Quyết định giám đốc thẩm 527/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 527/2014/DS-GĐT NGÀY 18/12/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Họp phiên tòa ngày 18/12/2014 để xét xử giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2014/DS-PT ngày 25/3/ 2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về vụ án “Tranh chấp họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị, có các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Văn Muôn, sinh năm 1938 và vợ là bà Cao Thị Đê, sinh năm 1936; người giám hộ của ông Muôn là bà Nguyễn Thị Phúc Nguyên, sinh năm 1970, trú tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo Quyết định công nhận giám hộ số 02/QĐ-UBND ngày 27/11/2012. Nguyên đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Minh Tuấn, sinh năm 1966, trú tại 63 Pasteur, phường Ben Thành, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Nguyễn Cao Tấn, sinh năm 1974 và vợ là chị Dương Lệ Hằng, sinh năm 1977; ủy quyền cho anh Nguyễn Duy Lưu, sinh năm 1985, trú tại 213, đường ĐT 743, khu phố 4, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Kim Ngân, sinh năm 1993;

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng trú tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2. Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo, do ông Trần Văn Sơn và ông Đặng Văn Hùng đại diện theo ủy quyền.

3. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh huyện Phú Giáo, do ông Nguyễn Hoàng Đức đại diện theo ủy quyền.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 26/2/2010 và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Văn Muôn và bà Cao Thị Đê trình bày:

Ngày 04/7/2009, ông Muôn và bà Đê có thống nhất cho anh Nguyễn Cao Tân và chị Dương Lệ Hăng 01 căn nhà và đât thổ cư có diện tích 266m2. Việc tặng cho hai bên có ra Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo làm hợp đồng ký nhận. Nhưng do nhầm lẫn, tuổi già, ông Muôn nhiều lần bị mổ não, tinh thần không minh mẫn và ông, bà tin tưởng vào con trai của mình nên khi ra Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh làm thủ tục, ông Muôn và bà Đê đã ký vào hợp đồng tặng cho tài sản mà không kiểm tra nội dung hợp đồng. Vì vậy, vợ chồng anh Tân, chị Hăng đã lừa dôi ông bà ghi thêm vào hợp đông là ông Muôn, bà Đê tặng cho toàn bộ tài sản là 01 căn nhà trên đất thổ cư có diện tích 266m2 và toàn bộ thửa đất thuộc tờ bản đồ số 28, thửa số 101 có diện tích 60.86lm2 đất cao su mà không có sự tự nguyện của ông Muôn, bà Đê. Tháng 12/2009, ông Muôn, bà Đê có kiểm tra lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện toàn bộ tài sản trên đã bị anh Tấn, chị Hằng đứng tên. Ông Muôn, bà Đê yêu cầu anh Tấn, chị Hằng trả lại đất cao su nhưng anh Tấn, chị Hằng không trả nên ông, bà khởi kiện yêu cầu anh Tấn, chị Hằng phải trả lại toàn bộ tài sản là 01 căn nhà có trền đất thổ cư diện tích 266m2 và 60.861m2 đất cao su mà hiện nay anh Tấn, chị Hằng đang quản lý, sử dụng. Ông Muôn, bà Đê không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh Tấn, chị Hằng.

Bị đơn anh Nguyễn Cao Tấn và chị Dương Lệ Hằng trình bày:

