Quyết định giám đốc thẩm 57/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án ly hôn

TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 57/2014/DS-GĐT NGÀY 24/02/2014 VỀ VỤ ÁN LY HÔN

Họp phiên tòa ngày 24/2/2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm vụ án “Ly hôn” giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thuý An, sinh năm 1971; trú tại: số 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch, quận cầu Giấy, thành phổ Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1959; trú tại: số 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch, quận cầu Giấy, thành phổ Hà Nội Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phạm Thị Thống, sinh năm 1959; trú tại: số 7 xóm Giữa, cụm Trạm, tổ 15, phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

2. Anh Nguyễn Viết Biên, sinh năm 1976;

3. Chị Lưu Thị Phong Lan, sinh năm 1979 (vợ anh Biên);

Cùng trú tại: số 2 xóm Giữa, cụm Trạm, tổ 15, phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

4. Anh Nguyễn Minh Thành, sinh năm 1971;

5. Chị Lê Thị Huế, sinh năm 1976 (vợ anh Thành);

Cùng trú tại: Thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

6. Viện di truyền Nông nghiệp - Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam - Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn .

Địa chỉ: Xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Nguyên đơn chị Nguyễn Thúy An trình bày: Chị và anh Đồng kết hôn ngày 6/9/1994 tại Uỷ ban nhân dân phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2006 thì nảy sinh mấu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hoà hợp về tính cách, bất đồng quan diêm sông, không thông nhât trong kinh tế gia đình, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, hai bên sông ly thân từ năm 2007; nay chị xin ly hôn.

Về con chung: Có 2 con chung là cháu Nguyễn Phương Nhi, sinh ngày 2/11/1994 và cháu Nguyễn Tiến Đạt, sinh ngày 22/1/2001. Chị đề nghị được nuôi 2 cháu và yêu câu anh Đông câp dưỡng nuôi con 3000.000đ/tháng.

Tài sản chung: Vợ chồng có hai khối tài sản là căn nhà 4,5 tầng trên diện tích 50,1m2 đât tại sô 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã được cấp giấy chứng nhận, chị và anh Đồng đứng tên; 01 nhà câp 4 xây năm 1986 trên đât trước công Viện di truyên nông nghiệp tại thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, chị đề nghị tự giải quyết, nếu anh Đồng không đồng ý thì chị đề nghị chia đôi nhà đất tại số 11 đường Nguyễn Khả Trạc và nhà cấp 4 tại cổ Nhuế, chị đề nghị được nhận hiện vật.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Đồng trình bày: Anh thống nhất như chị An trình bày về thời gian kết hôn, con chung; ly hôn anh đề nghị được nuôi con, không yêu cầu chị An cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Vợ chồng có 1 căn nhà 4,5 tầng trên diện tích 50, lm2 đất tại sổ 11 đường Nguyễn Khả Trạc và 1 nhà cấp 4 trên diện tích khoảng 50m2 đất tại số 2 xóm Giữa, cụm Trạm, tổ 15 phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; nguồn gốc mua năm 2004 khi đó anh và chị An ở nước ngoài có chuyển về tài khoản của anh Nguyễn Viết Biên (em chị An) 45.000 USD qui đổi là 675.000.000đ để nhờ anh Biên mua nhà đất, anh Biên đã mua nhà đất nêu trên hết 350.000.000đ còn lại 325.000.000đ, anh đề nghị anh Biên trả lại 325.000.000đ và nhà đất nêu trên.

Đối với căn nhà cấp 4 xây năm 1986 trên đất mượn của Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6 xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm không phải là tài sản chung, nhà cấp 4 xây trên đất mượn của Viện di truyền nông nghiệp là của em anh tên là Nguyễn Minh Thành, Thành bỏ tiền ra xây dựng; sau khi Thành đi bộ đội thì anh ở nhà này và đến năm 1994 anh kết hôn với chị An, quá trình ở anh, chị có sửa chữa lát nền, làm trần nhựa và xây cao tường bếp, đến năm 2006 khi mua được nhà đất mới tại số 11 đường Nguyễn Khả Trạc thì anh chị trả lại nhà cho anh Thành.

