Quyết định giám đốc thẩm 530/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 530/2014/DS-GĐT NGÀY 18/12/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP RANH GIỚI GIỮA CÁC BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ 

Họp phiên tòa ngày 18/12/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” do có kháng nghị số 358/2014/KN-DS ngày 22/9/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 173/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố cần Thơ, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Lê Quang Giàu, sinh năm 1976; trú tại: số 407, ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố cần Thơ.

2. Anh Lê Quang Sang, sinh năm 1983; trú tại: số 407, ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố cần Thơ.                                  

Anh Lê Quang Sang ủy quyền cho anh Lê Quang Giàu tham gia tố tụhg.

Bị đơn: Lê Kháng, sinh năm 1931; trú tại: số 406, ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố cần Thơ.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2009 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là anh Lê Quang Giàu và anh Lê Quang Sang trình bày:

Các anh được thừa kế theo pháp luật từ cha mẹ các anh là ông Lê Bích Quân (chết năm 2005) và bà Nguyễn Tuyết Mai (chết năm 1994) diện tích đất thuộc 2 thửa 902, 907 đã được cấp GCNQSDĐ ngày 4/11/1996, tọa lạc tại ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, thành phố cần Thơ. Ông Kháng (bác ruột) có diện tích đất liền kề thuộc, thửa số 906 đã lấn chiếm đất của các anh, cụ thể: ông Kháng lấn sang thửa 907 của các anh chiều ngang 0,3m, chiều dài 35m, diện tích 10m2; ông Kháng lấn sang thửa 902 của các anh chiều dài 4m, chiều ngang 9m, diện tích 36m2. Nay các anh yêu cầu ông Kháng trả lại phần đất đã lấn chiếm cho hai anh.

Tại đơn phản tố ngày 13/4/2010 và quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Lê Kháng trình bày: Năm 1978, sau khi tập kết ra Bắc về, ông được cha mẹ ông là cụ Phan Thị Phanh (chết năm 2000) chia cho đất để sinh sống và làm ăn. Năm 1995 ông làm đơn xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 4/9/1996 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 906, tờ bản đồ số 2, diện tích 345rn2. Năm 1998 ông xây dựng nhà kiên cố trên đất đó, lúc này em trai ông là Lê Bích Quân và mẹ ông đều còn sổng và không có ý kiến gì. Diện tích đất tranh chấp mà anh Giàu cho rằng ông đã lấn chiếm thì ông đã sử dụng từ lâu, trên 20 năm nên yêu cầu công nhận diện tích này thuộc quyền sở hữu của ông.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 79/2010/DSST ngày 30/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền quyết định:

- Chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn Lê Quang Giàu.

- Chấp nhận một phần phản tố của bị đơn Lê Kháng.

- Phần đất tranh chấp 10m2, ông Kháng được sử dụng diện tích 345,482m2.

- Công nhận 40m2 cho ông Lê Kháng. Buộc ông Lê Kháng thanh toán giá trị phần đất cho ông Sang là 5.040.000đ.

Ngoài ra Tòa án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đon, bị đơn đều kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm sổ 173/2011/DSPT ngày 27/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố cần Thơ quyết định: Sủa bản án sơ thẩm.

Buộc bị đơn có trách nhiệm di dời, nếu không di dời được thì đập vỡ hai ô “kim tỉnh” do bị đơn xây dựng trái phép trên phần đất của nguyên đơn, diện tích 40m2 tại thửa 902 tờ bản đồ số 2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000335/QSDĐ ngày 04/11/1996 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, cần Thơ( cũ) để trả lại đất cho nguyên đơn. số đo các cạnh và diện tích được thể hiện cụ thể trong hồ sơ trích đo địa chính số: 326/10/VP.ĐK.QSDĐ ngày 10/3/2010 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phong Điền, thành phố cần Thơ; (BL46).

Phần diện tích tranh chấp 10m2 tại giáp ranh giữa thửa 907 của nguyên đơn với thửa 906 của bị đon, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trả lại cho bị đon 5m2, nguyên đơn sử dụng 5m2, nên bị đơn được sử dụng cụ thể.

Từ lộ 923 nhìn vào đất (thửa 906,907 của bị đơn và nguyên đơn) từ bến phải đo qua trái, từ đất ông Cao Văn Bền đo qua, có chiều rộng 9,1m, chiều rộng phía sau 9,70m; chiều dài từ lề lộ 923 đo vào phía giáp với đất ông Bền là: 37m, chiều dài từ lề lộ đo vào giáp thửa 907 của nguyên đơn là: 36,50m. Tổng diện tích 345,82m2.