Ngày 04/7/2009, ông Muôn, bà Đê có lên Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh huyện Phú Giáo làm hợp đồng tặng cho tài sản cho anh chị 01 căn nhà trên đất có diện tích 266m2 và 60.86lm2 đất cao su, tọa lạc tại thị trấn Phước Vĩnh huyện Phú Giáo. Ngày 16/7/2009, anh chị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ tài sản nêu trên. Do họp đồng tặng cho hoàn toàn phù hợp với pháp luật nên anh chị không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Muôn, bà Đê và yêu cầu ông Muôn, bà Đê đơn trả cho anh chị 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP008304 và AP008359 do ông bà đứng tên. Ngày 31/11/2010 anh Tấn, chị Hằng có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu ông Muôn bà Đê bồi thường 320.000.000đ thiệt hại do không được khai thác mủ cao su trong thời gian 4 tháng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Kim Ngân trình bày: Ngày 04/7/2009, chị và ông Muôn, bà Đê có đến Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh làm hợp đồng tặng cho tài sản thửa đất số 76, 101 tờ bản đồ số 2 cho cha mẹ chị là Nguyễn Cao Tấn, Dương Lệ Hằng. Sau đó, cha mẹ chị đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước yêu cầu khởi kiện của ông Muôn, bà Đê chị không có ý kiến gì và yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2010/DS-ST ngày 13/5/2010, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo đã quyết định:

1.  Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Muôn, bà Đê đối với anh Tấn, chị Hằng về việc:’Tranh chấp họp đồng tặng cho tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”.

2.  Tuyên bố họp đồng tặng cho tài sản ngày 04/7/2009 vô hiệu một phần:

- Công nhận phần tặng cho tài sản là phần đất có diện tích 266m2 (số đo đạc thực tế là 268,9m2 ) trên đất có 01 căn nhà cấp 4B và 4C, phần đất thuộc tờ bản đồ số 16, số thửa 76, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01212 giữa ông Muôn, bà Đê đối với anh Tấn, chị Hằng. Ông Muôn, bà Đê phải giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên lại cho anh Tấn, chị Hằng.

- Không công nhận phần tặng cho tài sản là thửa đất có diện tích 60.86lm2 (số đo đạc thực tế là 61.679m2 ) trên đất có 2400 cây cao su và một số cây trồng, vật kiến trúc khác trên đất đối với quyền sử dụng đất phần đất thuộc tờ bản đồ số 28, thửa số 101, quyền sử dụng đất số 01212 giữa ông Muôn, bà Đê đối với anh Tấn, chị Hằng.

- Anh Tấn, chị Hằng được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 266m2 (số đo đạc thực tế là 268.9m2 ) thuộc tờ bản đồ số 16, thửa đất số 76, quyền sử dụng đất số AP008304 tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, trên đất có 01 căn nhà cấp 4B và 4C có tứ cận như sau: đông giáp đất bà Trần Thị Biểu; tây giáp đường đất lối đi chung; nam giáp đất bà Trần Thị Biểu; bắc giáp đường nhựa. (Có sơ đồ đính kèm bản án).

- Buộc anh Tấn, chị Hằng phải có trách nhiệm giao lại toàn bộ phần đất có diện tích đất 60.861m2 (số đo đạc thực tế là 61.679m2) phần đất thuộc tờ bản đồ số 28, số thửa 101, quyền sử dụng đất số AP008359 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, trên đất có 2400 cây cao su và các cây trồng, vật kiến trúc khác gắn liền với quyền sử dụng đất cho ông Muôn và bà Đê. Phần đất có tứ cận như sau: đông giáp đường đất; tây giáp đường Bàu ao (đường nhựa); nam giáp đường đất; bắc giáp đất ông Hoàng Đồng Bằng. (Có sơ đồ đính kèm bản án).

- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo thu hồi giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc số thửa 28, tờ bản đố số 101, quyền sử dụng đất số 008359 cấp ngày 16/7/2009 cho anh Tấn, chị Hằng.

Ông Muôn và bà Đê có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quvền để thực hiện việc sang tên lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc tờ bản đồ số 28, thửa số 101, quyền sử dụng đất số AP008359 từ tên anh Tấn, chị Hằng sang tên ông Muôn và bà Đê theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 17 và ngày 20/5/2010 nguyên đơn, bị đơn kháng cáo.