Người có quyền lợi liên quan trình bày:

Viện di truyền Nông nghiệp (ông Khoa đại diện) trình bày: Nguồn gốc lô đât số 2 từ đường Phạm Văn Đồng vào thuộc thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm nằm ngoài tường rào của Viện di truyền nông nghiệp, đất này do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội tạm giao cho viện quản lý, không được phép xây dựng. Năm 1986 Viện cho anh Đồng mượn khoảng 50m2 đất, việc cho mượn không có giấy tờ sau đó anh Đồng tự ý xây nhà cấp 4 trên đất để ở như hiện nay, việc anh Đồng xây dựng là không được phép, khi Viện có thông báo thu hồi đất thì anh Đồng phải trả lại đất đã mượn và không được bồi hoàn về việc xây dựng trên đất.Anh Thành trình bày: Năm 1986 anh bỏ tiền ra xây nhà cấp 4 gồm 2 gian ở và 1 gian bếp trên đất anh Đồng mượn của Viện di truyền, năm 1991 anh đi bộ đội anh Đồng ở nhà này đến năm 1994 thì anh Đông kêt hôn với chị An. Quá trình ở anh Đồng, chị An có lát lại nền nhà, làm trần nhựa, đảo ngói, sửa bếp, nhà vệ sinh đến năm 2006 anh Đồng chị An chuyến về nhà mới tại c 13 tập the thời báo kinh tế và trả lại nhà cho anh, đến tháng 4/2010 do nhà xuống cấp nên anh đã cải tạo sửa chữa lại toàn bộ chi phí khoảng trên 100.000.000d; phần anh Đồng chị An sửa chữa đã lâu xuống cấp không sử dụng được anh đã dỡ bỏ hiện không còn. Nay anh Đồng chị An ly hôn nếu anh, chị yêu cầu thanh toán phần sửa chữa trước đó thì anh đồng ý trả 2000.000đ vì nhà là tài sản của anh.

Anh Biên trình bày: Năm 2002-2003 chị An, anh Đồng vay của anh 30.000 USD để mua đất và làm thủ tục đi Nhật Bản, trong thời gian đi Nhật Bản chị An, anh Đồng nhờ anh mở tài khoản Ngân hàng để gửi về 45.000USD trong đó trả nợ anh 30.000USD, số tiền còn lại 15.000USD nhờ anh thanh toán tiền xây nhà C13, tiền sang tên sổ đỏ, tiền chi phí chuyến nhượng và uỷ quyền cho anh đứng ra ký hợp đồng mua bán sang tên sổ đỏ nhà đất tại c 13 tập thể thời báo kinh tế đứng tên chị An, anh Đồng như hiện nay; anh đã làm đúng theo yêu cầu của chị An, anh Đồng và ghi lại toàn bộ các khoản chi phí nộp tiền liên quan đến việc xây nhà C13 tập thể thời báo kinh tế vào quyển vở học sinh. Cuối năm 2004 khi chị An, anh Đồng về nước anh đã bàn giao lại toàn bộ giấy tờ quyết toán đầy đủ cho chị An, anh Đồng, vì chị An, anh Đồng không thắc mắc nên anh không lưu lại bất cứ giấy tờ gì. Cuối năm 2005-2006 anh Đồng đi nhật bản khi đó nhà C13 tập thể thời báo kinh tế đang hoàn thiện dở, anh và chị An ở nhà tiếp tục hoàn thiện nhà. Đối với nhà đất tại số 2 xóm giữa, cum Trạm tổ 15 phường Long Biên, quận Long Biên là tài sản của anh và vợ là Lưu Thị Phong Lan mua của bà Phạm Thị Thống năm 2004 với giá 13.000.000đ/m2, diện tích đất khoảng 50m2, khi mua bán có giấy tờ viết tay sau đó vợ chồng anh làm nhà cấp 4 và ở từ đó đến nay. Nhà đất này là của vợ chồng anh không phải là tài sản của anh Đồng, chị An nên anh không đồng ý với yêu cầu của anh Đồng và anh không vay nợ gì anh Đồng, chị An.

