Quyết định giám đốc thẩm 475/2014/DS-GĐT ngày 26/11/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 475/2014/DS-GĐT NGÀY 26/11/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 26/11/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do có kháng nghị số 314/2014/KN-DS ngày 03/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 135/2011/DSPT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thu Nguyệt;

Bị đơn: Cụ Phạm Thị Tư;

Đều trú tại: ấp 1, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trạm Khuyến nông huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang do ông Nguyễn Văn Thống Giám đốc đại diện.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Năm 1995 bà Lê Thu Nguyệt chuyển nhượng của bà Phạm Thị Tư một phần đất vườn, diện tích ngang 17,05m, dài 40m. Khi sang có làm giấy tay, bà Tư có gạt thập, hai người con của bà Tư là Huỳnh Ngọc Hảnh và Hồ Thị Mỹ Tiếng có ký tên.

Khi sang bán không đo đạc, sang hết thửa, sau khi sang đất đến năm 1996 bà Nguyệt đổi toàn bộ phần đất ngang 17,05m, dài 40m cho Trạm khuyến nông để lấy phần đất 680m2 của Trạm khuyến nông nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất của Trạm khuyến nông bà Nguyệt đang sử dụng làm cây xăng, do tranh chấp nên chưa hoàn tất thủ tục chuyển đổi. Bà Nguyệt yêu cầu được công nhận hợp đông chuyên nhượng và yêu câu bà Tư phải tiếp tục giao thêm chiều ngang khoảng 10m, dài khoảng 40m cho đúng giấy tờ mua bán để hoàn tất việc hoán đối với Trạm khuyến nông.

Đại diện theo ủy quyền của bị đon trình bày: Việc chuyển nhượng đất cho bà Nguyệt vào năm 1995 là có thật nhưng bà Tư chỉ sang 01 bờ đất sát vách Trạm khuyên nông ngàng 5m, dài 40m, giá 5 chỉ vàng 24k, khi sang có làm giấy tay, bà Tư lăn tay, bà Hồ Thị Mỹ Tiếng và Hồ Thị Nhạn ký tên và không thừa nhận chữ chứ ký của bà Tiếng và dấu vân tay của bà Tư trong tờ sang bán nguyên đơn cung cấp đã bị rách. Loại đất sang bán trước đây là một cái nền chuồng trâu thuộc thửa 351. Nguyên đơn cho rằng bà Tư đã bán phần đất diện tích ngang 17,05m, dài 40m là không đúng, ngoài diện tích đã bán ngang 05m, dài 40m bà Tư không bán phần đất nào khác cho bà Nguyệt. Phần đất còn lại trong thửa 315 là ngang 12,05m, dài 40m là không bán. Châp nhận họp đông sang bán với bà Nguyệt là ngang 05m, dài 40m, phần còn lại yêu cầu được ổn định.

Phần đất còn lại bà Tư đã đăng ký quyền sử dụng nhưng bà Nguyệt đã xuất trình giấy tờ bán giả mạo nên đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ do ông Nguyễn Văn Thống - Giám đốc trình bày: Việc hai bên tranh chấp ông không biết vì vào thời điểm năm 1996 ông chưa được bổ nhiệm công tác tại trạm. Sau khi nhận nhiệm vụ ông chỉ nhận bàn giao trụ sở làm việc, con người chứ không đề cấp đến việc bàn giao đất. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2010/DSST ngày 30/6/2010, Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ quyết định:

Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Lê Thu Nguyệt và bị đơn Phạm Thị Tư tiếp tục thực hiện họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 256,9m2 thửa 350 ngang trước giáp tỉnh lộ 931 là 5,8m, ngang sau giáp kênh hậu 8,5m, dài giáp trụ sở Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ là 35,8m, dài giáp thửa 351 là 36,2m.

Phần đất tranh chấp còn lại thửa 315 buộc bị đơn Phạm Thị Tư tiếp tục thực hiện họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 404,8m2 thửa 351 ngang trước giáp tỉnh lộ 391 là 10,5m, ngang sau giáp kênh hậu 11,9m, dài giáp thửa 350 là 36,2m, dài giáp Huỳnh Chí Nguyện là 36,5m.

Bị đơn có nghĩa vụ di dời cây trái, công trình liên quan trên phần đất thửa 351.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đưoưg sự.

Ngày 09/7/2010 đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm và yêu cầu giám định chữ ký trong hợp đồng.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 135/2011/DSPT ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Lê Thu Nguyệt và bị đơn Phạm Thị Tư tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 256,9m2 thửa 350 ngang trước giáp tỉnh lộ 931 là 5,8m, ngang sau giáp kênh hậu 8,5m, dài giáp trụ sở Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ là 35,8m, dài giáp thửa 351 là 36,2m.

