Quyết định giám đốc thẩm 94/2013/GĐ-DS ngày 25/07/2013 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản

 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 94/2013/GĐ-DS NGÀY 25/07/2013 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN

...

Ngày 25/7/2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp quyền sở hữu tài sản.

Nguyên đơn:

1.Bà Nguyễn Thị Nhân sinh năm 1954; trú tại 169 quốc lộ 1A, phường An Phú Đông, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Nguyễn Xuân Lai sinh năm 1965; trú tại 27 Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Phú Túc, huyện Krong Pa, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn:

Ông La Văn Vĩnh sinh năm 1963 và bà Huỳnh Thị Như Ngọc, sinh năm 1962; cùng trú tại số 2 Nguyễn Thái Học, Quy Nhơn, Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Lan sinh năm 1967;

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hạnh sinh năm 1971;

3. Bà Nguyễn Thị Xuân Hằng sinh năm 1975;

Cùng trú tại 251 Lô B, Cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

4. Ông Nguyễn Xuân Long sinh năm 1962;

5. Ông Nguyễn Xuân Diệp sinh năm 1959;

Cùng trú tại 316 Lô E, Cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

6. Ông Nguyễn Xuân Hùng sinh năm 1973;

7. Bà Nguyễn Thị Xuân Thu sinh năm 1969;

Cùng trú tại số 5 Maurice Street, Unit 30, Kitchener, Ontario, N2G2Y9, Canada.

8. Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định do ông Lê Sỹ Hiệp - chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường làm đại diện.

9. Bà Lê Thị Thu (là người bán nhà cho ông Vĩnh, hiện không xác định được địa chỉ).

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2003 nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Lai và bà Nguyễn Thị Nhân trình bày:

Năm 1973, cha mẹ ông là cụ Nguyễn Xuân Ba và cụ Đặng Thị Tình mua căn nhà số 02 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định của cụ Nguyễn Cậy (sinh năm 1926), việc mua bán có giấy viết tay nay vẫn còn và cụ Cậy đang còn sống cũng xác nhận việc mua bán này. Nhà mua để làm nơi đậu xe, nhà lợp tôn quây lưới B40.

Sau giải phóng năm 1975, cha mẹ ông bà vào Hợp tác xã xe khách Nghĩa Bình nên xe đậu tại bến xe. Đến năm 1977, cụ Ba cho tập thể Khu vực 6 phường Lê Hồng Phong mượn nhà để làm trường mẫu giáo và nơi hội họp của Khu vực.

Năm 1978, cụ Ba bị chết do tai nạn giao thông tại đèo Nhông. Sau đó khoảng một năm, mẹ ông cũng đau bệnh chết. Anh chị em trong nhà không còn nơi nương tựa phải đi ở nơi khác. Vì hoàn cảnh khó khăn nên cũng không có điều kiện về lại Quy Nhơn. Cụ Ba, cụ Tình có 9 người con là Nguyễn Thị Nhân, Nguyễn Xuân Long, Nguyễn Xuân Diệp, Nguyễn Thị Lắm, Nguyễn Xuân Lai, Nguyễn Thị Xuân Thu (ở Canada), Nguyễn Xuân Hùng (ở Canada), Nguyễn Thị Xuân Hạnh, Nguyễn Thị Xuân Hằng.

Năm 1991, ông Lai về thăm quê thì biết căn nhà số 02 Nguyễn Thái Học có người đang sử dụng, ông bà đã làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân các cấp nhưng không được giải quyết, đến 26/5/2003 mới được Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời là nhà không thuộc diện nhà nước quản lý, việc giải quyết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Người vào ở nhà của cha mẹ ông làm là ông La Văn Vĩnh đã phá nhà cũ xây nhà mới nên ông yêu cầu ông Vĩnh trả lại nhà số 02 Nguyễn Thái Học cho gia đình ông, ông chấp nhận bồi thường tiền xây nhà cho ông Vĩnh, ông bà xin lấy lại đất vì hiện có 04 người không có chỗ ở.

Bà Nhân không bán nhà cho Khu vực 6. Nếu nói là đã bán nhà thì phải xuất trình giấy tờ mua bán.

