Quyết định giám đốc thẩm 59/2013/DS-GĐT ngày 29/05/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Tuấn Khanh và Phan Văn Sơn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 59/2013/DS-GĐT NGÀY 29/5/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA NGUYÊN ĐƠN ANH NGUYỄN TUẤN KHANH VÀ BỊ ĐƠN ANH PHAN VĂN SƠN

Ngày 29/5/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn Khanh sinh năm 1963; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Đào Văn Tân sinh 1942; trú tại ấp An Trung, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Phan Văn Sơn sinh năm 1964; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Nguyễn Thị Thâu sinh năm 1921; trú tại số 72, ô3, khu phố Thanh Long, thị trấn Phước Thạnh, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thế Mỹ sinh năm 1943; trú tại số 06/14, ô1, ấp Hải Phong 2, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Ông Trần Văn Chí sinh năm 1942; trú tại số 19 Hoàng Hoa Thám, phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

3. Bà Phan Thị Năng (tức Tư) sinh năm 1934; trú tại số 82D, tổ 3 khu phố Long Tân, thị trấn Long Điền, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Năng, ông Chí là: Ông Đinh Văn Hạnh sinh năm 1956; trú tại số 77D, tổ 5, khu phố Long Tân, thị trấn Long Điền, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

4. Ông Nguyễn Văn Xê sinh năm 1940; trú tại số 14051 Swan Street, Westminster City, CA 92683, USA.

5. Chị Hồ Thị Hạnh sinh năm 1970; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vợ anh Khanh).

6. Chị Nguyễn Thị Mỹ Khanh sinh năm 1966; trú tại số 14051 Swan Street, Westminster City, CA 92683, USA.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Hạnh, ông Xê và chị Khanh là: Ông Đào Văn Tân.

7. Chị Trần Thị Mai sinh năm 1964; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vợ ông Sơn).

8. Ông Trần Văn Thiện sinh năm 1939;

9. Bà Trần Kim Liêng sinh năm 1944;

10. Anh Trần Lập Thành sinh năm 1952;

11. Chị Trần Kim Loan sinh năm 1955;

Cùng trú tại số 28452 Falcon Crest Dr, Canyon Caunty, CA 91351, USA.

12. Anh Trần Bửu Lộc sinh năm 1950;

13. Chị Trần Kim Phượng sinh năm 1958;

14. Anh Trần Minh Trí sinh năm 1953;

Cùng trú tại số 9317 King’s Grant Rd Laurel MD 20723, USA.

15. Bà Phan Thị Loan sinh năm 1962; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

16. Chị Phan Thị Mót (tức Liên) sinh năm 1967; trú tại số 42 Hùng Vương, phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

17. Chị Phan Thùy Giang sinh năm 1971; trú tại số 133/12/8 Huyền Trân Công Chúa, phường 8, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

18. Bà Nguyễn Thị Sum sinh năm 1936; trú tại ấp An Trung, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

19. Chị Nguyễn Thị Tuyết Hoa sinh năm 1954;

20. Chị Nguyễn Thị Tuyết Hồng sinh năm 1957;

Cùng trú tại số 2463 Bartlett - ST. Oahlan, California. 94601, USA.

21. Anh Nguyễn Quốc Hưng sinh năm 1959; trú tại số 1630 Landdale - Avesan -Leandro, California 94579, USA.

22. Chị Nguyễn Thị Tuyết Hạnh sinh năm 1961;

23. Chị Nguyễn Thị Phương Hà sinh năm 1967;

24. Chị Nguyễn Thị Tuyết Hương sinh năm 1964;

25. Chị Nguyễn Thị Tuyết Trinh sinh năm 1971;

Cùng trú tại số 264 Nguyễn Huệ, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

26. Anh Mã Thanh Phong sinh năm 1959; trú tại số 72 Khổng Tử, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

27. Chị Mã Hồng Tuyết sinh năm 1967; trú tại ấp An Trung, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

28. Chị Mã Thị Tuyết Lan sinh năm 1968; trú tại số 32 đường Trần Phú, phường 6, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

