mộ 99,23m2, diện tích bà Diệu sang nhượng là 136,18m2.

Bà Diệu phải giao toàn bộ cây ăn trái trên diện tích đất giao trả 1.787,69m.2 (theo chứng thư thẩm định số Vc 08/05/33/TS-KG ngày 16/5/2008) cho các đồng nguyên đơn và đại diện cho các người liên quan.

Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Diệu được sở hữu phần nhà ở gắn liền với đất ở và phần nhà anh Lâm Mộc Thảo có diện tích đất là 570,26m2 (có nêu chiều dài tứ cận).

Công nhận cho bà Diệu phần diện tích do bà Diệu tự sang nhượng hình tam giác là 136,18m2 (gồm 03 cạnh: 10,99m; 25,98m; 24,8m) giáp ranh bà Thị Dưỡng.

Công nhận diện tích đất cho bà Diệu đã xây dựng 02 kim tĩnh phần mộ có diện tích 99,23m(ngang 10,5m, dài 9,45m) có vị trí ngang nhà anh Lâm Mộc Thao cách 5m, sau phần khu mộ có hàng rào i-nốc do cụ Lực xây dựng 3,6m.

Tổng diện tích bà Diệu được quản lý, sử dụng là 805,67m2.

Các nguyên đơn đại diện cho những người lỉên quan có nghĩa vụ bồi hoàn thành quả lao động trên đất bao gồm: san lẳp mặt bằng và cây ăn trái cho bà Diệu là tổng cộng 61.053.500 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/9/2008, các nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bà Diệu trả lại diện tích đất 99,23m2 mà bà Diệu xây kim tĩnh cho cha mẹ chồng của bà và không đồng ý bồi thường cho bà Diệu số tiền 61.053.500 đồng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 61/2009/DSPT ngày 24/2/2009, Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2008/DSST ngày 5/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về diện tích xây dựng kim tĩnh như sau:

Buộc bà Nguyên Thị Diệu giao cho các đồng nguyên đơn phần diện tích đất 99,23m2 (ngang 5m, dài 9,45m) có vị trí ngang nhà anh Lâm Mộc Thảo cách 5m, sau khu mộ có hàng rào i-nốc do cụ Lực xây dựng 3,6m. Tổng diện tích bà Diệu được quản lý sử dụng là 706,44m2.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.

Tại Công văn số 08/ĐN-THA ngày 26/10/2009, Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang kiến nghị xem xét lại bản án phúc thẩm trên theo thủ giám đốc thẩm.

Ngày 17/11/2009, các nguyên đơn khiếu nại yêu cầu được thi hành bản án phúc thẩm đồng thời chấp nhận giữ nguyên nhà của bà Diệu, anh Thảo.

Tại Quyết định số 35/2012/DS-KN ngày 23/2/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2009/DSPT ngày 24/2/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 07/2008/DSST ngày 5/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Lực (chết năm 2004), cụ Lâm Thị Kía (chết năm 1997) có 11 người con chung là bà Nguyễn Thị Kim Dinh, bà Nguyễn Thị Diệu, bà Nguyễn Thị Kim Hồng, ông Nguyễn Văn Tấn, bà Nguyễn Thị Kim Hoa, bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, ông Nguyễn Văn Lến, ông Nguyễn Quang Minh, ông Nguyễn Anh Tuấn, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thị Ngọc Cẩm.

Các nguyên đơn là bà Mai, ông Lến, bà Lan, bà Hoa cho rằng năm 1972 cụ Lực, cụ Kía nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Tư phần đất có chiều ngang 52m, dài 60m tại số 339E, khu phổ 2, xóm Vĩnh Viễn, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, cụ Lực quản lý, sử dụng đến tháng 12/1974 thì cụ về sinh sống tại phường An Hòa, thành phố Rạch Giá và giao phần nhà đất trên cho bà Diệu cất nhà ở, quản lý, sử dụng cho đến nay. Năm 1997 khi cụ Kía chết thì cụ Lực đã mai táng cụ Kía tại đất trên; năm 2001, cụ Lực xây khu mộ cho gia đình (có hàng rào i-nốc) trên một phần đất. Năm 2004 cụ Lực chết, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Diệu trả lại cho các anh, chị, em diện tích đất trên và đồng ý để bà Diệu sử dụng diện tích đất mà bà Diệu đã xây dựng nhà và diện tích bà Diệu mua thêm (hình cánh buồm) sau này. Trong khi đó, bà Diệu cho rằng diện tích đất trên là do bà và cụ Lực nhận chuyển nhượng của bà Tư với giá 400.000đồng, trong đó bà có góp 200.000 đồng nhưng giấy viết tay chỉ đề tên cụ Lực, khi nhận chuyển nhượng không đo đạc cụ thể mà chỉ ước lượng là chiều ngang 52m, dài 60m. Khi còn sống thì cụ Lực có cắm ranh để phân chia đất theo đó phần của cụ ngang trước 23,3m, ngang sau 22,5m dài 35m, phần đất còn lại và phần đất bà mua thêm (hình cánh buồm) giáp với đất cụ Lực là của bà. Năm 1993, bà đăng ký, kê khai cả phần đất của cụ Lực nên bà chỉ đồng ý trả lại cho các nguyên đơn và những người liên quan phần đất của cụ Lực, phần còn lại bà không đồng ý trả.