Ngày 04/6/2010 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo kháng nghị bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 218/2010/DS-PT ngày 12/8/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã hủy toàn bộ Bản án dân sự sỡ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2010/DS-ST ngày 21/12/2010, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Muôn, bà Đê đối với anh Tấn, chị Hằng về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Tấn, chị Hằng đối với ông Muôn và bà Đê về yêu cầu thanh toán 320.000.000 đồng.

3. Tuyên bố họp đồng tặng cho tài sản ngày 04/7/2009 vô hiệu toàn bộ:

- Hủy hợp động tặng cho tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất lập ngày 04/7/2009 giữa ông Muôn và bà Đê với anh Tấn, chị Hằng.

- Buộc anh Tấn, chị Hằng trả lại cho ông Muôn và bà Đê các tài sản gắn với quyền sử dụng đất sau đây:

+ Phần đất có diện tích 266m2 (diện tích đo đạc thực tế là 268.9m2) trên đất có 01 căn nhà cấp 4B và 4C, thuộc thửa sổ 76 tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phổ 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có tứ cận như sau: đông giáp đất bà Trần Thị Biếu; tây giáp đường đất lối đi chung; nam giáp đất bà Trần Thị Biêu; bắc giáp đường nhựa. (Có sơ đồ kèm bản án).

+ Phần đất có diện tích 60.861m2 (diện tích đo đạc thực tế là 61.679m2) trên đất có 2.400 cây cao su và một số cây trồng, vật kiến trúc khác trên đất thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có tứ cận như sau: đông giáp đường đất; tây giáp đường Bàu ao (đường nhựa); nam giáp đường đất; bắc giáp đất ông Hoàng Đồng Bằng. (Có sơ đồ kèm bản án).

- Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thu hồi các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đây đế cấp lại cho ông Muôn và bà Đê:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP008304 cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009 đối với phần đất có diện tích 266m2 thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huvện Phú Giáo,

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP008359 cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009 đối với phần đất có diện tích 60.86lm2 thuộc thửa 28, tờ bản đồ số 101 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo.

- Ông Muôn và bà Đê có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai phần đất theo quy định của pháp luật:

+ Phần đất có diện tích 266m2 thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo,

+ Phần đất có diện tích 60.86lm2 thuộc thửa 28, tờ bản đồ số 101 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo.

4. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2010/QĐ-BPKCTT ngày 10/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, giao cho ông Muôn, bà Đê được quyền quản lý sử dụng các tài sản đã kê biên. Ông Muôn, bà Đê được nhận lại số tiền 60.000.000d là tài sản bảo đảm để áp dụng biện pháp khăn câp tạm thời đã gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí đo, định giá, giám định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23/12/2010 ông Tấn, bà Hằng có đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 108/2011/DS-PT ngày 06/5/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bĩnh Dương đã sửa Bản án dân sự sơ thẩm như sau:

1.   Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Muôn và bà Đê, buộc anh Tấn, chị Hằng thanh toán lại giá trị 2.400 cây cao su cho ông Muôn, bà Đê là 432.000.000 đồng.

2.   Không chấp nhận yêu cầu đòi lại toàn bộ diện tích đất 61.127m2 mà ông Muôn, bà Đê đã tặng cho anh Tấn, chị Hằng thuộc các Giây chứng nhận quyền sử dụng đất H05529 và H05531 do Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo đã cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009.

3. Anh Tấn, chị Hằng được quyền sử dụng diện tích đất 61.127m2 thuộc các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H05529 và H05531 được Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009 và được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất.

4. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số 01/2010/QĐ-BPKCTT ngày 10/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo. Ông Muôn, bà Đê được nhận lại 60.000.000 đồng là tài sản đảm bảo để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã gửi tại Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh huyện Phú Giáo.

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí và các chi phí tố tụng.