29. Chị Mã Thị Hồng Thúy sinh năm 1971; trú tại ấp An Trung, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

30. Chị Phan Thị Kim Liên sinh năm 1964; trú tại số 1228. Albany Schenectady, N.Y. 12304, USA.

31. Chị Phan Thị Thêm sinh năm 1969; trú tại số 1994NE.Parynrd. Kansas Tity. Mo-14116, USA.

32. Bà Huỳnh Thị Ba sinh năm 1932; trú tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

33. Bà Nguyễn Thị Mai sinh năm 1957;

34. Chị Nguyễn Thị Quỳnh Như (con chị Mai);

Cùng trú tại ấp An Lạc, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 01/9/2006 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là anh Nguyễn Tuấn Khanh trình bày:

Năm 1962, ba anh em cụ Phan Văn Tấn (tức Tài, chết năm 2001), cụ Nguyễn Thị Kiệu (chết năm 2005) và cụ Nguyễn Thị Thâu mua của cố Nguyễn Thị Công (tự Liễu) là cô ruột của ba cụ căn nhà trên diện tích 1.363,5m2 đất tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 60.000đ, số tiền mua nhà đất này là cụ Tấn bán căn nhà của cha mẹ của ba cụ (cố Kiều, cố Thân) khi chết để lại được 52.000đ và cụ Tấn bù thêm 8.000đ. Sau khi mua chỉ có cụ Tấn quản lý sử dụng nhà đất còn cụ Thâu, cụ Kiệu không quản lý.

Ngày 03/3/1985 (âm lịch), cụ Tấn lập “Tờ di chúc” chia nhà đất cho hai con là ông Nguyễn Văn Xê (cha anh) và ông Phan Văn Sơn; ông Xê được chia căn nhà thờ và đất chạy dọc theo mép sân từ phía trước ra phía sau nhà; phần đất còn lại và căn nhà nhỏ chia cho ông Sơn. Trong di chúc này cụ Tấn, cụ Thâu, cụ Kiệu, ông Xê, ông Sơn và cụ Nguyễn Tương Phùng (chú ruột ông Xê, ông Sơn) cùng ký, ông Sơn, ông Xê đã sử dụng nhà đất được chia từ năm 1985 đến nay. Năm 1990, ông Xê đi định cư ở Mỹ đã giao nhà đất cho anh sử dụng.

Năm 1996, anh và em một anh là chị Nguyễn Thị Mỹ Khanh xây thêm 2 căn nhà cấp 4 bên cạnh căn nhà thờ. Ngày 10/4/2002, ông Xê lập “Giấy ủy quyền” có xác nhận của chính quyền địa phương, theo đó cho anh căn nhà thờ và căn nhà cấp 4 trên diện tích 1.280m2 đất, cho chị Mỹ Khanh căn nhà cấp 4 và 120m2 đất. Năm 2005, chị Mỹ Khanh xuất cảnh đi nước ngoài đã tặng cho anh quản lý sử dụng.

Năm 2006, anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 243 và 554, tổng diện tích là 854m2. Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh phát hiện ông Sơn đã kê khai không đúng ranh đất như cụ Tấn phân chia năm 1985 lấn sang phần đất sân trước cửa nhà thờ diện tích 72,6m2, phần đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Sơn năm 2006. Khi anh khởi kiện thì ông Sơn đã xây tường rào bao quanh, lát gạch và tráng xi măng. Nay anh yêu cầu ông Sơn trả phần đất lấn chiếm 72,6m2 (rộng 5,85m và 5,35m dài 13,1m và 12,75m).