Căn cứ “tờ nhượng công” ngày 7/6/1968 thì diện tích đất tranh chấp do cụ Lực nhận chuyển nhượng của bà Tư với số bạc 400.000đồng. Bà Diệu cho rằng diện tích đất tranh chấp là do bà và cụ Lực nhận chuyển nhượng chung nhưng bà không có chứng cứ chứng minh. Trong khi đó, bà Tư không thừa nhận bà Diệu cùng cụ Lực nhận chuyển nhượng đất của bà mà khẳng định chỉ chuyển nhượng cho cụ Lực. Hơn nữa, các anh, chị, em của bà Diệu (trong gia đình) không thừa nhận bà Diệu với cụ Lực nhận chuyển nhượng chung diện tích đất trên. Thực tế, sau khi nhận chuyển nhượng đất, cụ Lực trực tiếp quản lý, sử dụng đến tháng 12/1974 mới chuyển về phường An Hòa, thành phố Rạch Giá sinh sống và giao lại cho bà Diệu quản lý, sử dụng. Năm 1993, bà Diệu đăng ký kê khai toàn bộ phần đất và được Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá xác nhận diện tích bà đang quản lý, sử dụng là 2.433m2. Năm 2002, bà Diệu làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận thì cụ Lực biết và đã tranh chấp nên cho đến khi cụ Lực chết bà Diệu cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất tranh chấp là tài sản thừa kế của cụ Lực, cụ Kía để chia thừa kế, nhưng do bà Diệu có công sức nên công nhận bà Diệu được quyền sử dụng diện tích 570,26m2 (có nhà của bà Diệu và nhà của anh Thảo) và phần đất bà Diệu sang nhượng sau này diện tích 136,18m2; đồng thời công nhận các thừa kế của hai cụ được quyền sử dụng diện tích còn lại là 1.787,69m2 (trong đó có diện tích bà Diệu xây kim tĩnh cho cha mẹ chồng của bà); đồng thời buộc các nguyên đơn cùng những người liên quan bồi hoàn công sức giữ gìn, cải tạo và giá trị cây trồng trên đất cho bà Diệu 61.053.500 đồng là có căn cứ.

Tuy nhiên, trong thực tế trên phần diện tích đất mà Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Diệu giao cho các nguyên đơn có một phần nhà của bà Diệu và anh Thảo (con của bà Diệu); 04 chuồng nuôi heo có tổng diện tích 101,72m2 và chuồng nuôi vịt diện tích 156m2, các công trình kiến trúc này được xây dựng trước khi tranh chấp và gia đình bà Diệu đang sử dụng nhưng khi giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm không giải quyết về các công trình kiến trúc này là không giải quyết triệt để vụ án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyển sử dụng đất thuộc di sản thừa kế”, Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Đòi quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế” đều là chưa chính xác vì các đương sự là những người thừa kế của hai cụ tranh chấp về tài sản do cụ Lực để lại. Do đó, trường hợp này phải xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp thừa kể tài sản” mới đúng.

Thực tế, khi giải quyết vụ án Tòa án xác định bà Hồng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng bà Hồng đã chết ngày 11/02/2006 nên các con của bà là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hồng là đúng. Trong khi các con của bà Hồng là chị Phương, anh Danh, chị Hằng, anh Dự, chị Loan ủy quyền cho anh Thắng tham gia tố tụng nhưng anh Thắng lại ủy quyền lại cho bà Mai mà không được sự đồng ý của những người ủy quyền là không đúng theo quy định tại Điều 583 Bộ luật dân sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chấp nhận việc anh Thắng ủy quyền cho bà Mai là không đúng.

Bà Nguyễn Thị Kim Dinh chết ngày 9/4/2007 (sau khi xét xử sơ thẩm) nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác định bà Dinh và 08 người con của bà là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Hơn nữa, các con của bà Dinh là anh Tùng, chị Hương, anh Phong, chị Linh, chị Oanh, anh Khải, chị Khanh ủy quyền cho chị Như tham gia tố tụng nhưng chị Như lại ủy quyền lại cho bà Mai mà không có ý kiến đồng ý của những người ủy quyền cũng là không đúng theo quy định tại Điều 583 Bộ luật dân sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chấp nhận là không đúng.

Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc Hội).

QUYẾT ĐỊNH

1- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 61/2009/DSPT ngày 24/02/2009 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 07/2008/DSST ngày 05/09/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang về vụ án “Đòi quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, ông Nguyễn Văn Lến, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thi Kim Hoa với bị đơn là bà Nguyễn Thị Diệu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thái Đắc Thắng, anh Thái Đắc Tùng, anh Thái Đắc Phong, chị Thái Tuyết Linh, anh Thái Đắc Khải, chị Thái Tuyết Như, chị Thái Tuyết Oanh, chị Thái Thi Tuyết Hương, chị Thái Tuyết Khanh, ông Nguyễn Ngọc Dược, chị Nguyễn Thị Tuyết Phương, anh Nguyễn Danh, chị Nguyễn Thị Tuyết Hằng, anh Nguyễn Ngọc Dự, chị Nguyễn Thị Tuyết Loan, anh Nguyễn Ngọc Thắng, ông Nguyễn Quang Minh, ông Nguyễn Anh Tuấn, ông Nguyễn Văn Tấn, bà Nguyễn Thị Ngọc Cẩm và anh Lâm Mộc Thảo.

2- Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 46/2013/DS-GĐT ngày 23/05/2013 về vụ án dân sự đòi quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế

Số hiệu:46/2013/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/05/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về