Ngày 25/5/2011 ông Muôn, bà Đê có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Ngày 30/11/2011 Ban chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương có kiến nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 225/2012/DS-KN ngày 18/6/2012 đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xử hủy các Bản án dân sự sơ thẩm và Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2013/DS-ST ngày 26/8/2013, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo đã quyết định:

- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Muôn, bà Đê với anh Tấn, chị Hằng số 203 quyển số OI/2009/TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giao, tỉnh Bình Dương chứng thực ngày 04/7/2009.

- Buộc anh Tấn, chị Hằng trả lại cho ông Muôn và bà Đê các tài sản sau đây:

+ Phần đất có diện tích 266m2 (diện tích đo đạc thực tế là 268,9m2) trên đất có 01 căn nhà cấp 4B va 4C, thuộc thửa số 76 tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dưong có tứ cận như sau: đông giáp đất bà Trần Thị Biểu, tây giáp đường đất lối đi chung; nam giáp đât bà Trân Thị Biêu; băc giáp đường nhựa. (Có sơ đồ kèm bản án).

+ Phần đất có diện tích 60.861m2 (diện tích đo đạc thực tế là 61.679m2) trên đất có 2.411 cây cao su; 01 căn nhà cấp 4C diện tích 96,47m2, kết cấu mái tôn, cột gạch, nên xi măng, tường xây gạch có tô xi măng; 01 mái che khung sắt, mái tôn diện tích 30,55m2;  Hàng rào lưới B40 kiên cố, diện tích 1.072m2; 01 giếng đào, 01 máy bơm nước; 01 nhà tắm diện tích 2,4m2, kết cấu tường xây gạch, nền gạch tàu, mái tôn; 03 ngôi mộ mang tên Nguyễn Thị Hồng Vân, Đỗ Thị Tuyền, Nguyễn Thị Thiên thuộc tờ bản đồ số 101, tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có tứ cận như sau: đông giáp thửa sô 97 và đường giao thông nông thôn; tây giáp thửa số 97, 100 và 124; nam giáp đường Bàu ao, bắc giáp đường giao thông nông thôn. (Có sơ đồ kèm bản án).

- Hủy Quyết định số 1614/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 và Quyết định số 1615/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP008304 cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009 đối với phần đất có diện tích 266m2 thuộc thửa số 76 tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP008359 cấp cho anh Tấn, chị Hằng ngày 16/7/2009 đối với phần đất có diện tích 60.861m2 thuộc thửa 28 tờ bản đồ số 101 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Ông Muôn và bà Đê có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai phần đất theo quy định của pháp luật:

+ Phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 268,9m2 thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

+ Phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 61.679,8m2 thuộc thửa 28, tờ bản đô số 101 tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định 01/2013/QĐ-BPKCTT ngày 17/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho đến khi án có hiệu lực pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền thực hiện biện pháp bảo đảm óO.OOO.OOOđồng và tiền lãi phát sinh (nếu có) đã nộp tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Phú Giáo theo sổ tiền gửi số AT 0070491, xác nhận ngày 17/5/2013 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Phú Giáo.

Ngày 29/8/2013 anh Tấn, chị Hằng kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2014/DS-PT ngày 25/3/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã sửa Bản án sơ thẩm như sau:

- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của anh Tấn, chị Hằng về việc yêu cầu ông Muôn và bà Đê thanh toán 320.000.000 đồng khai thác mủ cao su.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Muôn bà Đê đối với anh Tấn, chị Hằng về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất xác lập ngày 04/7/2009.

Ghi nhận ý kiến của anh Tấn, chị Hằng về việc ông Muôn, bà Đê tiếp tục quản lý, sử dụng, khai thác lợi ích đối với 02 thửa đất số 76, diện tích 266m2 và số 101, diện tích 60.861m2 tại thị trấn Phước Vĩnh, huỵện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (theo 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 008304 và AP 008359 cấp cùng ngày 16/7/2009 cho anh Tấn, chị Hằng) cho đến hết đời ông Muôn, bà Đê.

Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2013/QĐ- BPKCTT ngày 17/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Trả cho ông Muôn, bà Đê số tiền tạm ứng thực hiện biện pháp bảo đảm 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh (nếu có) đã nộp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát trien nông thôn chi nhánh huyện Phú Giáo theo sổ tiền gửi số AT 0070491 (theo xác nhận ngày 17/5/2013 cua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh huyện Phú Giáo).

Ông Muôn, bà Đê có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Kháng nghị số 85/2014/KN-DS ngày 06/11/2014 đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2014/DSPT ngày 25/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2013/DS-ST ngày 26/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kháng nghị của Viện truởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của Kiểm sát viên và sau khi thảo luận,

XÉT THẤY

Diện tích đất tranh chấp 266 m2 đất thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 16 và diện tích 60.861m2 thửa số 101, tờ bản đồ số 28 đều toạ lạc tại thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo có nguồn gốc của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Muôn được Ủy ban nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Sông Bé (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 11/62 ngày 21/9/1990, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01212 ngày 23/9/2004 cho hộ gia đình ông Muôn. Ngày 04/7/2009, ông Muôn, bà Đê và cháu Nguyễn Kim Ngân (cháu ruột ông Muôn, bà Đê và là con của anh Tấn, chị Hằng) ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 203 với nội dung cho vợ chồng con trai và con dâu là anh Nguyễn Cao Tấn và chị Dương Lệ Hằng hai thửa đất 76 và 101 với tổng diên tích 61.127m2, hợp đồng tặng cho này có xác nhận của ông Huỳnh Minh Tân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó anh Tấn, chị Hằng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai phần đất này (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 008304 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 008359 ngày 16/7/2009). Khi ông Muôn, bà Đê phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất cao su 60.861m2 đã đứng tên vợ chồng anh Tấn, chị Hằng thì phát sinh tranh chấp. Ông Muôn, bà Đê xác định chỉ cho anh Tấn, chị Hằng phần nhà và đất 266m2 thửa 76, mà không cho phần diện tích đất cao su 60.861 m2; ông bà bị lừa dối đã ký tên trong Hợp đồng tặng cho. Ông Muôn, bà Đê khởi kiện ông Tấn bà Hằng đòi lại diện tích đất 60.861m2 đất cao su.

Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/7/2009 và các tài liệu kèm theo hợp đồng để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, thấy:

Đổi tượng tặng cho quyền sử dụng đất ghi trong Hợp đồng là không rõ ràng. Tuy ghi 02 thửa đất là thửa số 76, tờ bản đồ số 16 và thửa số 101 tờ bản đồ số 28, khu phố 1 và khu phố 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01212 cấp ngày 23/9/2004 đứng tên ông Nguyễn Muôn. Diện tích cả hai thửa đất là 61.127m2. Nhưng ở mục “Sử dụng riêng, sử dụng chung” của hợp đồng lại ghi “Sử dụng chung 61.127m2”. Với nội dung như nêu trên thì chưa có đủ căn cứ xác định ông Muôn, bà Đê cho riêng anh Tấn, chị Hằng các thửa đất nêu trên, mà vẫn là sử dụng chung.