Về yêu cầu độc lập của cụ Thâu và ông Chí (con cụ Kiệu), anh không đồng ý, vì nhà đất là của cụ Tân đã chia cho ông Sơn, ông Xê theo tờ di chúc lập ngày 03/3/1985; khi đó cụ Thâu, cụ Kiệu đã ký xác nhận vào di chúc và anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không đồng ý trả nhà đất theo yêu cầu của cụ Thâu và ông Chí.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Lê Minh Thới là người được anh, ông Xê và chị Mỹ Khanh ủy quyền trình bày: anh Khanh đã xuất cảnh sang Mỹ tháng 7/2008 nhưng chưa nhập quốc tịch Mỹ và có ủy quyền cho bà Lê Thị Hồng (em vợ ông Xê) trông coi nhà đất tranh chấp.

Bị đơn là ông Phan Văn Sơn trình bày:

Nguồn gốc đất tại thửa 231 ông đang sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 diện tích là 509,5m2; trong đó có 72,6m2 anh Khanh tranh chấp là của cụ Tấn cha của ông; cụ Tấn đã cho con là bà Phan Thị Năng (tức Tư) cất nhờ nhà trên đất trước năm 1975. Sau năm 1975, cụ Tấn đổi đất khác cho bà Năng để lấy căn nhà của bà Năng. Năm 1985, cụ Tấn lập di chúc chia cho ông căn nhà của bà Năng và một phần đất từ bìa sân nhà thờ trở lại là thửa 231, tờ bản đồ số 12. Năm 1993, cụ Tấn lập di chúc để lại cho ông cả phần đất tranh chấp 72m2. Năm 2003, ông tháo dỡ căn nhà cũ và xây nhà mới như hiện nay. Khi ông sửa nhà và sửa cổng ra vào theo ý của ông Xê, ông có chạt sân, xây cổng thì anh Khanh xuất trình di chúc của cụ Tấn và hai bên xảy ra tranh chấp phần đất giáp cổng. Ông có xem di chúc đó thì thấy ông Xê đã sửa chữa vào di chúc có lợi cho ông Xê nên không đồng ý thực hiện theo di chúc năm 1985 của cụ Tấn.

Năm 2006, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có phần đất tranh chấp. Nay anh Khanh tranh chấp phần đất 72,6m2, ông không chấp nhận yêu cầu của anh Khanh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-  Cụ Nguyễn Thị Thâu, người đại diện là ông Đinh Văn Hạnh trình bày:

Nguồn gốc thửa đất và căn nhà thờ là cụ Tấn, cụ Kiệu và cụ Thâu mua của cố Liễu năm 1962 giá 45.000đ, tiền mua nhà là do bán nhà đất của cha mẹ được 30.000đ và cụ Thâu, cụ Kiệu bỏ thêm 15.000đ để trả cố Liễu. Sau khi mua nhà đất thì giao cho cụ Tấn quản lý sử dụng, khi cụ Tấn chết thì để cho cháu Khanh thờ tự còn ông Sơn ở căn nhà bên cạnh. Cụ Thâu xác định không ký vào tờ di chúc của cụ Tấn lập năm 1985 và yêu cầu giám định chữ ký. Khi cụ Tấn chết thì để cho anh Khanh thờ tự còn ông Sơn ở căn nhà bên cạnh. Quá trình sử dụng đất, anh Khanh và chị Mỹ Khanh xây hai căn nhà cấp 4 trên đất và sửa chữa căn nhà thờ; ông Sơn có phá căn nhà cũ xây nhà mới thì cụ đều biết. Khi anh Khanh tranh chấp ranh đất với ông Sơn thì cụ Thâu mới biết ông Sơn, anh Khanh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập di chúc giả để chiếm đoạt tài sản của các cụ. Nay Cụ Thâu yêu cầu anh Khanh trả lại toàn bộ diện tích đất cùng căn nhà thờ trên đất để thờ cúng.

-  Ông Trần Văn Chí (con cụ Kiệu), người đại diện là ông Đinh Văn Hạnh trình bày:

Ông Chí là con cụ Kiệu, khi cụ Kiệu chết có để lại di chúc cho ông Chí được hưởng di sản, trong đó có căn nhà thờ và đất hiện anh Khanh và ông Sơn đang quản lý sử dụng. Nguồn gốc nhà đất tranh chấp như cụ Thâu đã trình bày. Nay ông yêu cầu anh Khanh và ông Sơn trả lại nhà đất tranh chấp cho cụ Thâu và ông Chí.