- Bị đơn là ông La Văn Vĩnh trình bày:

Căn nhà tranh chấp trước giải phóng ông không rõ của ai. Sau giải phóng nhân dân Khu vực 6 sử dụng làm nơi hội họp và lớp mẫu giáo, sau đó đã bán lại cho bà Lê Thị Thu. Bà Thu đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận sở hữu nhà năm 1994.

Tháng 12/1995, ông mua căn nhà của bà Thu, hợp đồng mua bán nhà đã được công chứng. Sau khi mua, ông đã làm thủ tục sang tên và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 18/11/2002. Ông đã xây dựng nhà mới trên đất. Nay ông không đồng ý trả nhà đất cho nguyên đơn, vì ông đã mua căn nhà này hợp pháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn, đại diện là ông Nguyễn Sỹ Hiệp - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường trình bày:

Nhà đất tranh chấp nguồn gốc là của cụ Nguyễn Cậy tạo lập, đến năm 1973 cụ Cậy bán lại cho cụ Nguyễn Xuân Ba (cha của nguyên đơn).

Ngày 24/01/1986 các ông Huỳnh Cẩm, Trần Đạo, Lê Văn Quảng cùng trú tại Khu vực 6 có lập giấy cam đoan xác nhận căn nhà trên của bà Nguyễn Thị Nhân (tên gọi theo con của vợ cụ Ba) bán lại cho nhân dân Khu vực 6 làm nơi hội họp và lớp mẫu giáo.

Ngày 09/4/1986, ông Trần Đạo đại diện khối trưởng khu vực 6 cùng 7 tổ trưởng của 7 tổ dân phố trong Khu vực 6 cùng lập giấy bán nhà cho ông Lê Văn Cung và bà Lê Thị Thu. Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong chỉ ký xác nhận việc mua bán chứ không phải chỉ đạo cho Khu vực 6 bán nhà. Việc Khu vực 6 có mua hay mượn nhà tranh chấp phường không biết. Nhưng trong giấy tờ Khu vực 6 bán cho vợ chồng bà Thu có ghi kèm theo giấy bán nhà của cụ Cậy và giấy bà Nhân bán nhà cho Khu vực 6. Sau đó, Ủy ban nhân dân cấp trên đã cho phép Khu vực 6 bán nhà cho vợ chồng bà Thu. Tiền bán nhà Khu vực 6 dùng để bồi hoàn tiền đất làm nhà mẫu giáo mới bây giờ. Tài sản này Khu vực 6 quản lý, phường không quản lý, phường không đồng ý bồi thường cho nguyên đơn.

 2. Các ông bà Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Xuân Hằng, Nguyễn Xuân Diệp, Nguyễn Xuân Long, Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Thị Xuân Thu (là các con của cụ Ba, cụ Tình) đồng uỷ quyền cho ông Nguyễn Xuân Lai và bà Nguyễn Thị Nhân trình bày như trên.

 - Lời khai của những người làm chứng:

1. Ông Lê Văn Quảng trình bày:

Năm 1982, ông nghỉ hưu về địa phương Khu vực 6 làm Tổ trưởng tổ dân phố biết bà Nhân bán lại nhà cho ông Hồ Đông Sơn là khu vực Trưởng lúc bấy giờ (nay đã chết), nhưng không biết cụ thể mua bán ra sao. Bà Nhân bán nhà cho ông Sơn có giấy viết tay, ông Sơn vận động nhân dân góp tiền, ông cũng là người đi quyên góp đưa tiền cho ông Sơn để mua nhà bà Nhân, ông chỉ nghe nói bà Nhân chứ không biết mặt bà Nhân. Năm 1986, Khu vực 6 đề xuất bán nhà này cho vợ chồng bà Thu, có báo cáo với Ủy ban nhân dân phường, việc bán có giấy tờ, ông và các tổ trưởng đã xác nhận.