Phần còn lại 5m2 (trong 10m2 tranh chấp) nêu trên là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn trong thửa 907. Vị trí kích thước cụ thể trong trích đo địa chính số 326/2010/VP.ĐK.QSDĐ ngày 10/3/2010 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn, bị đơn tự liên hệ với cơ quan chức năng để xin điều chỉnh lại diện tích cho phù hợp thực tế.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thấm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thấm, ông Lê Kháng có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thấm đối với bản án phúc thấm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 358/2014/KNDS ngày 22/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 173/2011/DSPT ngày 27/9/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ; đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thấm, hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên đế xét xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa giám đốc thấm, đại diện Viện kiếm sát nhân dân tôi cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Các đương sự cùng thống nhất nguồn gốc đất của gia đình nguyên đơn và bị đon đều của cụ Phan Thị Thanh (chết năm 2000) để lại cho các con là ông Kháng và ông Quân (cha của các nguyên đơn, chết năm 2005). Anh Giàu, anh Sang được thừa kế từ ông Quân thửa đất số 902, 903 và 907 giáp với thửa đất 906 của ông Kháng. Anh Giàu, anh Sang cho rằng do thửa 906 của ông Kháng đều giáp với thửa 902, 903 và 907 của các anh nên ông Kháng đã lấn chiếm sang thửa 907 là 5m2, lấn sang thửa 902, 903 là 40m2. Sau đó, các đương sự đã thống nhất không tranh chấp 5m2 giữa thửa 906 và 907 chỉ còn tranh chấp phần đất 40m2 giữa thửa 902, 903 và 907 mà ông Kháng đã xây 2 ô kim tỉnh từ năm 2006.

Ông Kháng cho rằng diện tích đất này ông đã sử dụng từ năm 1978 khi đó cụ Thanh và ông Quân còn sống không phản đối, tranh chấp gì. Trước đây, diện tích đất tranh chấp ông xây dựng chuồng heo, phía ngoài chuồng heo của ông là mương nước, nhưng hiện nay anh Giàu đã lấp mương; ranh đất của ông và ông Quân còn có 2 cây dừa 01 cây của cụ Thanh trồng, 01 cây của vợ ông Quân trồng, và ông đã rào kẽm gai, phía trong là đất của ông, phía ngoài là đất của ông Quân.

Tại phiên tòa sơ thẩm anh Giàu thừa nhận trên đất tranh chấp có 2 cây dừa, từ khi ông Kháng đi tập kết ở miền Bắc về thì ông Kháng có hái trái, Khi Tòa án cấp sơ thấm thấm định tại chỗ, chỉ vẽ phần đất tranh chấp không định vị 2 cây dừa nằm ở vị trí nào. Bản định giá xác định có 3 cây dừa, biên bản kiểm kê cây trồng trên đất có ghi 3 cây dừa, của ông Kháng 2 cây, anh Giàu 1 cây. Ông Kháng có chụp ảnh phần đất tranh chấp thế hiện có 02 ô kim tỉnh (phần mộ xây sẵn) và cây dừa nằm ngoài kim tỉnh. Neu đúng cây dừa nằm ngoài kim tỉnh và ông Kháng thu hái quả từ sau giải phóng đến nay thì phần đất phía trong đang có tranh chấp có kim tỉnh phải thuộc quyền sử dụng của ông Kháng vì ông Kháng đã sử dụng trên 30 năm.

Thửa đất 907 của ông Quân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 350m2, đo thực tế là 554m2; thửa 906 của ông Kháng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 345m2, đo thực tế là 340m2. Như vậy, thửa đất của ông Kháng thiếu 5 m2, còn đất của ông Quân thừa 204m2. Thửa số 902,903 của ông Quân đã bị thu hồi nhiều lần nhưng chưa rõ thu hồi từng thửa diện tích cụ thể là bao nhiêu. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa làm rõ có phải trên nền kim tỉnh trước đây là chuồng heo của ông Kháng không, chưa làm rõ trên đất giáp ranh có 2 cây dừa và hàng rào kẽm gai của ông Kháng hay không, đế xem ai là người sử dụng đất tranh chấp từ sau năm 1975 đến nay; chưa thu thập chứng cứ về quá trình cap giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Quân và ông Kháng có đo đạc thực tế đất của hai bên hay không là chưa đủ cơ sở, nhưng đã xác định dất tranh chấp là của anh Giàu, buộc ông Kháng dỡ bỏ kim tỉnh trả lại đất là không đúng.

Do đó kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy cả bản án dân sự sơ thấm và dân sự phúc thâm là có căn cứ châp nhận.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 2 điều 291, khoản 3 điều 297, điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 173/2011/DSPT ngày 27/09/2011 của Tòa án nhân dân thành phố cần Thơ và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 79/2010/DSST ngày 30/09/2010 của TAND huyện Phong Điền, thành phố cần Thơ về vụ án “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” giữa nguyên đơn là anh Lê Quang Giàu, anh Lê Quang Sang với bị đơn là ông Lê Kháng.


116
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 530/2014/DS-GĐT ngày 18/12/2014 về vụ án tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề

Số hiệu:530/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/12/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về