-  Ông Nguyễn Văn Xê trình bày: Cụ Tấn cùng với cụ Thâu và cụ Kiệu bán nhà đất của cha mẹ được 52.000đ, cụ Tấn bù thêm 8000đ để mua nhà của cố Liễu giá 60.000đ. Sau khi mua nhà của cố Liễu thì cụ Tấn sử dụng nhà đất và không xây dựng gì thêm. Cụ Tấn chết có lập di chúc năm 1985, như nội dung anh Khanh khai là đúng. Di chúc của cụ Tấn có cụ Thâu, cụ Kiệu và ông Sơn cùng ký; ông là người sửa di chúc để xác định rõ ranh giới đất được cho. Sau khi có di chúc, ông và ông Sơn sử dụng nhà đất theo di chúc cho đến nay. Cụ Tấn không để lại di chúc năm 1993 như ông Sơn trình bày.

Đến năm 1990, ông tặng cho anh Khanh toàn bộ nhà đất và ông đi xuất cảnh. Năm 2002, ông về nước làm giấy ủy quyền để anh Khanh kê khai đăng ký và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông yêu cầu ông Sơn trả lại cho anh Khanh 72,6m2 đất thuộc thửa 231 và không đồng ý yêu cầu của cụ Thâu và ông Chí.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2008/DSST ngày 10/7/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tuấn Khanh yêu cầu ông Phan Văn Sơn trả lại 72,6m2 đất.

Buộc ông Phan Văn Sơn và bà Trần Thị Mai phải tháo dỡ tường rào, trả cho anh Khanh 72,6m2 đất là một phần thuộc thửa số 231, tờ bản đồ số 14 tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có tứ cận như sau: phía đông giáp thửa 243 của anh Khanh dài 12,76m; phía tây giáp thửa 231 của ông Sơn dài 13,11m; phía nam giáp thửa 243 của anh Khanh dài 5,42m; phía bắc giáp đường nhựa dài 5,84m.

Anh Khanh được quyền sử dụng 72,6m2 đất là một phần thửa số 231 và sở hữu phần sân xi măng và sân gạch trên đất.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Nguyễn Thị Thâu và ông Trần Văn Chí về việc yêu cầu anh Khanh và ông Sơn trả lại căn nhà ngói diện tích 251,2m2 và toàn bộ 3 thửa đất số 231, 243 và 554 tờ bản đồ số 14 tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

-  Ngày 19/7/2008, ông Phan Văn Sơn kháng cáo.

-  Ngày 18/7/2008, người đại diện theo ủy quyền của cụ Thâu là ông Đinh Văn Hạnh kháng cáo.

-  Ngày 22/7/2008, ông Trần Văn Chí kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 161/2008/DS-PT ngày 05/12/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 13/2008/DSST ngày 10/7/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án.

Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Nguyễn Tuấn Khanh khiếu nại đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại quyết định kháng nghị số 724/2011/KN-DS ngày 02/12/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 161/2008/DS-PT ngày 05/12/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Năm 1962, cụ Phan Văn Tấn (chết năm 2011), cụ Nguyễn Thị Kiệu (chết) và cụ Nguyễn Thị Thâu (ba anh em ruột) đứng tên mua chung căn nhà ngói trên diện tích đất 1.363,5m2 của cố Nguyễn Văn Gần, Nguyễn Thị Công (tức Liễu) tại ấp An Đồng, xã An Nhứt, quận Long Điền, tỉnh Phước Tuy (nay là xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu); việc mua bán có xác nhận của chính quyền chế độ cũ. Vì vậy, nhà đất thuộc quyền sở hữu chung của cụ Tấn, cụ Kiệu và cụ Thâu.