Bà Thống trình bày: Tôi có mảnh đất thổ cư diện tích 506m2 tại số 7 xóm Giữa, Cụm Trạm tổ 15, phường Long Biên đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/6/2005. Ngày 14/11/2004 tôi viết giấy nhượng lại một phần thửa đất nêu trên diện tích là 47m2 cho anh Biên, chị Lan với giá 7500.000đ/m2 tôi đã nhận đủ tiền và bàn giao đất cho anh Biên, chị Lan, anh Biên, chị Lan đã xây nhà; việc mua bán chỉ có gia đình tôi với anh Biên, chị Lan.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 11/2009/DSST ngày 29/7/2009 của Toà án nhân dân quận cầu giấy thành phổ Hà Nội quyết định:

Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thuý An và anh Nguyễn Văn Đồng.

Về con chung: Chị An anh Đồng có hai con chung là Nguyễn Phương Nhi, sinh ngày 2/11/1994 và Nguyễn Tiến Đạt sinh ngày 22/1/2001.

Giao cháu Nguyễn Phương Nhi cho chị An trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Tiến Đạt cho anh Đồng trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đồng và chị An cho đến khi các bên có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ, thăm nom con.

Về tài sản chung, nhà ở và số tiền còn lại của 45.000USD theo ý kiến của anh Đồng giành giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các đương sự có tranh chấp và khởi kiện; sau ly hôn các bên tự lo chỗ ở.

Ngoài ra Toà án còn tuyên án phí, các chi phí khác và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 5/8/2009 anh Đồng có đơn kháng cáo đề nghị chia tài sản chung vợ chồng theo qui định pháp luật.

Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 133/2009/HNGĐ-PT ngày 23/9/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Huỷ Bản án số 11/2009/DSST ngày 29/7/2009 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Chuyển hồ sơ vụ kiện hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thuý An với bị đơn anh Nguyễn Văn Đồng cho Toà án nhân dân quận cầu Giấy giải quyết sơ thấm theo thủ tục chung.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2010/HNGĐ ngày 28/12/2010 của Tòa án nhân dân quận cầu Giấy thành phố Hà Nội quyết định:

Công nhận sự thoả thuận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thuý An và anh Nguyễn Văn Đồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương Nhi sinh ngày 2/1/1994 cho chị An nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Tiến Đạt sinh ngày 22/1/2001 cho anh Đông nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con, không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ chăm sóc con chung.

Về tài sản: Đối với động sản là các đồ dùng sinh hoạt chị An và anh Đồng tự giải quyết với nhau, cùng không yêu cầu toà án xem xét giải quyết.

Về bất động sản: Xác định căn nhà bê tông 4,5 tầng có diện tích xây dựng 259,65m2 giá trị thành tiền 1.010.901.343đ trên diện tích 50,lm2 giá trị quyền sử dụng đất tính thành tiền là 3.006.000.000đ tổng giá trị nhà đất tính thành tiền là 4.016.901.343đ toạ lạc tại C13 tập thể thời báo kinh tế nay là số 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51, phường Mai Dịch, quận cầu Giấy thành phố Hà Nội là tài sản chung của anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thuý An. Chia giá trị tài sản chung của anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thuý An. Chia giá trị bằng tiền mỗi bên anh Đồng và chị An được hưởng 1/2 là 2.008.450.672đ. chia bằng hiện vật như sau:

Chia cho anh Đồng sở hữu, sử dụng phòng khách tầng 1 (16,97m2), 3 phòng ngủ tầng 2,3,4 (mỗi phòng diện tích 20,35m2), từ phòng khách tầng 1 thẳng lên phần vật liệu xây dựng là gạch lát sân, cống sắt, hoa sắt tường rào, phần cầu thang lên xuống trong nhà, nhà vệ sinh, toàn bộ tầng 5 sử dụng chung. Anh đồng đi lối đi phía trước ra đường Nguyễn Khả Trạc.

Giá trị quyền sử dụng đất và vật liệu xây dựng anh Đồng được hưởng tính thành tiền là 2.077.466.158đ. Anh Đồng tạm sử dụng phần đất lưu không trên đã lát sân có diện tích 10,83m2 phía trước nhà đất C13 tập thể thời báo kinh tế nay là số 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch, quận cầu Giấy thành phố Hà Nội. cho đến khi có quyết định mới của cơ quan nhà nước có thấm quyền.