Phần đất tranh chấp còn lại thửa 315 buộc bị đơn Phạm Thị Tư tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 404,8m2 thửa 351 ngang trước giáp tỉnh lộ 391 là 10,5m, ngang sau giáp kênh hậu 11,9m, dài giáp thửa 350 là 36,2m, dài giáp Huỳnh Chí Nguyện là 36,5m.

Bị đơn có nghĩa vụ di dời cây trái, công trình liên quan trên phần đất thửa 351.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về chi phí trưng cầu giám định và án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Hồ Thị Mỹ Tiếng (được cụ Phạm Thị Tư ủy quyền) có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 314/2014/KN-DS ngày 03/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 135/2011/DSPT ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Theo bà Lê Thu Nguyệt thì ngày 28/10/1995 (âm lịch) cụ Phạm Thị Tư cùng hai con là bà Hồ Thị Mỹ Tiếng, bà Hồ Thị Nhạn đã chuyển nhượng cho bà mảnh đất có chiều ngang giáp lộ 931 là 17,05m, chiều dài 40m tại ấp 1, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang với giá 5 chỉ vàng. Sau đó, bà dự định hoán đổi phần đất này để lấy phần đất liền kề của Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ, nhưng cụ Tư bao chiếm một phần đất của bà để trồng cây trái, làm lối đi. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nêu trên giữa bà với cụ Tư, buộc cụ Tư trả đất lấn chiếm cho bà. Cụ Tư cho rằng năm 1995 chỉ chuyển nhượng cho bà Nguyệt phần đất mương và bà đất giáp Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ có chiều ngang giáp lộ 931 khoảng 6,2m, chiều dài 40m với giá 5 chỉ vàng. Việc chuyển nhượng đất chỉ là “mua bán mão”, không đo đạc cụ thể; phần đát còn lại, cụ vẫn sử dụng, không chuyển nhượng.

Trong quá trình hòa giải tại địa phưong và giải quyết tại Tòa án, bà Nguyệt có nhiều lời khai mâu thuẫn về diện tích đất chuyển nhuợng. Cụ thể, có lúc bà Nguyệt cho rằng sang nhượng 1 cái mương, 1 cái bờ diện tích khoảng 150m2, có lúc lại khai sang nhượng thửa đất chiều ngang 6m, chiều dài 40m, diện tích 240m2; sau đó khai sang nhượng phần đất có chiều ngang 10,7m (giáp đất ông Huỳnh Chí Nguyện), không sang nhượng phần đất mương (giáp Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ), cuối cùng cho rằng đã sang nhượng toàn bộ phần đất có chiêu ngang 17,05m, chiều dài 40m. Bà Nguyệt có xuất trình một văn bản bị rách nát, hủy hoại phần lớn, chỉ còn đọc được một số nội dung: "... ngang 17m05,... 40m. Tổng diện tích là... cho Lê Thu Nguyệt kể từ ngày 29/10/1995 AL... Nguyệt được quyền sử dụng trên... này. Hôm nay tôi nhận đủ 5 chỉ vàng 24k với sự đồng ý chứng kiến của 2 con cùng chung sống... Đàng bán (có dấu lăn tay và chữ ký)”. Theo Kết luận giám định số 13/C54-P5+P3 ngày 16/02/2011 của Viện Khoa học hình sự - Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm thì các chữ “ngang 17m05... 40m” với các chữ còn lại trên giấy không phải được viết ra từ cùng một bút. Thực tê, cả bà Nguyệt và cụ Tư đêu xác định khi sang nhượng đât thì hai bên không đo đạc (mua mão). Vì vậy, có căn cứ để xác định các chữ “ngang 17m05... 40m” được ghi trên văn bản này không thể hiện ý chí của hai bên khi tham gia giao dịch. Mặt khác, cụ Tư thực tế vẫn sử dụng một phần đất có chiều ngang giáp lộ là 10,7m đế trồng cây ăn trái và làm đường đi. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại căn cứ vào các chữ ghi kích thước nêu trên để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyệt là chưa đủ căn cứ.

Về tố tụng: Tòa án các cấp xác định ông Nguyễn Văn Thống là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không chính xác mà phải xác định Trạm khuyến nông huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng theo quy định tại điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phần Quyết định của Kháng nghị có sự nhầm lẫn, cụ thể: Kháng nghị ghi... Bản án dân sự sơ thẩm số “182/2007/DSST ngày 09/11/2007” là không đúng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại là: Bản án dân sự sơ thẩm số “68/2010/DSST ngày 30/62010” của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ để qũyết định.

Vì vậy, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên là cần thiết.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

- Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 135/2011/DSPT ngàỵ 21/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 68/2010/DSST ngày 30/06/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Lê Thu Nguyệt với bị đơn là ông Nguyễn Văn Thống. 


91
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 475/2014/DS-GĐT ngày 26/11/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Số hiệu:475/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/11/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về