2. Ông Trần Đạo trình bày:

Năm 1983 ông về hưu, năm 1985 ông làm khu vực trưởng Khu vực 6, phường Lê Hồng Phong. Ông không biết bà Nguyễn Thị Nhân nhưng có nghe nói trước đó bà Nhân bán nhà số 02 Nguyễn Thái Học cho ông Hồ Đông Sơn, cụ thể mua bán như thế nào ông không biết. Ông cũng không thấy giấy mua bán nhà giữa bà Nhân và ông Sơn. Sau đó, Khu vực 6 có đề xuất với phường bán căn nhà số 02 Nguyễn Thái Học, vì nghĩ rằng nhà này là nhà của Nhà nước, được sự nhất trí của phường nên khu vực cùng với các Tổ trưởng dân phố xác nhận việc bán nhà cho vợ chồng bà Thu.

3. Ông Huỳnh Ngọc Tân trình bày:

Năm 1978 ông làm thông tin liên lạc của Khu vực 6 sau làm tổ phó, ông không biết bà Nhân, cũng không biết việc bà Nhân bán nhà cho Khu vực 6 đại diện là ông Hồ Thiện Tường, nhưng biết căn nhà 02 Nguyễn Thái Học làm trụ sở của Khu vực 6 và trường mẫu giáo từ năm 1978 - 1979. Ông có nghe nói, khu vực bán nhà này cho ông Cung, bà Thu.

Một số người khác là ông Trần Văn Thạnh, ông Hồ Thiện Tường, Hồ Đông Sơn, ông Huỳnh Cẩm, ông Quát, ông Đinh nay đã chết; ông Dương Văn Liễu hiện ở đâu không biết; ông Cung đã chết, bà Thu ở đâu không rõ địa chỉ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 12/2006/DSST ngày 20/6/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:

1. Xác định ngôi nhà 02 Nguyễn Thái Học vào năm 1977 khu vực 6, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn mượn là thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Xuân Ba và bà Đặng Thị Tình, hiện nay ông Ba, bà Tình đã chết nên di sản này thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Ba, bà Tình.

2. Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn bán căn nhà 02 Nguyễn Thái Học cho bà Lê Thị Thu (không xác định chỗ ở hiện nay) vào ngày 09/4/1986 là không có căn cứ pháp luật, nên buộc phải đền bù bằng tiền vì không thể trả lại nhà được.

3. Công nhận hợp đồng mua bán nhà 02 Nguyễn Thái Học, giữa bà Lê Thị Thu với ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc vào ngày 02/12/1995 đã hoàn thành.

4. Chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của căn nhà 02 Nguyễn Thái Học, của ông Nguyễn Xuân Lai (là đại diện hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Xuân Ba và bà Đặng Thị Tình), nhưng chỉ chấp nhận đòi lại giá trị tài sản đất của nhà là 19,5m2 theo giá thị trường do Nhà nước quy định hiện nay.

5. Bác yêu cầu ông Nguyễn Xuân Lai đòi lại căn nhà 02 Nguyễn Thái Học, vì ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc đã mua của bà Lê Thị Thu và xây cất mới, sử dụng ổn định từ năm 1995 đến nay, đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ngày 18/11/2002.

6. Buộc Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn đền bù thiệt hại cho ông Nguyễn Xuân Lai giá trị 19,5m2 đất của căn nhà 02 Nguyễn Thái Học tính theo giá thị trường hiện nay do Nhà nước quy định là: 128.700.000đ.     

7. Ông Nguyễn Xuân Lai (đại diện hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Xuân Ba và bà Đặng Thị Tình) được nhận số tiền 128.700.000đ do Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn đền bù, nếu có tranh chấp này giữa các hàng thừa kế nói trên Toà sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28-6-2006, nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân Lai có đơn kháng cáo.

Ngày 29-6-2006, Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong có đơn kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 12/2006/DSPT ngày 28/12/2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định:

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2006/DS-ST ngày 20/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 08/2008/DSST ngày 29/7/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:

1. Xác định ngôi nhà số 02 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Xuân Ba và bà Đặng Thị Tình. Hiện nay ông Ba, bà Tình đã chết nên di sản này thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Ba, bà Tình.