Chia cho chị An sử dụng phòng bếp tầng 1 (diện tích 15,72m2) 3 phòng ngủ tầng 2,3,4 mỗi phòng có diện tích 15,72m2, từ phòng bếp tầng 1 thẳng lên, phần cầu thang lên xuống trong nhà, nhà vệ sinh, toàn bộ tầng 5sử dụng chung. Chị An đi lối đi phía sau ra sân nhà ra khu tập thể thời báo kinh tế.

Giá trị quyền sử dụng đất và vật liệu xây dựng chị An được hưởng tính thành tiền là 1.939.435.187đ.

Xác định phần vật liệu xây dựng của nhà cấp 4 trước cống Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội có giá trị tính thành tiền là 86.250.665đ là tài sản chung của anh Nguyễn Văn Đồng, chị Nguyễn Thuý An và anh Nguyễn Minh Thành. Chia giá trị bằng tiền mỗi bên anh Đồng, chị An, anh Thành được hưởng bằng 1/3 là 28.750.222đ. Chia bằng hiện vật như sau:

Chia cho anh Đồng sở hữu, sử dụng toàn bộ vật liệu xây dựng của nhà cấp 4 trước cổng Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội có giá trị tính thành tiền là 86.250.665đ anh Đồng có trách nhiệm thanh toán trả cho chị An 28.750.222đ và thanh toán trả cho anh Thành 28.750.222đ tiền giá trị vật liệu xây dựng của nhà cấp 4 nêu trên.

Anh Đồng tạm sử dụng phần diện tích 66,46m2 đất lưu không tại địa chỉ nêu trên cho đến khi có quyết định mới của cơ quan nhà nước có thấm quyền.

Xác định nhà cấp 4 trên diện tích 47m2 giá trị thành tiền là 1.208.909.080đ toạ lạc tại số 2 xóm giữa, Cụm Trạm, tổ 15, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội và số tiền 110.036.OOOđ anh Biên có trách nhiệm phải thanh toán trả lại là tài sản chung của anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thuý An tổng giá trị tính thành tiền là 1.319.745.080đ. Xét trích một phần công sức cho anh Biên đối với nhà đất trên có giá trị tính thành tiền là 208.909.080d. Chia giá trị bằng tiền như sau: Chia cho anh Đồng và chị An mỗi bên được hưởng 1/2 giá trị nhà đất bằng tiền là 500.000.000d. Chia cho anh Nguyễn Viết Biên phần công sức đối với nhà đất trên là 208.909.080d được khấu trừ vào phần 110.836.000d anh Biên phải thanh toán trả lại cho chị An và anh Đồng. Như vậy anh Nguyễn Viết Biên được hưởng phần công sức có giá trị tính thành tiền là 98.073.080đ do anh Đồng và chị An có trách nhiệm thanh toán. Chia bằng hiện vật như sau:

Chia cho chị Nguyễn Thuý An sở hữu sử dụng toàn bộ nhà cấp 4 trên diện tích 47m2 giá trị thành tiền là 1.208.909.080đ toạ lạc tại số 2 xóm giữa, Cụm Trạm, tổ 15, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

Chị An có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Nguyễn Văn Đồng 500.000.000d tiền giá trị tài sản nhà đất nêu trên.

Anh Nguyễn Viết Biên và vợ là chị Lưu Thị Phong Lan có trách nhiệm trả lại toàn bộ nhà đất nêu trên cho anh Đồng và chị An, anh Nguyễn Viết Biên vàchị Lưu Thị Phong Lan có quyền lưu cư tại nhà đất nêu trên trong thời hạn 6 tháng kế từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật để lo chỗ ở mới.

Anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thuý An có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Nguyễn Viết Biên 98.073.080đ phần công sức đối với nhà đất trên, kỷ phần mỗi bên anh Đồng và chị An phải thanh toán trả cho anh Biên là 49.036.540đ.

Chị An, anh Đồng, anh Biên, chị Lan và bà Thống có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thấm quyền để hoàn tất thủ tục sang tên chuyển nhượng nhà đất nêu trên theo qui định của pháp luật.