Về trình tự thủ tục: Cùng ngày lập Hop đồng tặng cho quyền sử dụng đất 04/7/2009, Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh lập “Sơ đồ phát họa mốc ranh giới sử dụng đất”, ông Muôn và anh Tấn ký tên ở các mục “Bên chuyển nhượng” và “Bên nhận chuyển nhượng”, theo bản sơ đồ này thì chỉ chuyển nhượng thửa số 76, không có thửa số 101. Theo xác nhận của ông Phạm Văn Phồi, là cán bộ tư pháp thị trấn Phước Vĩnh thì trong hồ sơ chứng thực lưu tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Vĩnh không có sơ đồ phác họa phần đất 60.861 m2. Mặt khác, ngày 04/7/2009 các bên mới lập Họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng trước đó vào ngày 02/7/2009 anh Tấn đã lập “Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất”; ông Muôn đã lập “Đơn xin đăng ký biến động về sử dụng đất” và “Tờ khai thuế thu nhập cá nhân” là mâu thuẫn về thời gian. Tại các bản kê khai này đều ghi diện tích cha mẹ cho con 2 thửa đất diện tích 60.127m2, nhưng ngày 10/7/2009, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phú Giáo chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính đến Chi cục thuế huyện Phú Giáo chỉ đối với diện tích 266 m2 thuộc thửa số 76 mà không có thửa số 101. Như vậy, tuy ông Muôn, bà Đê ký Hợp đồng tặng cho anh Tấn, chị Hằng 02 thửa đất, nhưng Ủy ban nhân dân thị trấn chỉ lập và ông Muôn chỉ ký sơ đồ chuyển quyền sử dụng đất thửa số 76 mà không ký sơ đồ chuyển quyền sử dụng đất thửa số 101 nên không có căn cứ xác định có việc chuyển quyền sử dụng thửa đất trồng cao su số 101 diện tích đất 60.861 m2 giữa vợ chồng ông Muôn, bà Đê cho vợ chồng anh Tấn, chị Hằng. Do đó, ông Muôn, bà Đê cho rằng ông bà chỉ tặng cho anh Tấn, chị Hằng thửa đất số 76 mà không cho thửa đất số 101 (60.861m2 đất) là có cơ sở chấp nhận.

Thực tế, Theo “Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ” do Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 15/4/2010 thì trên thửa đất số 76 còn có 02 căn nhà cấp 4B và 4C; trên thửa đất số 101 có 2.400 cây cao su trồng năm 2008, 01 căn nhà cấp 4C (mái tôn, tường gạch, nên xi măng), 90 bụi tầm vông trồng năm 2002 và 44 cây tràm trồng năm 2007. Các tài sản trên 02 thửa đất này đều là tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Muôn, bà Đê nhưng không được ghi trong Hợp đồng tặng cho và các bên cũng không có phụ lục hợp đồng thỏa thuận về các tài sản này; do các bên có tranh chấp về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nhưng lại không tặng cho những tài sản gắn liền với đất và cũng không có thỏa thuận về tài sản này nên hợp đồng bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 411 Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu là có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Tuy nhiên, do ý chí ban đầu của ông Muôn bà Đê đồng ý cho anh Tấn, chị Hằng 268,9m2 thuộc thửa sổ 76, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên xét thấy cần thiết phải hủy cả Bản án dân sự sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án, nếu ông Muôn vẫn đồng ý cho anh Tấn, chị Hằng nhà đất nêu trên thì công nhận tự nguyện của ông Muôn, bà Đê.

Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh huyện Phú Giáo có đơn yêu cầu Tòa án buộc anh Tấn, chị Hằng thanh toán khoản nợ vay là 3.200.000.000đ (theo hợp đồng vay ngày 10/01/2013, tài sản thế chấp là 60.861m2 đất tranh chấp), Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đến yêu cầu của ngân hàng mà lại ghi nhận ý kiến của anh Tấn, chị Hằng về việc chấp thuận cho ông Muôn, bà Đê được tiếp tục quản lý, khai thác lợi ích đối với 02 thửa đất tranh chấp nêu trên cho đến hết đời mà không xét họp đồng thế chấp tài sản nêu trên là không đúng và không đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng và chưa giải quyết triệt để vụ án.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có căn cứ.

Vì các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 1 Điều 296, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng nghị số 85/2014/KN-DS ngày 06/11/2014 của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao.

Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2014/DSPT ngày 25/03/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2013/DS-ST ngày 26/08/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về vụ án “Tranh chấp họp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Muôn, bà Nguyễn Thị Đê với bị đơn là anh Nguyễn Cao Tấn, chị Dương Lệ Hằng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.


168
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 527/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Số hiệu:527/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/01/1901
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về