2. Buộc Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn trả lại giá trị quyền sử dụng đất 19,5m2  đất của căn nhà 02 Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn cho ông Nguyễn Xuân Lai và bà Nguyễn Thị Nhân là: 128.700.000đ (Một trăm hai tám triệu bảy trăm nghìn đồng). Giao cho ông Lai và bà Nhân quản lý số tiền 128.700.000đ do Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong đền bù. Nếu sau này có tranh chấp về thừa kế giữa các thừa kế với nhau Tòa sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

3. Ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc được trọn quyền sở hữu ngôi nhà số 02 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở vào ngày 18/11/2002.

4. Bác yêu cầu ông Nguyễn Xuân Lai và bà Nguyễn Thị Nhân đòi được sử dụng căn nhà số 02 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn.

5. Bác yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong không chấp nhận bồi thường giá trị tài sản ngôi nhà số 02 đường Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn.

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 8/8/2008, Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong có đơn kháng cáo.

Ngày 11/8/2008, ông Nguyễn Xuân Lai kháng cáo.

Ngày 14/8/2008, bà Nguyễn Thị Nhân kháng cáo.

Tại bản án dân sự phúc thẩm (lần 2) số 71/2009/DSPT ngày 25-9-2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận đơn khởi kiện đòi nhà số 2 Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Nhân và ông Nguyễn Xuân Lai - đại diện cho các thừa kế của cụ Nguyễn Xuân Ba và cụ Đặng Thị Tình đối với bị đơn là ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc.

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm nguyên đơn có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định kháng nghị số 407/2012/KN-DS ngày 21 tháng 9 năm 2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 71/2009/DSPT ngày 25-9-2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 08/2008/DSST ngày 29/7/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

XÉT THẤY

Các đương sự thừa nhận và cụ Nguyễn Cậy nay còn sống cũng xác nhận, năm 1973 cụ Cậy bán cho cụ Nguyễn Xuân Ba (cha của các nguyên đơn) căn nhà do vợ chồng cụ Cậy tạo lập, tại địa chỉ số 02 Nguyễn Thái Học, thành phố Quy Nhơn, là căn nhà lợp tranh, quây lưới thép B40 để cụ Ba làm nơi đỗ xe khách của gia đình cụ Ba. Vào khoảng năm 1976 - 1977, Khu vực 6, phường Lê Hồng Phong, thị xã Quy Nhơn đã dùng nhà này làm trường mẫu giáo và nơi hội họp của Khu vực.

Năm 1978, cụ Ba bị tai nạn chết, năm 1979 cụ Tình cũng chết, sau đó các con cụ Ba ly tán. Năm 1986, ông Trần Đạo (đại diện khối trưởng Khu vực 6) cùng 7 Tổ trưởng dân phố thuộc Khu vực 6 cùng ký tên bán căn nhà của cụ Ba cho vợ chồng ông Lê Văn Cung (đã chết) và bà Lê Thị Thu giá 10.000đ, để lấy tiền xây dựng nhà mẫu giáo khác. Năm 1994, bà Thu được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định cấp “Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà”. Năm 1995, bà Thu đã bán nhà đất này cho ông Vĩnh, hợp đồng mua bán có công chứng. Năm 1996, ông Vĩnh tiến hành sửa chữa nhà có giấy phép. Năm 2002, vợ chồng ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, diện tích nhà 17,lm2, diện tích đất là 19,5m2. Năm 2002, các con cụ Ba là bà Nhân và ông Lai tranh chấp nhà đất với ông Vĩnh.

Ông Vĩnh và Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong cho rằng, vợ cụ Ba lấy tên con gái là Nhân đứng tên ký bán nhà đất đang tranh chấp cho vợ chồng bà Thu, đã giao giấy cụ Ba mua nhà của cụ Cậy cho vợ chồng bà Thu. Do ông Cung đã chết, bà Thu nay không rõ đang sống ở đâu nên không lấy được lời khai. Tuy nhiên, các cơ quan chuyên môn về quản lý nhà đất của Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và ông Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho vợ chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp được giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba. Do đó, không có căn cứ xác định vợ cụ Ba, hoặc bà Nhân đã bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu vực 6. Nay vợ chồng cụ Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này. Nhà của cụ Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là không đúng.

Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp. Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình.