Xác định tổng giá trị tài sản chung tính thành tiền của anh Đồng và chị An là 5.185.237.787đ. Chia đôi giá trị tài sản chung bằng tiền mỗi bên anh Đồng và chị An được hưởng là 2.592.618.894đ. Chia bằng hiện vật anh Đồng được hưởng phần tài sản có giá trị tính thành tiền là 2.606.216.3 80đ, chị An được hưởng phần tài sản có giá trị tính thành tiền là 2.468.185.409đ; so với kỷ phần tài sản được hưởng anh Đồng còn phải thanh toán cho chị An 138.030.971d tiền giá trị chênh lệch về tài sản.

Ngoài ra Toà án còn tuyên án phí, các chi phí khác và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thấm ngày 6/1/2011 chị An có đơn kháng cáo không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm về phần tài sản, nhà ở cổng Viện di truyền là tài sản riêng của vợ chồng chị, anh Thành không có quyền trong đó, nhà ở Long Biên là của anh Biên không phải của vợ chồng chị.

Ngày 7/1/2011 anh Đồng kháng cáo đề nghị xem xét lại phần tài sản chung của vợ chồng và tiền anh Biên nợ vợ chồng anh.

Ngày 7/1/2011 anh Biên kháng cáo đề nghị xem xét lại phần nhà đất tại Long Biên là của vợ chồng anh và anh xác định không nợ tiền anh Đồng, chị An

Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 84/2011/HNGĐ -PT ngày 27/7/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2010/HNGĐ-ST ngày 28/12/2010 của Toà án nhân dân quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thuý An và anh Nguyễn Văn Đồng.

V con chung: Anh Đồng, chị An có hai con chung là Nguyễn Phương Nhi sinh ngày 2/11/1994 và Nguyễn Tiến Đạt sinh ngày 22/1/2001. Giao cháu Nguyễn Phương Nhi cho chị An trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Tiến Đạt cho anh Đồng trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung và cùng có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Đổi với động sản là đồ dùng sinh hoạt chị An và anh Đồng tự giải, không yêu cầu toà xem xét giải quyết.

Đối với bất động sản: Xác định căn nhà bê tông 5 tầng có diện tích xây dựng 259,65m2 giá trị thành tiền 1.010.910.343d trên diện tích 50, lm2 đất, giá trị quyền sử dụng đất tính thành tiền là 3.006.000.000đ tổng giá trị nhà đất tính thành tiền là 4.016.901.343đ toạ lạc tại C13 tập thể thời báo kinh tế nay là số 11 đường Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội là tài sản chung của anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thuý An, chia giá trị bằng tiền mỗi bên anh Đồng, chị An được hưởng 1/2 là 2.008.450.672đ, chia bằng hiện vật như sau:

Chia cho anh Đồng sở hữu sử dụng phòng khách tầng 1 (16,97m2), 3 phòng ngủ tầng 2,3,4 (mỗi phòng diện tích 20,35m2) từ phòng khách tầng 1 thẳng lên, phần vật liệu xây dựng là gạch lát sân, cổng sắt, hoa sắt tường rào, phần cầu thang lên xuống trong nhà, nhà vệ sinh, toàn bộ tầng 5 để sử dụng chung cho anh Đồng và chị An, anh Đồng đi lối đi phía trước ra đường Nguyễn Khả Trạc.

Giá trị phần tài sản nhà, đất anh Đồng được chia hưởng tính thành tiền là 2.077.466.158đ.

Anh Đồng được tạm sử dụng phần đất lưu không trên đã lát sân có diện tích 10,83m2 phía trước nhà đất C13 tập thể Thời báo kinh tế nay là 11 Nguyễn Khả Trạc, tổ 51 phường Mai Dịch, quận cầu Giấy thành phố Hà Nội cho đến khi có quyết định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về phần diện tích đất lưu không này.

Chia cho chị An sử dụng phòng bếp tầng 1 diện tích 15,72m2, 3 phòng ngủ tầng 2,3,4 mỗi phòng có diện tích 15,72m2, từ phòng bếp tầng 1 thẳng lên. Phần cầu thang lên xuống trong nhà, nhà vệ sinh, toàn bộ tầng 5 để sử dụng chung cho chị An và anh Đồng. Chị An đi lối phía sau ra sân nhà khu tập thể Thời báo kinh tế.

Giá trị phần tài sản nhà đất chị An được chia hưởng tính thành tiền là 1.939.435.187đ.