Sau khi mua bán nhà đất thì cụ Tấn quản lý sử dụng còn cụ Thâu và cụ Kiệu không sống tại đây. Anh Khanh xuất trình “Tờ di chúc” do cụ Tấn lập ngày 03/3/1985 có nội dung cụ Tấn chia cho hai người con là ông Nguyễn Văn Xê (cha anh Khanh) sử dụng nhà đất từ bìa sân nhà thờ thẳng từ trước ra sau trở về phía nhà thờ, còn ông Phan Văn Sơn sử dụng nhà đất còn lại. Di chúc của cụ Tấn có cụ Kiệu và cụ Thâu cùng ký. Ông Sơn thừa nhận di chúc là do cụ Tấn lập. Trong di chúc có phần sửa chữa, nhưng nội dung nguyên thủy có ghi là “Ranh giới phần đất sát bìa sân trước về hướng tây thẳng tới đường xe Tư Hời, đằng sau thẳng tới đường lộ lên xóm”. Vì vậy, phải hiểu ranh đất lấy bìa sân kéo thẳng từ trước ra sau. Hai bên đều thừa nhận và từ năm 1985 ông Xê và ông Sơn đã sử dụng đất theo ranh này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ranh đất như di chúc của cụ Tấn ghi là phù hợp. Ông Sơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có cả phần đất tranh chấp là một phần diện tích sân nằm phía trước nhà thờ và theo di chúc thì thuộc phần đất chia cho ông Xê và ông Sơn cũng thừa nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 do chính quyền địa phương tự đo vẽ, ông không ký, nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn là chưa phù hợp với thực tế sử dụng. Vì vậy, có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc đất cụ Tấn lập di chúc chia cho ông Xê sử dụng.

Quá trình giải quyết tranh chấp đất giữa anh Khanh và anh Sơn thì cụ Thâu và ông Chí (con cụ Kiệu) có đơn yêu cầu độc lập đòi lại phần tài sản của cụ Kiệu và cụ Thâu trong số tài sản chung với cụ Tấn. Tuy cụ Thâu và cụ Kiệu có phần trong khối tài sản mà ông Sơn và anh Khanh đang quản lý sử dụng, nhưng năm 1985 cụ Tấn đã lập di chúc cho ông Xê, ông Sơn nhà đất chung của ba cụ. Cụ Thâu không thừa nhận đã ký vào di chúc của cụ Tấn năm 1985, nhưng tại Kết luận giám định của cơ quan Công an ngày 05/12/2007 xác định cụ Thâu đã ký vào di chúc này. Từ năm 1985, sau khi cụ Tân lập di chúc ông Xê và ông Sơn đã sử dụng nhà đất theo di chúc và sau này anh Khanh, chị Khanh con ông Xê xây dựng thêm hai căn nhà mới giáp nhà thờ, ông Sơn dỡ nhà cũ năm 2003 xây nhà mới trên đất thì cụ Thâu, cụ Kiệu không có ý kiến gì. Hai cụ tuy là đồng sở hữu tài sản tranh chấp, nhưng từ khi mua năm 1962 đến khi tranh chấp năm 2006 không trực tiếp quản lý sử dụng nên coi như đã từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Vì vậy, có cơ sở xác định cụ Thâu, cụ Kiệu đã đồng ý với cụ Tấn cho ông Xê, ông Sơn phần tài sản của hai cụ. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi tài sản của cụ Thâu, ông Chí là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để giao giải quyết lại theo hướng chấp nhận yêu cầu của cụ Thâu, ông Chí là không có căn cứ. Vì vậy, cần hủy án phúc thẩm để giao xét xử phúc thẩm lại, nếu không có chứng cứ mới khác thì giữ nguyên hiệu lực của bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 161/2008/DS-PT ngày 05/12/2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Tuấn Khanh với bị đơn là ông Phan Văn Sơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 34 người nêu trên.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


72
Văn bản được dẫn chiếu
     
    Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Quyết định giám đốc thẩm 59/2013/DS-GĐT ngày 29/05/2013 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Tuấn Khanh và Phan Văn Sơn

      Số hiệu:59/2013/DS-GĐT
      Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:29/05/2013
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về