Trong hồ sơ vụ án có tài liệu là “Giấy bán nhà” do ông Trần Đạo - Đại diện khối trưởng Khu vực 6 cùng 07 tổ trưởng của 07 tổ dân phố thuộc Khu vực 6 lập, ký tên đồng ý bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học cho vợ chồng ông Lê Văn Cung, bà Lê Thị Thu; giấy bán nhà được Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong xác nhận ngày 09/4/1986 và đề nghị Ban công trình công cộng và Ủy ban nhân dân thị xã Quy Nhơn xem xét. Ông Đạo có lời khai cho rằng, bà Nhân bán nhà đất số 2 Nguyễn Thái Học cho ông Hồ Đông Sơn, sau đó ông Sơn giao lại cho ông; việc bán nhà là do Đảng ủy phường chỉ đạo và được Ủy ban nhân dân phường đồng ý.

Theo ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong và các ông tổ trưởng dân phố Khu vực 6 (đã ký giấy bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học cho ông Cung, bà Thu) thì số tiền bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học dùng để trả một phần tiền xây dựng nhà mẫu giáo mới của Khu vực 6 đang sử dụng.

Do đó, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần xác minh làm rõ ông Đạo hay ông Sơn là người bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học, số tiền bán nhà dùng để làm gì, có dùng số tiền bán nhà vào việc xây dựng nhà mẫu giáo hiện Khu vực 6 đang sử dụng hay không? Nếu số tiền bán nhà dùng cho việc xây dựng nhà mẫu giáo thì nhà mẫu giáo hiện do ai quản lý, để từ đó xác định ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do việc bán nhà trái pháp luật cho nguyên đơn, ông Vĩnh là người mua nhà số 2 Nguyễn Thái Học ngay tình. Đồng thời cũng cần làm việc với Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn, nếu có thể xem xét hỗ trợ cấp đất mới tương ứng giá trị đất tranh chấp cho nguyên đơn để tập thể không phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn để giải quyết vụ án cho hợp lý.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ Luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2009/DSPT ngày 25/09/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân tối cao tại Đà Nẵng và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2008/DSST ngày 29/07/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Nhân và ông Nguyễn Xuân Lai với bị đơn là ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Lan, bà Nguyễn Thị Xuân Hạnh, bà Nguyễn Thị Xuân Hằng, ông Nguyễn Xuân Long, ông Nguyễn Xuân Diệp, ông Nguyễn Xuân Hùng, bà Nguyễn Thị Xuân Thu, Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn và bà Lê Thị Thu.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ĐỀ XUẤT CÔNG NHẬN LÀM ÁN LỆ

Trong Quyết định giám đốc thẩm đã chỉ ra vấn đề pháp lý có giá trị hướng dẫn xét xử là:

Đối với việc giải quyết tranh chấp về đòi lại tài sản là nhà, đất đã qua nhiều lần mua bán, trong đó mặc dù lần mua bán đầu tiên đã là giao dịch vô hiệu nhưng trong quá trình sử dụng qua nhiều chủ mua bán ngay thẳng, tài sản đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người mua bán sau cùng tài sản đó đã căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì phải xác định người đó là người mua bán tài sản ngay tình.

Cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định:

Ông Vĩnh và Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong cho rằng, vợ cụ Ba lấy tên con gái là Nhân đứng tên ký bán nhà đất đang tranh chấp cho vợ chồng bà Thu, đã giao giấy cụ Ba mua nhà của cụ Cậy cho vợ chồng bà Thu. Do ông Cung đã chết, bà Thu nay không rõ đang sống ở đâu nên không lấy được lời khai. Tuy nhiên, các cơ quan chuyên môn về quản lý nhà đất của Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và ông Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho vợ chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp được giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba. Do đó, không có căn cứ xác định vợ cụ Ba, hoặc bà Nhân đã bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu vực 6. Nay vợ chồng cụ Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này. Nhà của cụ Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là không đúng.

Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp. Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình.”


424
Bản án/Quyết định đang xem

Quyết định giám đốc thẩm 94/2013/GĐ-DS ngày 25/07/2013 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Số hiệu:94/2013/GĐ-DS
Cấp xét xử:Giám đốc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/07/2013
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về