Xác định phần vật liệu xây dựng nhà cấp 4 trước cổng Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6 xã cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội có giá trị tính thành tiền bằng 86.250.665đ là tài sản chung của anh Đồng, chị An và anh Nguyễn Minh Thành. Chia giá trị bằng tiền mỗi bên anh Đồng, chị An, anh Thành được hưởng 1/3 là 28.750.222đ. Chia băng hiện vật như sau: Chia cho chị An sở hữu toàn bộ vật liệu xây dựng của nhà cấp 4 trước cổng Viện di truyền Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6 xã cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội có giá trị tính thành tiền là 86.250.665đ. Chị An được tạm sử dụng phần diện tích 66,46m2 đất lưu không có nhà cấp 4 tại địa chỉ nêu trên cho đến khi có quyết định mới của cơ quan nhà nước có thấm quyền và phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về phần diện tích đất lưu không này.

Xác định tổng giá trị tài sản chung là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tính thành tiền và phần giá trị vật liệu xây dựng nhà cấp 4 thuộc quyền sở hữu sử dụng của chị An, anh Đồng trong thời kỳ hôn nhân tính thành tiền bằng 4.074.401.788đ. Chia đôi giá trị tài sản chung bằng tiền mỗi bên anh Đồng, chị An được hưởng là 2.037.200.894đ. Như vậy sau khi chia bằng hiện vật anh Đồng được hưởng phân tài sản có giá trị tính thành tiền là 2.077.466.158đ chị An được hưởng phần tài sản có giá trị tính thành tiền là 2.025.685.852đ so với phần tài sản được hưởng anh Đồng còn phải thanh toán cho chị An nhận giá trị chênh lệch về phân chia tài sản chung là 11.515.042đ và thanh toán cho anh Thành nhận giá trị phân chia tài sản chung là 28.750.222đ.

Anh Nguyễn Minh Thành được hưởng 1/3 giá trị vật liệu xây dựng nhà cấp 4 trên đất lưu không trước cổng Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6, xã Cổ Nhuế,quận Từ Liêm, thành phố Hà Nội là 28.750.222đ do anh Nguyễn Văn Đồng thanh toán trả.

Đối với khoản tiền là tài sản chune trong thời kỳ hôn nhân của chị An và anh Đồng đã cho anh Biên vay được xác định như sau:

Ghi nhận sự thoả thuận của chị Nguyễn Thuý An, anh Nguyễn Văn Đồng, anh Nguyễn Viết Biên về việc xác định tính đến thời điểm 31/12/2004 anh Nguyễn Viết Biên còn nợ chị An và anh Đồng số tiền đã vay là 20.000 đô la mỹ. Anh biên có nghĩa vụ phải trả cho chị An, anh Đồng mỗi người 1/2 số nợ trên là 10.000 đô la Mỹ. Xác nhận anh Biên đã trả chị An 10.000 đô la Mỹ nay còn phải trả cho anh Đồng 10.000 đô la Mỹ tương đương với 205.700.000d tiền Việt Nam. Anh Đồng được sở hữu số tiền 10.000 đô la Mỹ tương đương với số tiền 205.700.000đ tiền Việt Nam do anh Nguyễn Viết Biên thanh toán trả.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra Toà án cấp phúc thẩm còn tuyên án phí theo qui định pháp luật.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Đồng, anh Thành, chị Huế có đơn khiếu nại đề nghị kháng nghị bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 2/10/2012 Uỷ ban tư pháp của Quốc hội có công văn số 867/UBTP13 gửi Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị xem xét giải quyết đơn khiếu nại của anh Thành, chị Huế.

Tại Quyết định kháng nghị số 100/QĐKNGĐT-V5 ngày 13 tháng 9 năm 2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 84/2011/HNGĐPT ngày 27/7/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy một phần về chia tài sản của Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên và phần chia tài sản của Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2010/HNGĐ- ST ngày 28/12/2010 của Tòa án nhân dân quận cầu Giấy thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng giám đốc thấm hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm về phần tài sản, theo hướng tạm giao nhà cấp 4 trước cống Viện di truyền nông nghiệp tại thôn Hoàng 6 xã Cô nhuê, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội cho anh Nguyễn Văn Đồng sử dụng.

XÉT THẤY

Về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Đồng và chị Nguyễn Thúy An và quan hệ con chung, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp luật. Các đương sự không kháng cáo, khiếu nại.

Về quan hệ tài sản:

Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc tham đã xác định nhà, đất tại c 13 tập thể thời báo kinh tế (nay là số 11 đường Nguyễn Khả Trạc), tổ 51, phường Mai Dịch, quận cầu Giấy, Hà Nội là tài sản chung của anh Đồng, chị An và chia bằng hiện vật cho anh Đồng, chị An cùng sở hữu, sử dụng là có căn cứ.

Đối với căn nhà cấp 4 (xây dựng trên đất lưu không) trước cổng Viện di truyền nông nghiệp tại Thôn Hoàng 6, xã cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội, thì thấy rằng: Phần đất lưu không là của Viện di truyền nông nghiệp cho anh Đồng mượn trước khi kết hôn với chị An; anh Đồng xây nhà cấp 4 để ở. Năm 1994 kết hôn với chị An, vợ chồng cùng ở trong căn nhà này. Năm 2006, anh Đông, chị An có chỗ ở mới nên đã giao lại căn nhà cấp 4 cho anh Nguyễn Minh Thành (em trai anh Đồng) sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án, chị An cho rằng trong thời gian ở ngôi nhà cấp 4, chị và anh Đồng cùng nhau xây mới và sửa chữa căn nhà, toàn bộ ngôi nhà hiện nay về cơ bản vẫn như trước khi vợ chồng chị chuyển đi năm 2006; còn theo anh Thành, do căn nhà xuống cấp nên anh đã cải tạo, sửa chữa toàn bộ, phần sửa chữa, cải tạo cũ của chị An và anh Đồng làm trước đó do lâu ngày xuống cấp không sử dụng được nên anh đã dỡ bỏ. Như vậy, anh Đồng, chị An và anh Thành đều xác định việc cải tạo, sửa chữa đối với ngôi nhà cấp 4, nhưng lời khai của các bên đối với việc cải tạo, sửa chữa ngôi nhà là không thống nhất. Trong trường hop này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác minh, làm rõ: Phần nhà xây dựng, sửa chữa trước đây do anh Đồng, chị An làm hiện nay còn hay không, giá trị là bao nhiêu? Anh Thành sửa chữa, xây dựng những phân nào, chi phí là bao nhiêu? Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ công sức đóng góp của anh Đồng, chị An và anh Thành đối với ngôi nhà cấp 4 nhưng lại xác định chia cho môi người được hưởng 1/3 giá trị căn nhà câp 4 là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Mặt khác, anh Đồng là cán bộ của Viện di truyền nông nghiệp nên mới được Viện di truyền nông nghiệp cho mượn phần đất lưu không trước cổng. Quá trình giải quyết, Viện di truyên nông nghiệp đã có ý kiên vê việc tiêp tục cho anh Đồng mượn phần đất này, khi có yêu cầu thì anh Đồng phải trả lại. Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh Đồng được quyền sử dụng căn nhà và tạm sử dụng diện tích đất trước cổng Viện di truyền nông nghiệp là phù hợp. Tòa án cấp phúc thấm lại giao cho chị An được quyền sử dụng căn nhà cấp 4 nêu trên là không phù họp.

Ngoài ra, khi định giá ngôi nhà cấp 4 nêu trên, cấp sơ thẩm chưa xác định rõ giá tri từng phần mà anh Đồng, chị An và anh Thành đã xây mới, sửa chữa để làm căn cứ tính công sức đóng góp cho các bên là chưa đầy đủ. Do vậy Hội đông giám đốc thẩm thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cần thiết.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Hủy Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 84/2011/HNGĐ-PT ngày 27/07/2011 của Tòa án nhân dân thành phổ Hà Nội và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/HNGĐ-ST ngày 28/12/2010 của Tòa án nhân dân quận cầu giấy, thành phô Hà Nội về phần tài sản đối với vụ án “Ly hôn” giữa chị Nguyễn Thúy An với Nguyễn Văn Đồng.


80
  • Tên bản án:
    Quyết định giám đốc thẩm 57/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án ly hôn
  • Số hiệu:
    57/2014/DS-GĐT
  • Cấp xét xử:
    Giám đốc thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    24/02/2014
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 57/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án ly hôn

Số hiệu:57/2014/DS-GĐT
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/02/2014
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về